Báo cáo biện pháp Liên hệ, đối chiếu, mở rộng trong dạy phần văn bản Thơ hiện đại Việt Nam môn Ngữ văn 9 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh

docx 24 trang Người đăng Đào Hoa Ngày đăng 18/03/2026 Lượt xem 32Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo biện pháp Liên hệ, đối chiếu, mở rộng trong dạy phần văn bản Thơ hiện đại Việt Nam môn Ngữ văn 9 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN DŨNG
 TRƯỜNG THCS TT NHAM BIỀN SỐ 2
 ******
 BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI
 GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TỈNH CHU KỲ 2020-2024
Tên biện pháp: Liên hệ, đối chiếu, mở rộng trong dạy phần văn bản 
Thơ hiện đại Việt Nam môn Ngữ văn 9 theo định hướng phát triển 
năng lực cho học sinh.
 Họ và tên: Vũ Thị Điều
 Môn giảng dạy: Ngữ văn
 Trình độ chuyên môn: Đại học
 Chức vụ: Giáo viên
 Đơn vị công tác: Trường THCS TT Nham Biền số 2
 Nham Biền, ngày 06 tháng 10 năm 2022 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
 Đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn đang là một vấn đề quan trọng có tính 
thời sự được nhiều cấp học, bậc học quan tâm. Đặc biệt với đề án đổi mới căn bản, 
toàn diện nền giáo dục Việt Nam thì bộ môn Ngữ văn cũng phải có bước chuyển 
mình để đáp ứng xu thế đó. Dạy học phần văn bản Thơ hiện đại Việt Nam môn Ngữ 
văn lớp 9 chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình. Từ các văn bản học sinh 
sẽ có những ngữ liệu để khai thác những kiến thức thuộc phân môn: Tiếng Việt và 
Tập làm văn. Đồng thời nắm vững phần văn bản Thơ hiện đại sẽ rất hữu ích để các 
em làm tốt kiểu bài nghị luận về tác phẩm thơ hoặc đoạn trích. Giúp các em đạt kết 
quả cao trong các kì thi đặc biệt kì thi vào THPT.
 Vậy làm thế nào để dạy phần văn bản thơ hiện đại Việt Nam Ngữ văn 9 thành 
công và chất lượng bài viết của học sinh được nâng lên? Tôi nghĩ việc mở rộng, liên 
hệ, đối chiếu cần vận dụng tốt. Vì lẽ đó mà tôi đã thực hiện giải pháp: Liên hệ, đối 
chiếu, mở rộng trong dạy phần văn bản Thơ hiện đại Việt Nam môn Ngữ văn 9 theo 
định hướng phát triển năng lực cho học sinh. 
 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
 I. Thực trạng công tác dạy và học môn Ngữ văn ở đơn vị
 Để đánh giá thực trạng: Liên hệ, đối chiếu, mở rộng trong giảng dạy và học 
môn Ngữ văn tôi tiến hành khảo sát 07 giáo viên, 65 HS trong trường. Kết quả thu 
được:
 Bảng 1.1. Tổng hợp đánh giá thực trạng giáo viên và tích hợp liên hệ, đối 
chiếu, mở rộng trong dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực 
cho học sinh .
 Đối tượng giáo viên GV tham 
 Đánh giá
 gia ý kiến
Câu hỏi
 Nội dung Tốt, 
 SL % %
 khá 
 Đại học 7 100 7 100
Trình độ
 Cao đẳng 0 0 0 0
 Số năm Trên 10 năm 5 71.4 5 71.4
 giảng dạy Từ 5 đến dưới 10 năm 1 14.3 1 14.3 Dưới 5 năm 1 14.3 1 14.3
 Giáo viên đã áp dụng tích hợp trong 
 7 100 3 42.8
 dạy - học.
 Tích hợp 
 trong dạy Hình thức tích hợp ngang. 7 100 3 42.8
 học Hình thức tích hợp dọc. 7 100 3 42.8
 Tích hợp ngoài môn Văn 7 100 2 28.6
 Vận dụng linh hoạt các PP, KTDH 
 PPDH, 
 tích cực, dạy học theo hướng phát 7 100 3 42.8
 KTDH
 triển năn lực HS
 Sử dụng liên hệ, đối chiếu, mở rộng 
 Liên hệ, 7 100 3 42.8
 đối chiếu, trong các văn bản thơ.
 mở rộng 
 Sử dụng liên hệ, đối chiếu, mở rộng 
 trong dạy 7 100 3 42.8
 trong dạy một số văn bản
 văn bản thơ 
 hiện đại Không sử dụng liên hệ, đối chiếu, 
 0 0 0 0
 Việt Nam. mở rộng trong dạy văn bản
 Bảng 1.2. Thực trạng về khả năng liên hệ, mở rộng trong các tác phẩm thơ 
hiện đại của học sinh.
 Đối tượng học sinh Điểm Điểm
 Tổng
 6,0 - <6,5 6,5 - <8,0
 Nội dung SL % SL % SL %
Số học sinh chỉ cảm nhận nội dung, 
 23 65.7 12 34,3 35 53.8
nghệ thuật trong khổ thơ
Số học sinh cảm nhận khổ thơ và biết 
 2 20 8 80 10 15.4
liên hệ, so sánh, mở rộng
Điểm tốt (8 điểm trở lên) 0 0 0 0 4 6.1
Điểm khá (6,5- dưới 8 điểm) 0 0 12 18.5 12 18.5 Điểm trung bình (5 - dưới 6,5 điểm) 38 58.5
Điểm yếu (dưới 5 điểm) 0 0 0 0 11 16.9
 Qua bảng 1.1, 1.2 cho thấy:
 1. Ưu điểm
 - Về phía giáo viên: Hiện nay các đồng chí giáo viên môn Ngữ văn trong nhà 
trường đều có trình đạt chuẩn. Đa số giáo viên có kinh nghiệm trong giảng dạy đã có 
nhiều thay đổi trong việc sử dụng các PPDH, KTDH vào việc tổ chức các hoạt động 
dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng 
của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập 
trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập 
nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực; chuyển từ học chủ yếu trên lớp 
sang tổ chức hình thức học tập đa dạng; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và 
truyền thông trong dạy và học; dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. 
Giáo viên đã áp dụng tích hợp trong dạy học môn Ngữ văn trong đó có sử dụng liên 
hệ, đối chiếu, mở rộng ở một số văn bản chiếm tỉ lệ cao, đã tạo ra hứng thú học tập 
cho học sinh đồng thời mở rộng vốn hiểu viết về văn học cho các em. 
 - Về phía học sinh: đa số các em học sinh được sự quan tâm của gia đình nên 
có điều kiện học tập tương đối tốt. Môi trường, điều kiện vật chất của nhà trường 
hiện nay được đảm bảo hơn như: Trường lớp kiên cố, trang thiết bị khá đầy đủ, nhiều 
phương tiện hỗ trợ học tập học sinh được tiếp cận với nhiều nguồn tư liệu tham khảo 
để phục vụ cho việc học tập. Các em cũng đã tiếp cận PP học tập mới, tích cực, chủ 
động trong các hoạt động học tập. 
 2. Hạn chế và nguyên nhân
 2.1. Giáo viên: 
 Tuy nhiên, ta còn thấy tỉ lệ giáo viên tích hợp trong tất cả các văn bản, đạt mức 
khá tốt khi liên hệ, mở rộng, so sánh còn không cao. Đồng thời qua dự giờ tôi cũng 
nhận thấy: trong một giờ dạy, giáo giáo viên ít liên hệ, mở rộng, đối chiếu các chi 
tiết, hình ảnh, đề tài trong cùng một tác phẩm hoặc với các hình ảnh, chi tiết, đề tài 
trong tác phẩm khác, tác giả khác hoặc có sự liên hệ, mở rộng, đối chiếu nhưng 
còn mang tính hình thức, dẫn ra cho có, thậm chí có giáo viên không liên hệ, đối 
chiếu mở rộng. Nguyên nhân của việc này là do giáo viên chưa chú trọng đến việc 
này, thiết kế bài dạy với các hoạt động học tập chưa phù hợp để dành thời gian cho 
HS liên hệ, mở rộng, đối chiếu. Như vậy từ thực tế quan sát và điều tra đã đặt nhiều câu hỏi cho vấn đề tích 
hợp, trong đó có việc áp dụng liên hệ, đối chiếu, mở rộng trong dạy học văn bản.
 2.2. Học sinh.
 Trong xu thế phát triển của xã hội thời kinh tế thị trường, một thực trạng đáng 
buồn là nhiều học sinh cũng như phụ huynh học sinh đều tỏ ra coi thường, lơ là, 
không thích học các môn khoa học xã hội, trong đó có bộ môn Ngữ văn. Theo bảng 
1.2, tỉ lệ học sinh yêu thích môn học (60%) cao hơn học sinh không yêu thích môn 
học (40%) nhưng tỉ lệ không thích học môn Ngữ văn ở đối tượng học lực trung bình 
cao hơn học sinh yêu thích môn học và tỉ lệ nghịch với đối tượng học sinh có học lực 
khá.
 Nhiều em học sinh học tập một cách thụ động, quen nghe, quen chép, ghi nhớ 
và tái hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những gì giáo viên đã giảng. Đa phần 
học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học, lười suy nghĩ. Chỉ 
biết suy nghĩ diễn đạt bằng những ý vay mượn, bằng những lời có sẵn, lẽ ra phải làm 
chủ tri thức thì lại trở thành nô lệ của sách vở. Theo số liệu điều tra trên, ta thấy số 
học sinh biết liên hệ mở rộng thấp (dưới 35%) chứng tỏ việc liên hệ, mở rộng trong 
các tác phẩm đối với học sinh còn nhiều hạn chế, học sinh mới chỉ dừng lại ở việc 
hiểu nội dung, ý nghĩa của các chi tiết hình ảnh, các nội dung trong một khổ thơ, 
đoạn văn hay một văn bản mà ít hoặc không có sự so sánh, đối chiếu, liên hệ, mở 
rộng với các chi tiết, hình ảnh, nội dung, đề tài giữa các khổ thơ trong một bài thơ, 
giữa các đoạn văn trong văn bản hay giữa các văn bản có chung đề tài. Vì vậy nên 
bài làm của học sinh còn hời hợt, chưa sâu sắc, kết quả còn thấp.
 II. Biện pháp
 Bảng 2.1. Hệ thống các văn bản Thơ trong chương trình Ngữ Văn 9.
 STT Bài dạy Tác giả
 1 Đồng chí Chính Hữu
 2 Bài thơ về tiểu đội xe không kính Phạm Tiến Duật
 3 Đoàn thuyền đánh cá Huy Cận
 4 Bếp lửa Bằng Việt
 5 Ánh trăng Nguyễn Duy
 6 Mùa xuân nho nhỏ Thanh Hải 7 Viếng Lăng Bác Viễn Phương
 8 Sang thu Hữu Thỉnh
 9 Nói với con Y Phương
 Môn Ngữ văn lớp 9 năm học trước bao gồm 9 văn bản Thơ hiện đại Việt Nam, 
các văn bản thuộc các thể loại khác nhau: Việc liên hệ, đối chiếu, mở rộng đều có thể 
áp dụng ở tất cả các thể loại.
 1. Biện pháp 1: Thực hiện các bước tiến hành để liên hệ, đối chiếu, mở 
rộng.
 - Bước 1: Xây dựng kế hoạch, chương trình dạy học.
 Ngay từ đầu năm học khi xây dựng chương trình, kế hoạch dạy học, người 
giáo viên cần chủ động xây dựng kế hoạch tích hợp các nội dung trong giảng dạy 
phần văn bản theo quy ước, hoặc kế hoạch riêng của mình, để đến nội dung cụ thể 
từng bài sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc tích hợp.
 - Bước 2: Sưu tầm tài liệu.
 Giáo viên có ý thức đọc, nghiên cứu, sưu tầm tài liệu trong quá trình giảng dạy 
hàng năm, bổ sung thêm thông tin khi mở rộng, liên hệ với một tài liệu mới.
 - Bước 3: Thiết kế, xây dựng giáo án cho từng bài cụ thể.
 Giáo viên phải lựa chọn hình thức để thể hiện nội dung tích hợp phù hợp: 
 + Đặt những câu hỏi trong các phiếu học tập và yêu cầu học sinh tìm nội dung 
tích hợp, liên hệ , mở rộng theo yêu cầu của giáo viên. 
 + Giáo viên dự kiến những nội dung tích hợp trong trường hợp học sinh 
không có câu trả lời hoặc chưa tốt, chưa hay.
 + Giáo viên bổ sung trong phần bình giảng, vừa giúp bài giảng lôi cuốn, hấp 
dẫn, vừa mở rộng được vấn đề lại cung cấp thêm thông tin, tư liệu cần thiết cho học 
sinh.
 2. Biện pháp 2: Thực hành vận dụng việc liên hệ, mở rộng, đối chiếu trong 
các hoạt động dạy học.
 Giáo viên có thể liên hệ, đối chiếu từ hoạt động mở đầu, hoạt động hình thành 
kiến thức khai thác, phân tích, bình giảng các hình ảnh, chi tiết nghệ thuật làm nổi 
bật nội dung, cả đến khi tổng kết, luyện tập, vận dụng và hướng dẫn học sinh tự học 
ở nhà. Việc liên hệ, đối chiếu, mở rộng phải có sự chọn lọc, vừa đủ, không đưa quá 
nhiều làm loãng bài dạy, phản tác dụng.
 2.1. Liên hệ, mở rộng đối chiếu ngay từ hoạt động mở đầu
 Vận dụng một số bài hát, bài thơ có cùng nội dung, chủ đề để vào bài.
 VD1: Văn bản: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” - Phạm Tiến Duật.
 Giáo viên đưa ra một đoạn thơ và yêu cầu HS nêu cảm nhận ngắn gọn của em 
về nội dung đoạn đó: Bài ca lái xe đêm -Tố Hữu
 Xe ta băng qua muôn dặm đường
 Xe ta băng qua bao núi đèo, đồi nương
 Xe ta băng qua bao chiến trường 
 Xe ơi cùng ta bay
 Dù mưa bom bão đạn
 Ta lấy đêm làm ngày
 Ta cùng cây làm bạn
 Hoặc một đoạn trong bài Lá đỏ - Nguyễn Đình Thi 
 Gặp em trên cao lộng gió
 Rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ 
 Đoàn quân vẫn đi vội vã
 Bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa 
Qua đó gợi lại cho HS không khí của thời đại lúc bấy giờ để vào bài, đồng thời tạo 
tâm thế để học sinh tiếp thu bài một cách tốt hơn.
 VD2: Văn bản: “Sang thu” - Hữu Thỉnh
 Giáo viên dùng câu hỏi tạo tình huống: Giáo viên trình chiếu một số hình ảnh 
tiêu biểu về mùa thu (lá vàng rơi, cốm - lá sen vàng - cúc nở hoa)
? Những hình ảnh trên, giúp em liên tưởng tới mùa nào trong năm? Em hãy kể tên 
một số bài thơ viết về mùa thu mà em biết?
- Học sinh kể, giáo viên giới thiệu dẫn dắt:
 Phần giới thiệu bài mới giáo viên có thể liên hệ những hình ảnh về mùa thu 
của các thi nhân xưa và nay để học sinh thấy rất nhiều nhà thơ đã viết về đề tài này, 
mỗi nhà thơ lại có sự cảm nhận khác nhau về mùa thu. Nếu Nguyễn Khuyễn trong chùm thơ thu nổi tiếng luôn đưa vào thơ một sắc 
trời xanh biếc, nước hồ xanh, ngõ trúc, lá vàng . Lưu Trọng Lư lãng mạn hơn với 
hình ảnh:
 Con nai vàng ngơ ngác
 Đạp trên lá vàng khô
Xuân Quỳnh đưa vào mùa thu một hình ảnh đặc trưng, ước lệ:
 Mùa thu vàng hoa cúc
Trần Hòa Bình thì:
 Thêm một chiếc lá rụng
 Thế là thành mùa thu 
Hữu Thỉnh lại chọn một hương sắc thật dân dã, mộc mạc, rất riêng:
 Bỗng nhận ra hương ổi
 Phả vào trong gió se
 Sương chùng chình qua ngõ
 Hình như thu đã về
 VD 3: Văn bản: “Mùa xuân nho nhỏ” - Thanh Hải
 Mùa xuân là để tài bất tận của thơ ca. Song, cái cảm nhận về mùa xuân của các 
nhà thơ theo thời gian có nhiều thay đổi. Đối với Mãn Giác Thiền sư, một cao tăng 
nổi tiếng thời Lý, mùa xuân mang một tính triết lý sâu sắc:
 Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
 Đêm qua sân trước một nhành mai
 Còn đối với những nhà thơ trước cách mạng, mùa xuân gợi lên một nét sầu cảm:
 Tôi có chờ đâu, có đợi đâu,
 Mang chi xuân lại gợi thêm sầu. (Chế Lan Viên)
 Giáo viên có thể cho học sinh nghe ca khúc “Mùa xuân nho nhỏ”- Thanh Hải, 
nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc. Chúng ta vừa được đắm mình trong những giai điệu 
ngọt ngào, sâu lắng của ca khúc “Mùa xuân nho nhỏ” do nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc 
từ bài thơ cùng tên. 
 Với nhà thơ Thanh Hải, mùa xuân mang một nét đẹp đáng yêu tươi thắm; gợi 
lên trong lòng người đọc nhiều hình ảnh rạo rực tươi trẻ. Vì thế, mùa xuân trong thơ 
của Thanh Hải là biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ của quê hương, dân tộc. Tất cả đã được thể hiện rõ nét trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”, một bài thơ đặc sắc được 
nhà thơ viết không lâu trước khi qua đời.
 2.2. Liên hệ, mở rộng, đối chiếu khi tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của bài 
thơ (phần này tiến hành sau khi HS báo cáo, GV kết luận nhận định)
 Mục tiêu: Giáo viên liên hệ, mở rộng (bối cảnh lịch sử), đối chiếu (với các tác 
phẩm ra đời trong cùng thời điểm) khi tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của các tác phẩm 
văn học nói chung, các văn bản thơ hiện đại lớp 9 nói riêng sẽ giúp HS có cái nhìn đa 
chiều, có sự hiểu biết sâu sắc hơn về văn bản. Từ đó, HS có cách tiếp nhận, hiểu 
đúng về quan điểm, cách nhìn, suy ngẫm, dụng ý của tác giả.
 Các bước tiến hành cụ thể:
 - Bước 1: Giáo viên sưu tầm, tìm hiểu chi tiết về hoàn cảnh chung (hoàn cảnh 
lịch sử của đất nước) và hoàn cảnh riêng (hoàn cảnh của bản thân tác giả) dẫn tới sự 
ra đời của bài thơ.
 - Bước 2: Giáo viên mở rộng, liên hệ với kiến thức của môn Lịch sử (nếu học 
sinh chưa giới thiệu được):
 VD1: Văn bản “Đồng chí”:
 - GV: Bài thơ “Đồng chí” được sáng tác trong hoàn cảnh nào?
 - HS trả lời: Bài thơ viết đầu năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham 
gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (Thu đông 1947), đặt ở đầu tập thơ: Đầu 
súng trăng treo.
 - GV nhận xét và liên hệ với hoàn cảnh lịch sử: Bài thơ “Đồng chí”, sáng tác 
vào đầu năm 1948, sau khi Chính Hữu đã cùng đồng đội tham gia chiến dịch Thu 
đông 1947, đánh bại cuộc tấn công quy mô lớn của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc. 
Khi đó, dân tộc ta đói nghèo, thiếu thốn trăm bề. Đúng như lời nhà thơ đã kể: "Tôi bị 
ốm, sốt rét ác tính, nhưng không có thuốc men gì cả. Đơn vị vẫn hành quân và để lại 
một đồng chí chăm sóc tôi. Không có đồng chí đó có lẽ tôi đã bỏ mạng. Sự ân cần 
của đồng chí đó khiến tôi nhớ đến những lần đau ốm được mẹ, được chị chăm sóc. 
Đó là những gợi ý đầu tiên cho bài thơ “Đồng chí„ (Tác giả nói về tác phẩm, NXB 
Trẻ, 2000). 
 Như vậy, việc giáo viên liên hệ, mở rộng về hoàn cảnh ra đời của bài thơ với bối 
cảnh lịch sử chung của dân tộc cũng như hoàn cảnh riêng khi bài thơ được ra đời đã 
góp phần không nhỏ giúp học sinh hiểu được những khó khăn, thiếu thốn về vật chất 
mà những người lính cụ Hồ trong buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp đã trải qua đồng thời phần nào cũng cảm nhận được sức mạnh của tình đồng chí nồng ẩm 
trở thành một trong những nhân tố giúp họ vượt qua gian lao, thử thách khắc nghiệt.
 VD 2: Văn bản “ Mùa xuân nho nhỏ”- Thanh Hải:
 - GV: Những hiểu biết của em về hoàn cảnh ra đời của bài thơ?
 - HS: Bài thơ được sáng tác năm 1980.
 - GV: nhận xét mở rộng thông tin về hoàn cảnh ra đời của bài thơ: Bài thơ ra 
đời tháng 11/1980, lúc này, đất nước đã thống nhất và đang xây dựng cuộc sống mới 
với muôn ngàn khó khăn thử thách. Đây cũng là thời điểm rất đặc biệt đối với nhà 
thơ Thanh Hải. Ông đang bị bệnh nặng phải điều trị ở bệnh viện Trung ương thành 
phố Huế và một tháng sau ông qua đời. 
 Do đó, có hiểu cho hoàn cảnh của nhà thơ trên giường bệnh ta mới thấy hết 
được tấm lòng tha thiết với cuộc sống, với quê hương đất nước của nhà thơ. 
 Tóm lại, trong quá trình tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của mỗi văn bản, GV cần 
có sự liên hệ, mở rộng về thời điểm ra đời của bài thơ. Đặc biệt là những văn bản 
được ra đời trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt thì nhiệm vụ liên hệ, mở rộng của 
giáo viên sẽ trở thành một yêu cầu bắt buộc. Tuy nhiên, trong quá trình hướng dẫn 
học sinh tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của mỗi văn bản thơ, giáo viên cần linh hoạt 
khi liên hệ, mở rộng cho phù hợp, tránh sa đà sang kiến thức của Lịch sử nhiều sẽ 
làm mất đặc trưng của bộ môn Ngữ văn.
 2.3. Liên hệ, mở rộng, đối chiếu khi tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của văn 
bản.
 Khi phân tích, tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của văn bản, giáo viên biên soạn 
sẵn những câu hỏi để học sinh nhớ lại, liên hệ, đối chiếu với các tác giả, các tác phẩm 
khác cùng viết về đề tài hoặc lời bình giảng để liên hệ, mở rộng, đối chiếu giúp học 
sinh hứng thú hơn với bài giảng, đồng thời tạo độ sâu cho bài giảng, cung cấp thêm 
dẫn chứng, tư liệu để học sinh hiểu bài.
 VD1: Văn bản: “Đoàn thuyền đánh cá” - Huy Cận
 Bài thơ là một bài ca lao động của những người làm chủ đất nước trong niềm 
hân hoan, náo nức. Ta có thể giới thiệu thêm một vài đoạn thơ ra đời cùng thời điểm 
và cùng đề tài: Con người mới và cuộc sống mới xây dựng CNXH ở miền Bắc:
 Vui biết mấy những con người đi tới
 Hai cánh tay như hai cánh bay lên
 Ngực dám đón những phong ba dữ dội Chân đạp bùn không sợ các loài sên
 ( Tố Hữu )
 Dân có ruộng, dập dìu hợp tác
 Lúa mượt đồng ấm áp làng quê
 Chiêm, mùa cờ đỏ ven đê
 Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn ( Tố Hữu ) 
 VD2: Văn bản: “Bếp lửa” - Bằng Việt
 Khi tìm hiểu về tình bà cháu trong bài thơ, giáo viên có thể liên hệ với bài thơ 
cùng đề tài như: Cánh cửa nhớ bà của Đoàn Thị Lam Luyến:
 Ngày cháu còn thấp bé
 Cánh cửa có hai then
 Cháu chỉ cài then dưới
 Nhờ bà cài then trên 
 Nay cháu về nhà mới
 Bao cánh cửa - ô trời
 Mỗi lần tay mở cửa
 Lại nhớ bà không nguôi
Hoặc bên cạnh bài thơ Bà ơi! của Hồ Cẩm Sa:
 Cuộc đời tuy chật vật
 Nhưng tâm hồn thảnh thơi
 Bởi bóng bà luôn tỏa
 Che đời cháu, bà ơi!
 VD3. Văn bản: “Đồng chí” - Chính Hữu:
 Để nói về hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn, gian lao của các chiến sĩ trong 
những ngày đầu kháng chiến chống Pháp mà Chính Hữu đã viết:
 Áo anh rách vai
 Quần tôi có vài mảnh vá
 Miệng cười buốt giá
 Chân không giày Thương nhau nắm lấy bàn tay
Trong một bài thơ khác tác giả cũng viết:
 Rách tả tơi rồi đôi hài vạn dặm
 Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Hoặc liên hệ với những câu thơ của tác giả khác có cùng nội dung:
 Lột sắt đường tàu
 Rèn thêm dao kiếm
 Áo vải chân không
 Đi lùng giặc đánh 
 (Nhớ - Hồng Nguyên)
 Hoặc:
 Hồn còn dõi theo bóng cờ bay
 Nhìn lại chân không chẳng có giày (Xuân Diệu) 
 Tuy cuộc sống thật gian khổ nhưng chính từ trong những khó khăn ấy, những 
chiến sĩ càng có điều kiện để gắn bó, sẻ chia, đồng cảm và yêu thương nhau hơn:
 Đồng đội ta
 Là hớp nước uống chung, bát cơm sẻ nửa,
 Là chia nhau một mảnh tin nhà,
 Chia nhau cuộc đời,
 Chia nhau cái chết
 (Giá từng thước đất - Chính Hữu)
 Thương nhau chia củ sắn lùi
 Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
 (Tố Hữu)
 3. Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh sử dụng một số hình thức liên hệ, mở 
rộng, đối chiếu trong môn Ngữ văn phần văn bản Thơ hiện đại Việt Nam.
 3.1. Liên hệ, đối chiếu các chi tiết, hình ảnh trong cùng một tác phẩm.
 HS có sự so sánh, đối chiếu các chi tiết, hình ảnh trong cùng tác phẩm, từ đó 
thấy được dụng ý nghệ thuật, chủ ý của tác giả, hiểu sâu sắc hơn về từng chi tiết, hình 
ảnh. VD1: Văn bản: “Viếng lăng Bác” - Viễn Phương
 Khi tìm hiểu đến khổ cuối bài thơ, học sinh liên hệ, so sánh hình ảnh hàng tre 
ở khổ đầu bài thơ và hình ảnh cây tre ở khổ cuối bài thơ để hiểu về hình ảnh thơ này 
và làm cho bài viết thêm sâu sắc. 
 Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
 Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
 Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
 Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng
 Nếu ở khổ đầu bài thơ, tre là hình ảnh tượng trưng cho tình đoàn kết, cho khí thái 
hiên ngang, bất khuất và dũng cảm chiến đấu với kẻ thù của người Việt Nam. Tre 
luôn đứng thẳng như con người Việt Nam thà chết chứ không chịu sống quỳ. Biểu 
tượng đẹp đẽ ấy được nhà thơ chọn lọc miêu tả quanh lăng Bác ở khổ thơ đầu tiên 
của bài thơ, như cả dân tộc Việt Nam vẫn đang sát cánh bên Bác. Hàng tre Việt Nam 
ấy, phải chăng là hình ảnh của những người con Việt Nam đang quây quần bên vị 
cha già đáng kính đang đi vào giấc ngủ an lành? Hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa 
biết bao!
 Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
 Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
 Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này
 Đến khổ thơ cuối cùng của bài, nhà thơ thể hiện khát vọng, mong ước của 
mình: muốn hóa thân thành những hình ảnh đẹp nhất của thiên nhiên đất nước để 
dâng lên cho Bác. Nhà thơ muốn làm con chim cất lên tiếng hót mê say, muốn làm 
đóa hoa tỏa hương cho đời. Và thật cao đẹp biết bao khi nhà thơ muốn hóa thân làm 
cây tre trung hiếu, trong muôn ngàn cây tre quanh lăng Bác, để được ở mãi bên Bác. 
Hình tượng tre được chuyển hóa: khổ thơ đầu là hàng tre, khổ thơ cuối là cây tre. 
Nghĩa là muốn hóa thân thành một cây tre trong hàng tre kia để luôn được ở bên 
Bác. Hình ảnh cây tre ở khổ thơ thứ nhất được lặp lại trong khổ thơ cuối tạo nên kết 
cấu đầu cuối tương ứng, giúp hoàn thiện biểu tượng cây tre Việt Nam. Nếu ở khổ thơ 
thứ nhất, tre là hình ảnh tượng trưng cho phẩm chất kiên cường, bất khuất; thì ở khổ 
thơ cuối, hình ảnh cây tre được lặp lại nhưng là để tượng trưng cho phẩm chất trung 
hiếu. Cây tre đã trở thành biểu tượng toàn vẹn cho phẩm chất của con người và dân 
tộc Việt Nam.
 VD 2: Văn bản: “Mùa xuân nho nhỏ” - Thanh Hải: Học sinh liên hệ, so 
sánh, đối chiếu hình ảnh con chim, cành hoa, nốt trầm ở đầu và cuối văn bản: Mở đầu bài thơ, tác giả đã phác họa nên một bức tranh xuân của thiên nhiên, 
đất nước giản dị mà tươi đẹp:
 Mọc giữa dòng sông xanh
 Một bông hoa tím biếc
 Ơi con chim chiền chiện
 Hót chim mà vang trời
“Dòng sông xanh” gợi nhắc hình ảnh những khúc sông uốn lượn của dải đất miền 
Trung quanh co, đó có thể là dòng sông Hương thơ mộng, một vẻ đẹp lắng đọng của 
xứ Huế mộng mơ. Trên gam màu xanh lơ của dòng sông thơ mộng, nổi bật lên hình 
ảnh “một bông hoa tím biếc”. Không phải màu vàng rực rỡ của hoa mai, cũng không 
phải màu đỏ thắm của hoa đào, mùa xuân của Thanh Hải mang một sắc thái bình dị 
với màu tím biếc của bông hoa lục bình. Đây là một hình ảnh mang đậm màu sắc của 
cố đô Huế. Trong bức tranh mùa xuân của Thanh Hải, không chỉ có hình ảnh, mà còn 
có âm thanh xao xuyến, ngân nga của con chim chiền chiện. Tiếng chim lảnh lót 
vang lên làm xao động cả đất trời, làm xao xuyến cả tâm hồn thi sĩ nhạy cảm của nhà 
thơ. Nhà thơ bỗng nhận ra vẻ đẹp lạ kì của mùa xuân, vẻ đẹp của quê hương đất 
nước.
 Đến khổ thơ gần cuối bài, những hình ảnh quen thuộc đó lại được lặp lại một 
nữa:
 Ta làm con chim hót
 Ta làm một cành hoa
 Ta nhập vào hoà ca
 Một nốt trầm xao xuyến
“Ta làm” là điệp ngữ vang lên ở đầu các câu thơ như một sự khẳng định những ước 
nguyện chính đáng, cao đẹp thể hiện tâm hồn khát khao được làm việc, được cống 
hiến nhiều nhất cho cuộc đời. Hình ảnh đối ứng lặp lại ở đầu bài thơ “con chim”, 
“cành hoa”, “nốt trầm”. Nếu ở đầu bài thơ “con chim”, “cành hoa”... là biểu tượng 
đẹp đẽ của mùa xuân, thiên nhiên, vẻ đẹp xứ Huế. Thì ở khổ thơ này những hình ảnh 
đó là những mong ước cụ thể của nhà thơ được góp cái gì đó dù nhỏ bé nhưng có ích 
cho cuộc đời chung. Là con chim hãy mang lại những âm thanh vang vọng, những 
tiếng hót vui say lòng người. Là cành hoa hãy toả ngát hương thơm. Là nốt nhạc, nốt 
trầm trong bản nhạc nhưng không thể thiếu giàn hợp xướng, trong bản hoà ca. 3.2. Liên hệ, đối chiếu với các tác phẩm trong cùng tác giả.
 VD 1: Văn bản: “Đồng chí” - Chính Hữu.
 Nói về những thiếu thốn, khó khăn, gian lao của các chiến sĩ trong những ngày 
đầu kháng chiến chống Pháp, Chính Hữu đã viết:
 Áo anh rách vai
 Quần tôi có vài mảnh vá
 Miệng cười buốt giá
 Chân không giày
 Thương nhau nắm lấy bàn tay
HS đối chiếu với câu thơ của chính tác giả trong một bài thơ khác:
 Rách tả tơi rồi đôi hài vạn dặm
 Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
 ( Ngày về - Chính Hữu)
Tuy cùng viết về hình ảnh người lính tham gia cách mạng nhưng ở những thời điểm 
khác nhau, hoàn cảnh lịch sử khác nhau, tác giả Chính Hữu đã có thêm những phát 
hiện mới mẻ, thú vị về họ: từ những người chiến sĩ mang vẻ đẹp lãng mạn, mang 
dáng dấp của những anh hùng xưa trong “Ngày về”- 1947, họ đã trở thành những 
người lính chân chất, mộc mạc, gần gũi....không thi vị hóa, lãng mạn hóa những khó 
khăn, gian khổ, thiếu thốn. Qua đó ta thấy được sự trưởng thành mang đậm phong 
cách lính của nhà thơ.
 Những câu thơ trên của Chính Hữu đã giúp người đọc cảm nhận sâu sắc về 
những khó khăn, gian khổ, thiếu thốn mà những người lính cách mạng trong buổi đầu 
của cuộc kháng chiến chống Pháp phải trải qua. Một lần nữa, người đọc gặp lại 
những khó khăn, thiếu thốn của người lính qua những câu thơ trong bài thơ “ Giá 
từng thước đất” của Chính Hữu:
 Đồng đội ta
 Là hớp nước uống chung, bát cơm sẻ nửa,
 Là chia nhau một mảnh tin nhà,
 Chia nhau cuộc đời,
 Chia nhau cái chết Từ những câu thơ trên, ta càng cảm nhận rõ hơn về những gian khó mà những 
người lính phải vượt qua. Nhưng có lẽ những gian khó ấy là điều kiện để các chiến sĩ 
ngày càng gắn bó, sẻ chia, đồng cảm và yêu thương nhau hơn.
 3.3. Liên hệ, đối chiếu với các tác giả khác, các văn bản, tác phẩm khác có 
cùng đề tài. 
 VD 1. Văn bản: “Đồng chí” - Chính Hữu.
 Khi viết về cảnh thiếu thốn, khó khăn, gian lao của các chiến sĩ trong những 
ngày đầu kháng chiến chống Pháp HS liên hệ những câu thơ của tác giả khác có cùng 
nội dung:
 Lột sắt đường tàu
 Rèn thêm dao kiếm
 Áo vải chân không
 Đi lùng giặc đánh 
 (Nhớ - Hồng Nguyên)
 Hoặc:
 Hồn còn dõi theo bóng cờ bay
 Nhìn lại chân không chẳng có giày
 (Xuân Diệu)
 Tuy cuộc sống thật gian khổ nhưng chính từ trong những khó khăn ấy, những 
chiến sĩ càng có điều kiện để gắn bó, sẻ chia, đồng cảm và yêu thương nhau hơn:
 Thương nhau chia củ sắn lùi
 Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
 (Tố Hữu)
 VD 2. Văn bản: “Đoàn thuyền đánh cá” - Huy Cận.
 Bài thơ là một bài ca lao động của những người làm chủ đất nước trong niềm 
hân hoan, náo nức. Ta đã bắt gặp những con người mới và cuộc sống mới xây dựng 
CNXH ở miền Bắc ở những vần thơ của Tố Hữu:
 Vui biết mấy những con người đi tới
 Hai cánh tay như hai cánh bay lên
 Ngực dám đón những phong ba dữ dội Chân đạp bùn không sợ các loài sên
 ( Tố Hữu )
 Dân có ruộng, dập dìu hợp tác
 Lúa mượt đồng ấm áp làng quê
 Chiêm, mùa cờ đỏ ven đê
 Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn
 ( Tố Hữu )
 VD 3. Văn bản: “Bếp lửa” - Bằng Việt.
 Tình bà cháu thiêng liêng, nồng cháy luôn sưởi ấm cõi lòng của đứa cháu trong 
suốt cuộc đời. Cũng như Bằng Việt, Đoàn Thị Lam Luyến cũng có lời thơ về kỉ niệm 
tình bà trong Cánh cửa nhớ bà:
 Ngày cháu còn thấp bé
 Cánh cửa có hai then
 Cháu chỉ cài then dưới
 Nhờ bà cài then trên 
 Nay cháu về nhà mới
 Bao cánh cửa - ô trời
 Mỗi lần tay mở cửa
 Lại nhớ bà không nguôi
 Hay bài thơ Bà ơi! của Hồ Cẩm Sa:
 Cuộc đời tuy chật vật
 Nhưng tâm hồn thảnh thơi
 Bởi bóng bà luôn tỏa
 Che đời cháu, bà ơi!
 VD 4. Văn bản: “Mùa xuân nho nhỏ” - Thanh Hải.
 Khát khao được cống hiến cho đời của nhà thơ Thanh Hải chân thành, giản dị 
biết bao. Một lần nữa, ta gặp lại ước nguyện ấy trong bài thơ “ Chào xuân 67- Tố 
Hữu” qua những câu thơ: 
 Nếu được làm hạt giống để mùa sau
 Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa Vui gì hơn làm người lính đi đầu
 Trong đêm tối tim ta thành ngọn lửa”
Nhà thơ Viễn Phương cũng đồng tình như thế:
 Nửa mái đầu chớm bạc
 Còn gì cho quê hương
 Thân xin làm chiếc lá
 Thân xin làm hạt sương.
 (Còn gì cho quê hương)
 Qua đó, các em sẽ hiểu hơn những khát vọng sống thật cao đẹp, sống có ích, 
để cống hiến cho cuộc đời của các thế hệ cha anh đi trước. Là thế hệ kế bước đi sau, 
chúng ta hãy nỗ lực cống hiến sức mình cho công cuộc dựng xây đất nước, mỗi 
chúng ta sẽ nguyện làm “Một mùa xuân nho nhỏ” để góp vào mùa xuân rộng lớn của 
đất nước . PHẦN C. MINH CHỨNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA GIẢI PHÁP
 Để kiểm nghiệm hiệu quả của giải pháp đã đề xuất, tôi tiến hành xin ý kiến của 
10 giáo viên ở trong và ngoài trường. Kết quả cho thấy:
 Mức độ Cần thiết Khả thi
 Rất Không Rất 
 Cần Khả Không 
 Biện pháp cần cần khả 
 thiết thi khả thi
 thiết thiết thi
 Hệ thống lại các văn SL 7 3 0 8 2 0
 bản thơ hiện đại trong 
 chương trình Ngữ % 70 30 0 80 20 0
 Văn 9.
 Xây dựng các bước SL 5 5 0 6 4 0
 tiến hành để liên hệ, 
 đối chiếu, mở rộng. % 50 50 0 60 40 0
 Vận dụng việc liên SL 5 4 1 5 5 0
 hệ, mở rộng, đối 
 chiếu trong từng % 50 40 10 50 50 0
 phần, từng bài cụ thể.
 HS vận dụng các hình SL 7 2 1 7 2 1
 thức liên hệ, mở 
 rộng, đối chiếu. % 70 20 10 70 20 10
 Như vậy qua bảng số liệu trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy số lượng giáo viên 
đồng tình với những ý kiến, đề xuất và giải pháp tôi đã đề ra trong sáng kiến chiếm tỉ 
lệ rất cao. Các ý kiến đồng quan điểm về việc cần hệ thống lại các văn bản thơ hiện 
đại được học trong chương trình Ngữ Văn 9; cần xây dựng các bước tiến hành để liên 
hệ, đối chiếu, mở rộng; cần vận dụng việc liên hệ, mở rộng, đối chiếu trong từng 
phần, từng bài cụ thể; cần hướng dẫn HS vận dụng các hình thức liên hệ, mở rộng, 
đối chiếu khi tìm hiểu và viết bài về các văn bản thơ hiện đại.
 Sau thời gian áp dụng vào giảng dạy các năm gần đây, cụ thể năm học 2016-
2017, 2017-2018, 2020-2021, 2021-2022, tôi nhận thấy bản thân tự tin, chủ động hơn 
khi dạy các tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam. Học sinh tích cực học tập và tham gia nhiệt tình vào các hoạt động học tập, 
mạnh dạn trao đổi những vấn đề đã biết, chưa biết với nhau trong nhóm; không khí 
lớp học sôi nổi; phát huy được năng lực tư duy, hợp tác, sáng tạo; đặc biệt chất lượng 
thực hành tập làm văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ tốt hơn nhiều. 
 Cuối năm học 2021-2022, tôi cũng đã khảo sát với sự tham gia của 66 học sinh 
lớp 9A1, 9A3 trường THCS TT Nham Biền số 2. 
Đề bài: Viết đoạn văn cảm nhận về một câu thơ hoặc đoạn thơ em thích nhất.

Tài liệu đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_lien_he_doi_chieu_mo_rong_trong_day_phan_v.docx