PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN DŨNG TRƯỜNG THCS TT NHAM BIỀN SỐ 2 ****** BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TỈNH CHU KỲ 2020-2024 Tên biện pháp: Liên hệ, đối chiếu, mở rộng trong dạy phần văn bản Thơ hiện đại Việt Nam môn Ngữ văn 9 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Họ và tên: Vũ Thị Điều Môn giảng dạy: Ngữ văn Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THCS TT Nham Biền số 2 Nham Biền, ngày 06 tháng 10 năm 2022 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn đang là một vấn đề quan trọng có tính thời sự được nhiều cấp học, bậc học quan tâm. Đặc biệt với đề án đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam thì bộ môn Ngữ văn cũng phải có bước chuyển mình để đáp ứng xu thế đó. Dạy học phần văn bản Thơ hiện đại Việt Nam môn Ngữ văn lớp 9 chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình. Từ các văn bản học sinh sẽ có những ngữ liệu để khai thác những kiến thức thuộc phân môn: Tiếng Việt và Tập làm văn. Đồng thời nắm vững phần văn bản Thơ hiện đại sẽ rất hữu ích để các em làm tốt kiểu bài nghị luận về tác phẩm thơ hoặc đoạn trích. Giúp các em đạt kết quả cao trong các kì thi đặc biệt kì thi vào THPT. Vậy làm thế nào để dạy phần văn bản thơ hiện đại Việt Nam Ngữ văn 9 thành công và chất lượng bài viết của học sinh được nâng lên? Tôi nghĩ việc mở rộng, liên hệ, đối chiếu cần vận dụng tốt. Vì lẽ đó mà tôi đã thực hiện giải pháp: Liên hệ, đối chiếu, mở rộng trong dạy phần văn bản Thơ hiện đại Việt Nam môn Ngữ văn 9 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng công tác dạy và học môn Ngữ văn ở đơn vị Để đánh giá thực trạng: Liên hệ, đối chiếu, mở rộng trong giảng dạy và học môn Ngữ văn tôi tiến hành khảo sát 07 giáo viên, 65 HS trong trường. Kết quả thu được: Bảng 1.1. Tổng hợp đánh giá thực trạng giáo viên và tích hợp liên hệ, đối chiếu, mở rộng trong dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh . Đối tượng giáo viên GV tham Đánh giá gia ý kiến Câu hỏi Nội dung Tốt, SL % % khá Đại học 7 100 7 100 Trình độ Cao đẳng 0 0 0 0 Số năm Trên 10 năm 5 71.4 5 71.4 giảng dạy Từ 5 đến dưới 10 năm 1 14.3 1 14.3 Dưới 5 năm 1 14.3 1 14.3 Giáo viên đã áp dụng tích hợp trong 7 100 3 42.8 dạy - học. Tích hợp trong dạy Hình thức tích hợp ngang. 7 100 3 42.8 học Hình thức tích hợp dọc. 7 100 3 42.8 Tích hợp ngoài môn Văn 7 100 2 28.6 Vận dụng linh hoạt các PP, KTDH PPDH, tích cực, dạy học theo hướng phát 7 100 3 42.8 KTDH triển năn lực HS Sử dụng liên hệ, đối chiếu, mở rộng Liên hệ, 7 100 3 42.8 đối chiếu, trong các văn bản thơ. mở rộng Sử dụng liên hệ, đối chiếu, mở rộng trong dạy 7 100 3 42.8 trong dạy một số văn bản văn bản thơ hiện đại Không sử dụng liên hệ, đối chiếu, 0 0 0 0 Việt Nam. mở rộng trong dạy văn bản Bảng 1.2. Thực trạng về khả năng liên hệ, mở rộng trong các tác phẩm thơ hiện đại của học sinh. Đối tượng học sinh Điểm Điểm Tổng 6,0 - <6,5 6,5 - <8,0 Nội dung SL % SL % SL % Số học sinh chỉ cảm nhận nội dung, 23 65.7 12 34,3 35 53.8 nghệ thuật trong khổ thơ Số học sinh cảm nhận khổ thơ và biết 2 20 8 80 10 15.4 liên hệ, so sánh, mở rộng Điểm tốt (8 điểm trở lên) 0 0 0 0 4 6.1 Điểm khá (6,5- dưới 8 điểm) 0 0 12 18.5 12 18.5 Điểm trung bình (5 - dưới 6,5 điểm) 38 58.5 Điểm yếu (dưới 5 điểm) 0 0 0 0 11 16.9 Qua bảng 1.1, 1.2 cho thấy: 1. Ưu điểm - Về phía giáo viên: Hiện nay các đồng chí giáo viên môn Ngữ văn trong nhà trường đều có trình đạt chuẩn. Đa số giáo viên có kinh nghiệm trong giảng dạy đã có nhiều thay đổi trong việc sử dụng các PPDH, KTDH vào việc tổ chức các hoạt động dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực; chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học; dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Giáo viên đã áp dụng tích hợp trong dạy học môn Ngữ văn trong đó có sử dụng liên hệ, đối chiếu, mở rộng ở một số văn bản chiếm tỉ lệ cao, đã tạo ra hứng thú học tập cho học sinh đồng thời mở rộng vốn hiểu viết về văn học cho các em. - Về phía học sinh: đa số các em học sinh được sự quan tâm của gia đình nên có điều kiện học tập tương đối tốt. Môi trường, điều kiện vật chất của nhà trường hiện nay được đảm bảo hơn như: Trường lớp kiên cố, trang thiết bị khá đầy đủ, nhiều phương tiện hỗ trợ học tập học sinh được tiếp cận với nhiều nguồn tư liệu tham khảo để phục vụ cho việc học tập. Các em cũng đã tiếp cận PP học tập mới, tích cực, chủ động trong các hoạt động học tập. 2. Hạn chế và nguyên nhân 2.1. Giáo viên: Tuy nhiên, ta còn thấy tỉ lệ giáo viên tích hợp trong tất cả các văn bản, đạt mức khá tốt khi liên hệ, mở rộng, so sánh còn không cao. Đồng thời qua dự giờ tôi cũng nhận thấy: trong một giờ dạy, giáo giáo viên ít liên hệ, mở rộng, đối chiếu các chi tiết, hình ảnh, đề tài trong cùng một tác phẩm hoặc với các hình ảnh, chi tiết, đề tài trong tác phẩm khác, tác giả khác hoặc có sự liên hệ, mở rộng, đối chiếu nhưng còn mang tính hình thức, dẫn ra cho có, thậm chí có giáo viên không liên hệ, đối chiếu mở rộng. Nguyên nhân của việc này là do giáo viên chưa chú trọng đến việc này, thiết kế bài dạy với các hoạt động học tập chưa phù hợp để dành thời gian cho HS liên hệ, mở rộng, đối chiếu. Như vậy từ thực tế quan sát và điều tra đã đặt nhiều câu hỏi cho vấn đề tích hợp, trong đó có việc áp dụng liên hệ, đối chiếu, mở rộng trong dạy học văn bản. 2.2. Học sinh. Trong xu thế phát triển của xã hội thời kinh tế thị trường, một thực trạng đáng buồn là nhiều học sinh cũng như phụ huynh học sinh đều tỏ ra coi thường, lơ là, không thích học các môn khoa học xã hội, trong đó có bộ môn Ngữ văn. Theo bảng 1.2, tỉ lệ học sinh yêu thích môn học (60%) cao hơn học sinh không yêu thích môn học (40%) nhưng tỉ lệ không thích học môn Ngữ văn ở đối tượng học lực trung bình cao hơn học sinh yêu thích môn học và tỉ lệ nghịch với đối tượng học sinh có học lực khá. Nhiều em học sinh học tập một cách thụ động, quen nghe, quen chép, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những gì giáo viên đã giảng. Đa phần học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học, lười suy nghĩ. Chỉ biết suy nghĩ diễn đạt bằng những ý vay mượn, bằng những lời có sẵn, lẽ ra phải làm chủ tri thức thì lại trở thành nô lệ của sách vở. Theo số liệu điều tra trên, ta thấy số học sinh biết liên hệ mở rộng thấp (dưới 35%) chứng tỏ việc liên hệ, mở rộng trong các tác phẩm đối với học sinh còn nhiều hạn chế, học sinh mới chỉ dừng lại ở việc hiểu nội dung, ý nghĩa của các chi tiết hình ảnh, các nội dung trong một khổ thơ, đoạn văn hay một văn bản mà ít hoặc không có sự so sánh, đối chiếu, liên hệ, mở rộng với các chi tiết, hình ảnh, nội dung, đề tài giữa các khổ thơ trong một bài thơ, giữa các đoạn văn trong văn bản hay giữa các văn bản có chung đề tài. Vì vậy nên bài làm của học sinh còn hời hợt, chưa sâu sắc, kết quả còn thấp. II. Biện pháp Bảng 2.1. Hệ thống các văn bản Thơ trong chương trình Ngữ Văn 9. STT Bài dạy Tác giả 1 Đồng chí Chính Hữu 2 Bài thơ về tiểu đội xe không kính Phạm Tiến Duật 3 Đoàn thuyền đánh cá Huy Cận 4 Bếp lửa Bằng Việt 5 Ánh trăng Nguyễn Duy 6 Mùa xuân nho nhỏ Thanh Hải 7 Viếng Lăng Bác Viễn Phương 8 Sang thu Hữu Thỉnh 9 Nói với con Y Phương Môn Ngữ văn lớp 9 năm học trước bao gồm 9 văn bản Thơ hiện đại Việt Nam, các văn bản thuộc các thể loại khác nhau: Việc liên hệ, đối chiếu, mở rộng đều có thể áp dụng ở tất cả các thể loại. 1. Biện pháp 1: Thực hiện các bước tiến hành để liên hệ, đối chiếu, mở rộng. - Bước 1: Xây dựng kế hoạch, chương trình dạy học. Ngay từ đầu năm học khi xây dựng chương trình, kế hoạch dạy học, người giáo viên cần chủ động xây dựng kế hoạch tích hợp các nội dung trong giảng dạy phần văn bản theo quy ước, hoặc kế hoạch riêng của mình, để đến nội dung cụ thể từng bài sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc tích hợp. - Bước 2: Sưu tầm tài liệu. Giáo viên có ý thức đọc, nghiên cứu, sưu tầm tài liệu trong quá trình giảng dạy hàng năm, bổ sung thêm thông tin khi mở rộng, liên hệ với một tài liệu mới. - Bước 3: Thiết kế, xây dựng giáo án cho từng bài cụ thể. Giáo viên phải lựa chọn hình thức để thể hiện nội dung tích hợp phù hợp: + Đặt những câu hỏi trong các phiếu học tập và yêu cầu học sinh tìm nội dung tích hợp, liên hệ , mở rộng theo yêu cầu của giáo viên. + Giáo viên dự kiến những nội dung tích hợp trong trường hợp học sinh không có câu trả lời hoặc chưa tốt, chưa hay. + Giáo viên bổ sung trong phần bình giảng, vừa giúp bài giảng lôi cuốn, hấp dẫn, vừa mở rộng được vấn đề lại cung cấp thêm thông tin, tư liệu cần thiết cho học sinh. 2. Biện pháp 2: Thực hành vận dụng việc liên hệ, mở rộng, đối chiếu trong các hoạt động dạy học. Giáo viên có thể liên hệ, đối chiếu từ hoạt động mở đầu, hoạt động hình thành kiến thức khai thác, phân tích, bình giảng các hình ảnh, chi tiết nghệ thuật làm nổi bật nội dung, cả đến khi tổng kết, luyện tập, vận dụng và hướng dẫn học sinh tự học ở nhà. Việc liên hệ, đối chiếu, mở rộng phải có sự chọn lọc, vừa đủ, không đưa quá nhiều làm loãng bài dạy, phản tác dụng. 2.1. Liên hệ, mở rộng đối chiếu ngay từ hoạt động mở đầu Vận dụng một số bài hát, bài thơ có cùng nội dung, chủ đề để vào bài. VD1: Văn bản: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” - Phạm Tiến Duật. Giáo viên đưa ra một đoạn thơ và yêu cầu HS nêu cảm nhận ngắn gọn của em về nội dung đoạn đó: Bài ca lái xe đêm -Tố Hữu Xe ta băng qua muôn dặm đường Xe ta băng qua bao núi đèo, đồi nương Xe ta băng qua bao chiến trường Xe ơi cùng ta bay Dù mưa bom bão đạn Ta lấy đêm làm ngày Ta cùng cây làm bạn Hoặc một đoạn trong bài Lá đỏ - Nguyễn Đình Thi Gặp em trên cao lộng gió Rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ Đoàn quân vẫn đi vội vã Bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa Qua đó gợi lại cho HS không khí của thời đại lúc bấy giờ để vào bài, đồng thời tạo tâm thế để học sinh tiếp thu bài một cách tốt hơn. VD2: Văn bản: “Sang thu” - Hữu Thỉnh Giáo viên dùng câu hỏi tạo tình huống: Giáo viên trình chiếu một số hình ảnh tiêu biểu về mùa thu (lá vàng rơi, cốm - lá sen vàng - cúc nở hoa) ? Những hình ảnh trên, giúp em liên tưởng tới mùa nào trong năm? Em hãy kể tên một số bài thơ viết về mùa thu mà em biết? - Học sinh kể, giáo viên giới thiệu dẫn dắt: Phần giới thiệu bài mới giáo viên có thể liên hệ những hình ảnh về mùa thu của các thi nhân xưa và nay để học sinh thấy rất nhiều nhà thơ đã viết về đề tài này, mỗi nhà thơ lại có sự cảm nhận khác nhau về mùa thu. Nếu Nguyễn Khuyễn trong chùm thơ thu nổi tiếng luôn đưa vào thơ một sắc trời xanh biếc, nước hồ xanh, ngõ trúc, lá vàng . Lưu Trọng Lư lãng mạn hơn với hình ảnh: Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô Xuân Quỳnh đưa vào mùa thu một hình ảnh đặc trưng, ước lệ: Mùa thu vàng hoa cúc Trần Hòa Bình thì: Thêm một chiếc lá rụng Thế là thành mùa thu Hữu Thỉnh lại chọn một hương sắc thật dân dã, mộc mạc, rất riêng: Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về VD 3: Văn bản: “Mùa xuân nho nhỏ” - Thanh Hải Mùa xuân là để tài bất tận của thơ ca. Song, cái cảm nhận về mùa xuân của các nhà thơ theo thời gian có nhiều thay đổi. Đối với Mãn Giác Thiền sư, một cao tăng nổi tiếng thời Lý, mùa xuân mang một tính triết lý sâu sắc: Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một nhành mai Còn đối với những nhà thơ trước cách mạng, mùa xuân gợi lên một nét sầu cảm: Tôi có chờ đâu, có đợi đâu, Mang chi xuân lại gợi thêm sầu. (Chế Lan Viên) Giáo viên có thể cho học sinh nghe ca khúc “Mùa xuân nho nhỏ”- Thanh Hải, nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc. Chúng ta vừa được đắm mình trong những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng của ca khúc “Mùa xuân nho nhỏ” do nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc từ bài thơ cùng tên. Với nhà thơ Thanh Hải, mùa xuân mang một nét đẹp đáng yêu tươi thắm; gợi lên trong lòng người đọc nhiều hình ảnh rạo rực tươi trẻ. Vì thế, mùa xuân trong thơ của Thanh Hải là biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ của quê hương, dân tộc. Tất cả đã được thể hiện rõ nét trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”, một bài thơ đặc sắc được nhà thơ viết không lâu trước khi qua đời. 2.2. Liên hệ, mở rộng, đối chiếu khi tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của bài thơ (phần này tiến hành sau khi HS báo cáo, GV kết luận nhận định) Mục tiêu: Giáo viên liên hệ, mở rộng (bối cảnh lịch sử), đối chiếu (với các tác phẩm ra đời trong cùng thời điểm) khi tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của các tác phẩm văn học nói chung, các văn bản thơ hiện đại lớp 9 nói riêng sẽ giúp HS có cái nhìn đa chiều, có sự hiểu biết sâu sắc hơn về văn bản. Từ đó, HS có cách tiếp nhận, hiểu đúng về quan điểm, cách nhìn, suy ngẫm, dụng ý của tác giả. Các bước tiến hành cụ thể: - Bước 1: Giáo viên sưu tầm, tìm hiểu chi tiết về hoàn cảnh chung (hoàn cảnh lịch sử của đất nước) và hoàn cảnh riêng (hoàn cảnh của bản thân tác giả) dẫn tới sự ra đời của bài thơ. - Bước 2: Giáo viên mở rộng, liên hệ với kiến thức của môn Lịch sử (nếu học sinh chưa giới thiệu được): VD1: Văn bản “Đồng chí”: - GV: Bài thơ “Đồng chí” được sáng tác trong hoàn cảnh nào? - HS trả lời: Bài thơ viết đầu năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (Thu đông 1947), đặt ở đầu tập thơ: Đầu súng trăng treo. - GV nhận xét và liên hệ với hoàn cảnh lịch sử: Bài thơ “Đồng chí”, sáng tác vào đầu năm 1948, sau khi Chính Hữu đã cùng đồng đội tham gia chiến dịch Thu đông 1947, đánh bại cuộc tấn công quy mô lớn của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc. Khi đó, dân tộc ta đói nghèo, thiếu thốn trăm bề. Đúng như lời nhà thơ đã kể: "Tôi bị ốm, sốt rét ác tính, nhưng không có thuốc men gì cả. Đơn vị vẫn hành quân và để lại một đồng chí chăm sóc tôi. Không có đồng chí đó có lẽ tôi đã bỏ mạng. Sự ân cần của đồng chí đó khiến tôi nhớ đến những lần đau ốm được mẹ, được chị chăm sóc. Đó là những gợi ý đầu tiên cho bài thơ “Đồng chí„ (Tác giả nói về tác phẩm, NXB Trẻ, 2000). Như vậy, việc giáo viên liên hệ, mở rộng về hoàn cảnh ra đời của bài thơ với bối cảnh lịch sử chung của dân tộc cũng như hoàn cảnh riêng khi bài thơ được ra đời đã góp phần không nhỏ giúp học sinh hiểu được những khó khăn, thiếu thốn về vật chất mà những người lính cụ Hồ trong buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp đã trải qua đồng thời phần nào cũng cảm nhận được sức mạnh của tình đồng chí nồng ẩm trở thành một trong những nhân tố giúp họ vượt qua gian lao, thử thách khắc nghiệt. VD 2: Văn bản “ Mùa xuân nho nhỏ”- Thanh Hải: - GV: Những hiểu biết của em về hoàn cảnh ra đời của bài thơ? - HS: Bài thơ được sáng tác năm 1980. - GV: nhận xét mở rộng thông tin về hoàn cảnh ra đời của bài thơ: Bài thơ ra đời tháng 11/1980, lúc này, đất nước đã thống nhất và đang xây dựng cuộc sống mới với muôn ngàn khó khăn thử thách. Đây cũng là thời điểm rất đặc biệt đối với nhà thơ Thanh Hải. Ông đang bị bệnh nặng phải điều trị ở bệnh viện Trung ương thành phố Huế và một tháng sau ông qua đời. Do đó, có hiểu cho hoàn cảnh của nhà thơ trên giường bệnh ta mới thấy hết được tấm lòng tha thiết với cuộc sống, với quê hương đất nước của nhà thơ. Tóm lại, trong quá trình tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của mỗi văn bản, GV cần có sự liên hệ, mở rộng về thời điểm ra đời của bài thơ. Đặc biệt là những văn bản được ra đời trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt thì nhiệm vụ liên hệ, mở rộng của giáo viên sẽ trở thành một yêu cầu bắt buộc. Tuy nhiên, trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của mỗi văn bản thơ, giáo viên cần linh hoạt khi liên hệ, mở rộng cho phù hợp, tránh sa đà sang kiến thức của Lịch sử nhiều sẽ làm mất đặc trưng của bộ môn Ngữ văn. 2.3. Liên hệ, mở rộng, đối chiếu khi tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của văn bản. Khi phân tích, tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của văn bản, giáo viên biên soạn sẵn những câu hỏi để học sinh nhớ lại, liên hệ, đối chiếu với các tác giả, các tác phẩm khác cùng viết về đề tài hoặc lời bình giảng để liên hệ, mở rộng, đối chiếu giúp học sinh hứng thú hơn với bài giảng, đồng thời tạo độ sâu cho bài giảng, cung cấp thêm dẫn chứng, tư liệu để học sinh hiểu bài. VD1: Văn bản: “Đoàn thuyền đánh cá” - Huy Cận Bài thơ là một bài ca lao động của những người làm chủ đất nước trong niềm hân hoan, náo nức. Ta có thể giới thiệu thêm một vài đoạn thơ ra đời cùng thời điểm và cùng đề tài: Con người mới và cuộc sống mới xây dựng CNXH ở miền Bắc: Vui biết mấy những con người đi tới Hai cánh tay như hai cánh bay lên Ngực dám đón những phong ba dữ dội Chân đạp bùn không sợ các loài sên ( Tố Hữu ) Dân có ruộng, dập dìu hợp tác Lúa mượt đồng ấm áp làng quê Chiêm, mùa cờ đỏ ven đê Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn ( Tố Hữu ) VD2: Văn bản: “Bếp lửa” - Bằng Việt Khi tìm hiểu về tình bà cháu trong bài thơ, giáo viên có thể liên hệ với bài thơ cùng đề tài như: Cánh cửa nhớ bà của Đoàn Thị Lam Luyến: Ngày cháu còn thấp bé Cánh cửa có hai then Cháu chỉ cài then dưới Nhờ bà cài then trên Nay cháu về nhà mới Bao cánh cửa - ô trời Mỗi lần tay mở cửa Lại nhớ bà không nguôi Hoặc bên cạnh bài thơ Bà ơi! của Hồ Cẩm Sa: Cuộc đời tuy chật vật Nhưng tâm hồn thảnh thơi Bởi bóng bà luôn tỏa Che đời cháu, bà ơi! VD3. Văn bản: “Đồng chí” - Chính Hữu: Để nói về hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn, gian lao của các chiến sĩ trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp mà Chính Hữu đã viết: Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau nắm lấy bàn tay Trong một bài thơ khác tác giả cũng viết: Rách tả tơi rồi đôi hài vạn dặm Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa Hoặc liên hệ với những câu thơ của tác giả khác có cùng nội dung: Lột sắt đường tàu Rèn thêm dao kiếm Áo vải chân không Đi lùng giặc đánh (Nhớ - Hồng Nguyên) Hoặc: Hồn còn dõi theo bóng cờ bay Nhìn lại chân không chẳng có giày (Xuân Diệu) Tuy cuộc sống thật gian khổ nhưng chính từ trong những khó khăn ấy, những chiến sĩ càng có điều kiện để gắn bó, sẻ chia, đồng cảm và yêu thương nhau hơn: Đồng đội ta Là hớp nước uống chung, bát cơm sẻ nửa, Là chia nhau một mảnh tin nhà, Chia nhau cuộc đời, Chia nhau cái chết (Giá từng thước đất - Chính Hữu) Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng (Tố Hữu) 3. Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh sử dụng một số hình thức liên hệ, mở rộng, đối chiếu trong môn Ngữ văn phần văn bản Thơ hiện đại Việt Nam. 3.1. Liên hệ, đối chiếu các chi tiết, hình ảnh trong cùng một tác phẩm. HS có sự so sánh, đối chiếu các chi tiết, hình ảnh trong cùng tác phẩm, từ đó thấy được dụng ý nghệ thuật, chủ ý của tác giả, hiểu sâu sắc hơn về từng chi tiết, hình ảnh. VD1: Văn bản: “Viếng lăng Bác” - Viễn Phương Khi tìm hiểu đến khổ cuối bài thơ, học sinh liên hệ, so sánh hình ảnh hàng tre ở khổ đầu bài thơ và hình ảnh cây tre ở khổ cuối bài thơ để hiểu về hình ảnh thơ này và làm cho bài viết thêm sâu sắc. Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng Nếu ở khổ đầu bài thơ, tre là hình ảnh tượng trưng cho tình đoàn kết, cho khí thái hiên ngang, bất khuất và dũng cảm chiến đấu với kẻ thù của người Việt Nam. Tre luôn đứng thẳng như con người Việt Nam thà chết chứ không chịu sống quỳ. Biểu tượng đẹp đẽ ấy được nhà thơ chọn lọc miêu tả quanh lăng Bác ở khổ thơ đầu tiên của bài thơ, như cả dân tộc Việt Nam vẫn đang sát cánh bên Bác. Hàng tre Việt Nam ấy, phải chăng là hình ảnh của những người con Việt Nam đang quây quần bên vị cha già đáng kính đang đi vào giấc ngủ an lành? Hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa biết bao! Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này Đến khổ thơ cuối cùng của bài, nhà thơ thể hiện khát vọng, mong ước của mình: muốn hóa thân thành những hình ảnh đẹp nhất của thiên nhiên đất nước để dâng lên cho Bác. Nhà thơ muốn làm con chim cất lên tiếng hót mê say, muốn làm đóa hoa tỏa hương cho đời. Và thật cao đẹp biết bao khi nhà thơ muốn hóa thân làm cây tre trung hiếu, trong muôn ngàn cây tre quanh lăng Bác, để được ở mãi bên Bác. Hình tượng tre được chuyển hóa: khổ thơ đầu là hàng tre, khổ thơ cuối là cây tre. Nghĩa là muốn hóa thân thành một cây tre trong hàng tre kia để luôn được ở bên Bác. Hình ảnh cây tre ở khổ thơ thứ nhất được lặp lại trong khổ thơ cuối tạo nên kết cấu đầu cuối tương ứng, giúp hoàn thiện biểu tượng cây tre Việt Nam. Nếu ở khổ thơ thứ nhất, tre là hình ảnh tượng trưng cho phẩm chất kiên cường, bất khuất; thì ở khổ thơ cuối, hình ảnh cây tre được lặp lại nhưng là để tượng trưng cho phẩm chất trung hiếu. Cây tre đã trở thành biểu tượng toàn vẹn cho phẩm chất của con người và dân tộc Việt Nam. VD 2: Văn bản: “Mùa xuân nho nhỏ” - Thanh Hải: Học sinh liên hệ, so sánh, đối chiếu hình ảnh con chim, cành hoa, nốt trầm ở đầu và cuối văn bản: Mở đầu bài thơ, tác giả đã phác họa nên một bức tranh xuân của thiên nhiên, đất nước giản dị mà tươi đẹp: Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện Hót chim mà vang trời “Dòng sông xanh” gợi nhắc hình ảnh những khúc sông uốn lượn của dải đất miền Trung quanh co, đó có thể là dòng sông Hương thơ mộng, một vẻ đẹp lắng đọng của xứ Huế mộng mơ. Trên gam màu xanh lơ của dòng sông thơ mộng, nổi bật lên hình ảnh “một bông hoa tím biếc”. Không phải màu vàng rực rỡ của hoa mai, cũng không phải màu đỏ thắm của hoa đào, mùa xuân của Thanh Hải mang một sắc thái bình dị với màu tím biếc của bông hoa lục bình. Đây là một hình ảnh mang đậm màu sắc của cố đô Huế. Trong bức tranh mùa xuân của Thanh Hải, không chỉ có hình ảnh, mà còn có âm thanh xao xuyến, ngân nga của con chim chiền chiện. Tiếng chim lảnh lót vang lên làm xao động cả đất trời, làm xao xuyến cả tâm hồn thi sĩ nhạy cảm của nhà thơ. Nhà thơ bỗng nhận ra vẻ đẹp lạ kì của mùa xuân, vẻ đẹp của quê hương đất nước. Đến khổ thơ gần cuối bài, những hình ảnh quen thuộc đó lại được lặp lại một nữa: Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến “Ta làm” là điệp ngữ vang lên ở đầu các câu thơ như một sự khẳng định những ước nguyện chính đáng, cao đẹp thể hiện tâm hồn khát khao được làm việc, được cống hiến nhiều nhất cho cuộc đời. Hình ảnh đối ứng lặp lại ở đầu bài thơ “con chim”, “cành hoa”, “nốt trầm”. Nếu ở đầu bài thơ “con chim”, “cành hoa”... là biểu tượng đẹp đẽ của mùa xuân, thiên nhiên, vẻ đẹp xứ Huế. Thì ở khổ thơ này những hình ảnh đó là những mong ước cụ thể của nhà thơ được góp cái gì đó dù nhỏ bé nhưng có ích cho cuộc đời chung. Là con chim hãy mang lại những âm thanh vang vọng, những tiếng hót vui say lòng người. Là cành hoa hãy toả ngát hương thơm. Là nốt nhạc, nốt trầm trong bản nhạc nhưng không thể thiếu giàn hợp xướng, trong bản hoà ca. 3.2. Liên hệ, đối chiếu với các tác phẩm trong cùng tác giả. VD 1: Văn bản: “Đồng chí” - Chính Hữu. Nói về những thiếu thốn, khó khăn, gian lao của các chiến sĩ trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Chính Hữu đã viết: Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau nắm lấy bàn tay HS đối chiếu với câu thơ của chính tác giả trong một bài thơ khác: Rách tả tơi rồi đôi hài vạn dặm Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa ( Ngày về - Chính Hữu) Tuy cùng viết về hình ảnh người lính tham gia cách mạng nhưng ở những thời điểm khác nhau, hoàn cảnh lịch sử khác nhau, tác giả Chính Hữu đã có thêm những phát hiện mới mẻ, thú vị về họ: từ những người chiến sĩ mang vẻ đẹp lãng mạn, mang dáng dấp của những anh hùng xưa trong “Ngày về”- 1947, họ đã trở thành những người lính chân chất, mộc mạc, gần gũi....không thi vị hóa, lãng mạn hóa những khó khăn, gian khổ, thiếu thốn. Qua đó ta thấy được sự trưởng thành mang đậm phong cách lính của nhà thơ. Những câu thơ trên của Chính Hữu đã giúp người đọc cảm nhận sâu sắc về những khó khăn, gian khổ, thiếu thốn mà những người lính cách mạng trong buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp phải trải qua. Một lần nữa, người đọc gặp lại những khó khăn, thiếu thốn của người lính qua những câu thơ trong bài thơ “ Giá từng thước đất” của Chính Hữu: Đồng đội ta Là hớp nước uống chung, bát cơm sẻ nửa, Là chia nhau một mảnh tin nhà, Chia nhau cuộc đời, Chia nhau cái chết Từ những câu thơ trên, ta càng cảm nhận rõ hơn về những gian khó mà những người lính phải vượt qua. Nhưng có lẽ những gian khó ấy là điều kiện để các chiến sĩ ngày càng gắn bó, sẻ chia, đồng cảm và yêu thương nhau hơn. 3.3. Liên hệ, đối chiếu với các tác giả khác, các văn bản, tác phẩm khác có cùng đề tài. VD 1. Văn bản: “Đồng chí” - Chính Hữu. Khi viết về cảnh thiếu thốn, khó khăn, gian lao của các chiến sĩ trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp HS liên hệ những câu thơ của tác giả khác có cùng nội dung: Lột sắt đường tàu Rèn thêm dao kiếm Áo vải chân không Đi lùng giặc đánh (Nhớ - Hồng Nguyên) Hoặc: Hồn còn dõi theo bóng cờ bay Nhìn lại chân không chẳng có giày (Xuân Diệu) Tuy cuộc sống thật gian khổ nhưng chính từ trong những khó khăn ấy, những chiến sĩ càng có điều kiện để gắn bó, sẻ chia, đồng cảm và yêu thương nhau hơn: Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng (Tố Hữu) VD 2. Văn bản: “Đoàn thuyền đánh cá” - Huy Cận. Bài thơ là một bài ca lao động của những người làm chủ đất nước trong niềm hân hoan, náo nức. Ta đã bắt gặp những con người mới và cuộc sống mới xây dựng CNXH ở miền Bắc ở những vần thơ của Tố Hữu: Vui biết mấy những con người đi tới Hai cánh tay như hai cánh bay lên Ngực dám đón những phong ba dữ dội Chân đạp bùn không sợ các loài sên ( Tố Hữu ) Dân có ruộng, dập dìu hợp tác Lúa mượt đồng ấm áp làng quê Chiêm, mùa cờ đỏ ven đê Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn ( Tố Hữu ) VD 3. Văn bản: “Bếp lửa” - Bằng Việt. Tình bà cháu thiêng liêng, nồng cháy luôn sưởi ấm cõi lòng của đứa cháu trong suốt cuộc đời. Cũng như Bằng Việt, Đoàn Thị Lam Luyến cũng có lời thơ về kỉ niệm tình bà trong Cánh cửa nhớ bà: Ngày cháu còn thấp bé Cánh cửa có hai then Cháu chỉ cài then dưới Nhờ bà cài then trên Nay cháu về nhà mới Bao cánh cửa - ô trời Mỗi lần tay mở cửa Lại nhớ bà không nguôi Hay bài thơ Bà ơi! của Hồ Cẩm Sa: Cuộc đời tuy chật vật Nhưng tâm hồn thảnh thơi Bởi bóng bà luôn tỏa Che đời cháu, bà ơi! VD 4. Văn bản: “Mùa xuân nho nhỏ” - Thanh Hải. Khát khao được cống hiến cho đời của nhà thơ Thanh Hải chân thành, giản dị biết bao. Một lần nữa, ta gặp lại ước nguyện ấy trong bài thơ “ Chào xuân 67- Tố Hữu” qua những câu thơ: Nếu được làm hạt giống để mùa sau Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa Vui gì hơn làm người lính đi đầu Trong đêm tối tim ta thành ngọn lửa” Nhà thơ Viễn Phương cũng đồng tình như thế: Nửa mái đầu chớm bạc Còn gì cho quê hương Thân xin làm chiếc lá Thân xin làm hạt sương. (Còn gì cho quê hương) Qua đó, các em sẽ hiểu hơn những khát vọng sống thật cao đẹp, sống có ích, để cống hiến cho cuộc đời của các thế hệ cha anh đi trước. Là thế hệ kế bước đi sau, chúng ta hãy nỗ lực cống hiến sức mình cho công cuộc dựng xây đất nước, mỗi chúng ta sẽ nguyện làm “Một mùa xuân nho nhỏ” để góp vào mùa xuân rộng lớn của đất nước . PHẦN C. MINH CHỨNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA GIẢI PHÁP Để kiểm nghiệm hiệu quả của giải pháp đã đề xuất, tôi tiến hành xin ý kiến của 10 giáo viên ở trong và ngoài trường. Kết quả cho thấy: Mức độ Cần thiết Khả thi Rất Không Rất Cần Khả Không Biện pháp cần cần khả thiết thi khả thi thiết thiết thi Hệ thống lại các văn SL 7 3 0 8 2 0 bản thơ hiện đại trong chương trình Ngữ % 70 30 0 80 20 0 Văn 9. Xây dựng các bước SL 5 5 0 6 4 0 tiến hành để liên hệ, đối chiếu, mở rộng. % 50 50 0 60 40 0 Vận dụng việc liên SL 5 4 1 5 5 0 hệ, mở rộng, đối chiếu trong từng % 50 40 10 50 50 0 phần, từng bài cụ thể. HS vận dụng các hình SL 7 2 1 7 2 1 thức liên hệ, mở rộng, đối chiếu. % 70 20 10 70 20 10 Như vậy qua bảng số liệu trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy số lượng giáo viên đồng tình với những ý kiến, đề xuất và giải pháp tôi đã đề ra trong sáng kiến chiếm tỉ lệ rất cao. Các ý kiến đồng quan điểm về việc cần hệ thống lại các văn bản thơ hiện đại được học trong chương trình Ngữ Văn 9; cần xây dựng các bước tiến hành để liên hệ, đối chiếu, mở rộng; cần vận dụng việc liên hệ, mở rộng, đối chiếu trong từng phần, từng bài cụ thể; cần hướng dẫn HS vận dụng các hình thức liên hệ, mở rộng, đối chiếu khi tìm hiểu và viết bài về các văn bản thơ hiện đại. Sau thời gian áp dụng vào giảng dạy các năm gần đây, cụ thể năm học 2016- 2017, 2017-2018, 2020-2021, 2021-2022, tôi nhận thấy bản thân tự tin, chủ động hơn khi dạy các tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam. Học sinh tích cực học tập và tham gia nhiệt tình vào các hoạt động học tập, mạnh dạn trao đổi những vấn đề đã biết, chưa biết với nhau trong nhóm; không khí lớp học sôi nổi; phát huy được năng lực tư duy, hợp tác, sáng tạo; đặc biệt chất lượng thực hành tập làm văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ tốt hơn nhiều. Cuối năm học 2021-2022, tôi cũng đã khảo sát với sự tham gia của 66 học sinh lớp 9A1, 9A3 trường THCS TT Nham Biền số 2. Đề bài: Viết đoạn văn cảm nhận về một câu thơ hoặc đoạn thơ em thích nhất.
Tài liệu đính kèm: