Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy

Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy

ÁNH TRĂNG

I.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

1.Tác giả

- Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948, quê làng Quảng Xá, xã Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa. Năm 1966, ông nhập ngũ vào bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường.

- Nguyễn Duy đã được trao giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972 – 1973 với chùm thơ bốn bài ( Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông ). Từ giải thưởng này, Nguyễn Duy trở thành một gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ và tiếp tục bền bỉ sáng tác.

- Sau năm 1975, ông chuyển về làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ sau năm 1977, Nguyễn Duy là đại diện thường trú báo Văn nghệ tại các tỉnh phía Nam ở thành phố Hồ Chí Minh.

- Tác phẩm chính: Cát trắng ( 1973 ), Ánh trăng ( 1984 ), Mẹ và em ( 1987 0, Đường xa ( 1989 ), Về ( 1994 )

 

doc 4 trang Người đăng honghoa45 Ngày đăng 11/04/2020 Lượt xem 117Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy 
ÁNH TRĂNG
I.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
1.Tác giả
- Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948, quê làng Quảng Xá, xã Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa. Năm 1966, ông nhập ngũ vào bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường.
- Nguyễn Duy đã được trao giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972 – 1973 với chùm thơ bốn bài ( Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông ). Từ giải thưởng này, Nguyễn Duy trở thành một gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ và tiếp tục bền bỉ sáng tác.
- Sau năm 1975, ông chuyển về làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ sau năm 1977, Nguyễn Duy là đại diện thường trú báo Văn nghệ tại các tỉnh phía Nam ở thành phố Hồ Chí Minh.
- Tác phẩm chính: Cát trắng ( 1973 ), Ánh trăng ( 1984 ), Mẹ và em ( 1987 0, Đường xa ( 1989 ), Về ( 1994 )
2.Hoàn cảnh ra đời 
- Bài thơ Ánh trăng được viết năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh , in trong tập Ánh trăng – tập thơ của Nguyễn Duy được giải A của Hội nhà văn Việt Nam năm 1984
- Nguyễn Duy viết bài thơ này khi cuộc kháng chiến đã khép lại được ba năm. Ba năm sống trong hòa bình, không phải ai cũng còn nhớ những gian khổ và kỉ niệm nghĩa tình trong quá khứ. Nguyễn Duy viết bài thơ Ánh trăng như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình với chính mình, với mọi người về lẽ sống thủy chung, ân tình.
II.Phân tích bài thơ
1.Bố cục bài thơ
a.Bài thơ là tâm trạng của tác giả được kể theo trình tự thời gian
- Ba khổ đầu: Kể về sự gắn bó của tác giả với vầng trăng
- Khổ thứ tư: Sự xuất hiện của vầng trăng
- Hai khổ cuối: Cảm xúc và suy tư lặng lẽ của tác giả
b.Bài thơ là sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình
- Dòng cảm nghĩ trữ tình của nhà thơ cũng men theo dòng tự sự này mà bộc lộ. ở quãng thời gian quá khứ đã có một biến đổi, một sự thực đáng chú ý: hồi nhỏ rồi hồi chiến tranh sống hồn nhiên, gần gũi với thiên nhiên đến tưởng không bao giờ quên “ cái vầng trăng tình nghĩa”; ấy thế mà “ từ hồi về thành phố” quen sống cùng những tiện nghi hiện đại, vầng trăng tình nghĩa đã “ như người dưng qua đường”
-Trong dòng diễn biến theo thời gian, sự việc bất thường ở khổ thơ thứ tư chính là bước ngoặt để từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ đề tác phẩm. Vầng trăng tròn ở ngoài kia, trên kia đối lập với “ phòng buyn đinh tối om”. Chính vì xuất hiện đột ngột trong bối cảnh ấy, vầng trăng bất ngờ mà tự nhiên gợi lại bao kỉ niệm nghĩa tình.
2.Hình ảnh vầng trăng và cảm xúc của nhà thơ: Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ là một hình tượng đa nghĩa
a.Trước hết, vầng trăng là một hình ảnh của thiên nhiên khoáng đạt, hồn nhiên tươi mát. 
- Trong hai khổ thơ đầu, vầng trăng hiện ra trong không gian của ruộng đồng, sông biển, núi rừng. Đó là vầng trăng của “ hồi nhỏ sống với đồng” và sau này là “ hồi chiến tranh ở rừng”. Lúc ấy, con người sống giản dị “ trần trụi với thiên nhiên – hồn nhiên như cây cỏ”. Vầng trăng đã trở thành người bạn tri kỉ, thành “ vầng trăng tình nghĩa” gắn bó trong suốt những năm tháng tuổi ấu thơ ở quê nhà đến hồi chiến tranh sống ở rừng.
- Đến khi về thành phố, sống giữa những tiện nghi hiện đại “ quen ánh điện cửa gương”, con người bỗng quên đi cái vầng trăng “ ngỡ không bao giờ quên” kia, bỗng vô tình với “ cái vầng trăng tình nghĩa” kia. Sự vô tình đến mức tàn nhẫn:
Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường.
- Rồi đến một hôm nào đó:
Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn đinh tối om 
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn.
Con người đã quen với đèn điện nên quên trăng. Vầng trăng vẫn còn đó nhưng “ như người dưng qua đường”. Phải đến khi đèn điện tắt, con người mới lại nhìn thấy và nhận ra vầng trăng. Phải đột ngột như thế, phải bất ngờ như thế, vầng trăng mới làm thức dậy trong tâm trí con người bao cảm xúc.
Ngửa mặt nên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng.
“ Ngửa mặt lên nhìn mặt”, 
mặt người và mặt trăng đối diện nhau. Đó là khoảnh khắc bất ngờ gặp lại cố nhân. Khoảng khắc gặp gỡ bất ngờ đó khiến hồn người rưng rưng cảm xúc. Vầng trăng làm ùa dậy trong tâm trí những những hình ảnh của thiên nhiên, của quê hương đất nước.
b.Vầng trăng trong bài thơ còn có ý nghĩa biểu tượng: biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, biểu tượng cho vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của đời sống
Vầng trăng đâu chỉ làm ùa dậy trong tâm trí những hình ảnh của thiên nhiên, của quê hương đất nước, mà còn đánh thức trong tâm trí con người bao kỉ niệm hồn nhiên của thời tuổi nhỏ, bao kỉ niệm nghĩa tình của một thời gian lao chiến đấu.
Khổ thơ cuối cùng là nơi tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng:
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc 
đủ cho ta giật mình
Mặc cho con người vô tình “ trăng cứ tròn vành vạnh”. Đó là hình ảnh tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. “ ánh trăng im phăng phắc” – phép nhân hóa khiến hình ảnh vầng trăng hiện ra như một con người cụ thể, một người bạn, một nhân chứng, rất nghĩa tình nhưng cũng vô tình nghiêm khắc đang nhắc nhở con người đừng quên quá khứ. “ Ánh trăng im phăng phắc” nhưng đủ làm con người “ giật mình” nhận ra sự vô tình không nên có, sự lãng quên đáng trách của mình. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên, nhưng thiên nhiên và nghĩa tình quá khứ thì vẫn vẹn nguyên vĩnh hằng.
3.Nhận xét về kết cấu và giọng điệu của bài thơ.
- Bài thơ như một câu chuyện riêng, có sự kết hợp hài hòa, tự nhiên giữa tự sự và trữ tình.
- Giọng điệu tâm tình bằng thể thơ năm chữ. Nhịp thơ khi thì trôi chảy nhẹ tự nhiên, nhịp nhàng theo lời kể, khi thì ngân nga thiết tha cảm xúc, lúc lại trầm lắng biểu hiện suy tư.
- Kết cấu và giọng điệu của bài thơ có tác dụng làm nổi bật chủ đề, tạo nên tính chân thực, chân thành, sức truyền cảm sâu sắc cho tác phẩm, gây ấn tượng mạnh ở người đọc
4.Nêu chủ đề và khái quát ý nghĩa của bài thơ
- Từ một câu chuyện riêng, bài thơ là lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa đối với thiên nhiên, đất nước, bình dị, hiền hậu.
- Ánh trăng không chỉ là chuyện riêng của nhà thơ, chuyện của một người mà có ý nghĩa với cả một thế hệ ( thế hệ đã từng trải qua những năm tháng dài gian khổ của chiến tranh, từng gắn bó với thiên nhiên, nhân dân tình nghĩa giờ được sống trong hòa bình, được tiếp xúc với nhiều tiện nghi hiện đại ). Hơn thế bài thơ còn có ý nghĩa với nhiều người, nhiều thời bởi nó đặt ra vấn đề thái độ với quá khứ, những người đã khuất và đối với cả chính mình. 
- Ánh trăng nằm trong mạch cảm xúc “ uống nước nhớ nguồn”, gợi lên đạo lí sống thủy chung đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Nguồn: Sưu tầm

Tài liệu đính kèm:

  • docPhan tich bai tho Anh Trang cua Nguyen Duy.doc