SỞ /PHỊNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC GIANG PHỊNG GD&ĐT YÊN DŨNG ****** BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP GIỎI CẤP TỈNH CHU KỲ 2020-2024 Tên biện pháp: “Định hướng cho học sinh THCS cách sử dụng điện thoại thơng minh hữu ích thơng qua cơng tác chủ nhiệm ” Họ và tên: Nguyễn Văn Thắng Đơn vị cơng tác: Trường THCS TT Nham Biền số 1 Yên Dũng, ngày 29 tháng 02 năm 2024 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thời đại cơng nghệ hiện nay, chiếc điện thoại thơng minh đang là phương tiện hữu dụng cho tất cả mọi người, nĩ là cơng cụ kết nối chúng ta với cả thế giới, là kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại. Tuy nhiên khơng phải ai cũng sử dụng chiếc điện thoại thơng minh một cách thơng minh nhất, đặc biệt là các em học sinh THCS. Điều đáng báo động hiện nay là chiếc ĐTTM, với hàng trăm nghìn phần mềm, ứng dụng, chỉ cần cĩ mạng internet và 1 nút bấm là nĩ cĩ thể mang đến cho người dùng vơ số thơng tin, nguy hại nhất là cĩ nhiều phần mềm ứng dụng độc hại, hoặc 1 số phần mềm khơng được kiểm sốt sẽ dễ dàng chứa đựng nội dung xấu, độc hại, dụ dỗ, lơi kéo người tham gia như: phim ảnh khiêu dâm, lối sống trụy lạc, kích động bạo lực, khiêu khích chiến tranh, chia rẽ đồn kết dân tộc, tơn giáo. Ngồi ra trên điện thoại của mình người dùng điện thoại cĩ thể chơi game, lướt FB, sống ảo ., trong đĩ sự xuất hiện của các trang mạng xã hội rất dễ làm cho người tham gia bị sa đà vào “biển thơng tin” hỗn loạn đĩ lúc nào mà khơng hay biết, làm cho người dùng sao nhãng việc học hành, giảm năng suất lao động, tinh thần uể oải, sa sút, đắm chìm vào thế giới ảo trong đời sống thực. Đây chính là tác nhân làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tâm sinh lý và việc hình thành, phát triển nhân cách, lối sống tốt đẹp của con người, nhất là giới trẻ. Trước thực trạng như vậy, một câu hỏi được đặt ra: Việc sử dụng điện thoại thơng minh ảnh hưởng như thế nào đến học sinh THCS? Tích cực hay tiêu cực? Làm thế nào để sử dụng điện thoại thơng minh một cách cĩ hiệu quả ở lứa tuổi học sinh THCS?. Vì vậy, vấn đề sử dụng điện thoại của học sinh là một vấn đề được cả xã hội quan tâm khi những hệ lụy của nĩ là khơng nhỏ. Xuất phát từ thực tế này, tơi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Định hướng cho học sinh THCS cách sử dụng điện thoại thơng minh hữu ích thơng qua cơng tác chủ nhiệm ”. Nội dung này đã được tơi và một số đồng nghiệp áp dụng cĩ hiệu quả trong quá trình làm cơng tác chủ nhiệm lớp, và cĩ thể vận dụng cho nhiều GVCN khác. Chúng tơi hi vọng sẽ gĩp phần nhỏ bé vào sự nghiệp đổi mới GD trong giai đoạn hiện nay, gĩp phần hình thành nhân cách để các em HS vững tin bước vào đời. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng cơng tác chủ nhiệm lớp Học sinh ở trường THCS TT Nham Biền số 1 và ở lớp 9A2 nĩi riêng cũng nằm trong thực trạng trên, qua khảo sát, chúng tơi thấy mỗi học sinh đều cĩ 1 chiếc điện thoại thơng minh và cĩ ít nhất một tài khoản của mạng xã hội và tất nhiên, khơng phải em nào cũng sử dụng ĐTTM một cách cĩ ý thức. Trong phạm vi của nhà trường, với vai trị là giáo viên chủ nhiệm, tơi nghĩ cần định hướng cho cho các em, tận dụng những ưu điểm của ĐTTM để qua đĩ tư vấn tâm lí, bồi dưỡng thế giới quan, làm giàu thêm kiến thức, giáo dục đạo đức, rèn luyện kĩ năng sống cho các em. Thực tế cho thấy một số học sinh trường THPT TT Nham Biền số 1 đã trở thành những người nghiện game, bỏ bê việc học để theo đuổi các trị chơi điện tử tốn kém và thiếu lành mạnh, một bộ phận lớn học sinh lại cĩ hiện tượng nghiện mạng xã hội như Facebook, Tiktok, Zalo... xem mạng xã hội như một nhu cầu khơng thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày, từ đĩ dẫn đến suy nghĩ, hành vi và đạo đức cũng như kết quả học tập của học sinh giảm sút. Điều này khơng chỉ khiến cho giáo viên nhà trường, phụ huynh mà cả chính các bạn học sinh hết sức lo lắng. 1. Ưu điểm ĐTTM đã mang lại cho mọi người những lợi ích vơ cùng to lớn. Chúng làm cuộc sống của con người hiện đại hơn,phát triển hơn, thơng minh hơn, làm cho con người đến với nhau dễ dàng hơn và đây cũng là kho cung cấp tri thức của nhân loại. ĐTTM, Internet, mạng xã hội cung cấp rất nhiều những thơng tin, nội dung tư vấn, hướng dẫn con người nĩi chung và người trẻ nĩi riêng dễ dàng thực hành các hoạt động cần thiết trong cuộc sống. Các em cĩ thể tạo lập, tham gia các nhĩm hội như nhĩm lớp, nhĩm học bộ mơn... để tìm kiếm thơng tin, trao đổi các kinh nghiệm học tập, nâng cao năng lực tự học. Các em dễ dàng tham gia các cuộc thi trên mạng Internet do ngành GD&ĐT tổ chức như thi giải tốn, Olympic tiếng Anh, thi an tồn giao thơng ĐTTM giúp mỗi người trong đĩ cĩ các em học sinh tăng sự đồng cảm, quan tâm đối với những người khác thơng qua các hành động yêu thích (like), chia sẻ hoặc bày tỏ các cảm xúc của bản thân đối với những bài viết, hình ảnh hay các chia sẻ của người khác. Các em cĩ thể kết nối các bạn trong lớp, trong trường để tạo nên khối đồn kết; làm bạn với mọi người trên mọi vùng miền trên đất nước, thậm chí ở nước ngồi để trao đổi, học hỏi nâng cao kiến thức, văn hĩa, vốn sống. ĐTTM là phương tiện để các em trị chuyện, tán ngẫu, liên lạc hiệu quả, ít tốn kém với các tính năng như nhắn tin,gọi. Việc sử dụng ĐTTM đúng đắn cịn giúp các em cập nhật kịp thời những thơng tin mới của cuộc sống, nâng cao hiểu biết hay thưởng thức các video hài hước để giải toả sau những giờ học căng thẳng. Cĩ chiếc ĐTTM trong tay các em chỉ cần ngồi một chỗ là cĩ thể đặt mua được tài liệu học tập, các mĩn hàng mong muốn vừa tiết kiệm được thời gian, vừa khơng mất cơng đạp xe tìm kiếm. Đặc biệt, những khi đại dịch covid 19 xảy ra, trên tồn cầu trong đĩ cĩ Việt Nam phải thực hiện việc giãn cách, cách ly xã hội nhưng việc học của các em vẫn khơng bị gián đoạn 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế Thực tế, khơng phải học sinh nào cũng khai thác tốt những lợi ích ĐTTM mang lại. Nhiều em khơng phân bố thời gian sử dụng ĐTTM hợp lí, khả năng làm chủ thân kém nên phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Mặt khác, đặc điểm của các trang mạng xă hội là thơng tin nhanh, nhiều, nhưng bị trộn lẫn giữa những thơng tin tốt với thơng tin xấu, nhiều thơng tin khơng được kiểm chứng. Nếu học sinh khơng biết gạn đục khơi trong sẽ cĩ nhiều chuyện đáng tiếc xảy ra. Nhiều em sử dụng ĐTTM với tần suất lớn, 3-4 tiếng một ngày, sao nhãng học tập, chìm đắm vào thế giới ảo, sức khỏe sút giảm, sống kép kín, mụ mị, tâm lí bất ổn, kết quả học hành đi xuống khiến bố mẹ và thầy cơ lo lắng. Đa số học sinh sử dụng mạng xã hội thiếu kiểm sốt: như cuồng like, like, chia sẻ cả những thơng tin độc hại vi phạm pháp luật, khơng đảm bảo thuần phong mĩ tục; bình luận với ngơn từ kém văn minh, thậm chí khiêu khích lẫn nhau để rồi xảy ra xích míchmích gây mất đồn kết, làm ảnh hưởng an ninh trường học, nghiện đăng bài: mặc thế nào, ăn gì, ở đâu đều trưng lên Facebook, Zalo, tiktok, một lát lại mở ra xem cĩ bao nhiều like, bao nhiêu bình luận rất tốn thời gian. Một số học sinh bị lừa đảo trắng trợn trên mạng xã hội, mua phải các sản phẩm giả, kém chất lượng khơng đúng như thực tế quảng cáo đến khi liên hệ với bên bán để khiếu nại thì bị chặn, hủy kết bạn, khơng thể liên lạc được. Cĩ những em do thiếu nhận thức, kĩ năng, kinh nghiệm sống bị kẻ xấu lấy thơng tin cá nhân để mạo danh lừa gạt người khác hoặc lợi dụng lịng tin để lừa đảo tiền bạc, thậm chí xâm hại. Hay nhiều em bị lơi kéo vào nhiều hội, nhĩm khơng lành mạnh, bị lơi kéo vào các trị chơi gây nghiện, để lại nhiều hệ lụy khơng hề nhỏ. II. Biện pháp “Định hướng cho học sinh THCS cách sử dụng điện thoại thơng minh hữu ích thơng qua cơng tác chủ nhiệm” 1. Biện pháp 1: Xây dựng nội qui sử dụng điện thoại trong trường học và ở nhà. a. Nội quy sử dụng điện thoại ở trường Việc đầu tiên tơi cần làm ngay sau khi nhận lớp chủ nhiệm là xây dựng nội qui sử dụng điện thoại trong trường học của học sinh. Nội qui được xây dựng dựa trên ý kiến thảo luận và biểu quyết của cả lớp và GVCN. Trong đĩ qui định: HS được phép mang điện thoại đi học nhưng khơng được phép sử dụng trong giờ học: kể cả trường hợp để dưới ngăn bàn, trong cặp nhưng đang mở khĩa cũng tính là đang sử dụng (nếu chưa cĩ sự cho phép của giáo viên). Học sinh nếu vi phạm (sử dụng ĐT trong giờ học khi chưa được cho phép của GV) sẽ bị xử lý như sau: + Vi phạm lần 1: nhắc nhở trước lớp. + Vi phạm lần 2: thơng báo tới phụ huynh và yêu cầu HS viết bản kiểm điểm. + Vi phạm lần 3: tạm thu điện thoại và cho HS làm vệ sinh trực nhật của lớp Sau khi đã được thống nhất trong lớp học, tơi chia sẻ những quy định về việc sử dụng điện thoại trong trường học để phụ huynh, học sinh hiểu, nắm rõ và cùng nghiêm túc thực hiện. Thay vì cấm tuyệt đối như trước đây, học sinh THCS được phép sử dụng điện thoại trong giờ học để phục vụ cho việc học tập. Quy định này được ghi nhận trong Điều lệ trường THCS và trường phổ thơng cĩ nhiều cấp học ban hành kèm theo Thơng tư 32/2020, cĩ hiệu lực từ ngày 1/11/2020 của Bộ GD & ĐT.Theo đĩ, điện thoại thơng minh trở thành cơng cụ để học tập. HS cĩ thể cập nhật các thơng tin mới, thời sự hoặc tài liệu tham khảo mới nhất một cách nhanh chĩng, thuận lợi trong từng tiết học. Ngay sau khi cĩ thơng tư của Bộ về việc cho phép HS sử dụng ĐT trong các tiết học, tơi và học sinh của lớp đã cùng thảo luận và điều chỉnh, bổ sung nội quy sử dụng ĐT trong trường học cho phù hợp. Cụ thể, HS được phép sử dụng ĐT trong các tiết học nhưng phải đúng mục đích, phải phục vụ nhu cầu học tập và khi được giáo viên trực tiếp lên lớp tiết dạy cho phép. Nếu HS sử dụng sai mục đích thì sẽ xử lý như nội quy đã qui định. b. Nội quy sử dụng ĐTTTM ở nhà Một thực tế mà tất cả chúng ta đều thấy rõ đĩ là hiện nay hầu hết các em HS đều dùng 1 khoảng thời gian rất lớn để sử dụng ĐTTM, nhiều em chiếc điện thoại luơn kề cận bên mình, thậm chí là ngay cả trong lúc học bài, lúc làm việc nhà, lúc đi ngủ Nhưng chúng ta khơng thể cấm đốn các em sử dụng nĩ bởi ĐTTM là rất cần cho cuộc sống thời đại cơng nghệ 4.0. Vì vậy GVCN phải phối hợp với phụ huynh và các em HS lên kế hoạch cụ thể giúp các em quản lí thời gian sử dụng ĐTTM một cách cụ thể rõ ràng. Trước hết các em cần phải tự lên kế hoạch, thời gian sử dụng ĐTTM, mục đích sử dụng một cách cụ thể, kèm với cam kết là phải thực hiện đúng. GVCN kiểm tra, chỉnh sửa gửi, cơ-trị cùng thống nhất, sau đĩ gửi về cho phụ huynh theo dõi và báo cáo (nếu HS vi phạm làm sai ). Thời gian quy định cho mỗi ngày tối đa là 3 tiếng (cho cả việc học tập và mục đích khác). HS cĩ thể cài đặt thời gian sử dụng trên điện thoại của mình để tự nhắc nhở. THỜI GIAN BIỂU Các hoạt động Thứ 2 Thứ 3 Thứ 4 Thứ 5 Thứ 6 Thứ 7 Chủ Điều nhật chỉnh Học bài ở nhà Làm việc nhà Sinh hoạt cá nhân Tự học thêm Dùng ĐTTM: - Vào mạng XH - Học tập - Tìm hiểu thêm các lĩnh vực khác - Giải trí 2. Biện pháp 2: Tăng cường cơng tác tuyên truyền cho học sinh cách sử dụng hiệu quả điện thoại thơng minh Sau khi nắm bắt được tình hình trên của lớp chủ nhiệm, tơi luơn gần gũi trao đổi và định hướng cho các em để các em biết sử dụng điện thoại đúng mục đích và hiệu quả. Cĩ dịp gần gũi các em là chúng tơi trị chuyện cởi mở, giới thiệu, gợi ý những trang web bổ ích, mang tính học tập cho học sinh cũng như giải trí lành mạnh cho HS. Trong các giờ sinh hoạt lớp hay hoạt động ngoại khĩa. Tưi đã hướng dẫn HS cách sử dụng các trang mạng xã hội như thế nào cho hiệu quả, hướng dẫn HS tìm kiếm và chia sẻ các thơng tin bổ ích. GVCN luơn cố gắng đổi mới và nâng cao hiệu quả của tiết sinh hoạt lớp. Thơng qua các tiết sinh hoạt lớp để học sinh cĩ nhận thức đúng đắn hơn về những mặt tích cực và tiêu cực của ĐTTM; từ đĩ cĩ hành động sử dụng phát huy tính tích cực. Tuyên truyền, động viên, giáo dục các em để các em thấy được: + Cần đặt nhiệm vụ học tập là quan trọng nhất, luơn tích cực học tập, tích lũy kiến thức các bộ mơn, trau dồi những kĩ năng sống cần thiết cho sự phát triển cả về thể chất và trí tuệ của mình. + Ngồi việc thu nhận kiến thức trên ĐTTM qua các trang Web, mạng xã hội các em cĩ thể học thêm về các lĩnh vực khác: nấu ăn, làm bánh, cắm hoa nghệ thuật, học vẽ online hay là tìm hiểu thêm những kiến thức về xã hội về con người . + Sử dụng ĐTTM một cách hiệu quả nhất: tư thế khi sử dụng, ánh sáng phù hợp, khơng sử dụng với thời gian nhiều và cần sử dụng với mục đích phục vụ học tập tích cực + Khi đăng tin bài trên facebook, tiktok phải đảm bảo: khơng vi phạm pháp luật nhà nước, cĩ nội dung lành mạnh, phù hợp thuần phong mỹ tục, phù hợp văn hĩa học đường. Tơi luơn chia sẻ các em HS “học ăn học nĩi học gĩi học mở” ngay từ việc nhỏ nhất là: ấn nút “like”, “share”, “comment” trên Facebook. Khơng phải trang Facebook, tiktok nào các em HS cũng kết bạn, làm quen và chia sẻ GVCN chỉ ra cho các em HS thấy được mặt trái của Facebook, tiktok và đặc biệt là khơng kết bạn, theo dõi những trang vi phạm đạo đức, pháp luật. HS cần chơi Facebook, tiktok, các trang mạng xã hội một cách cĩ văn hĩa. + Cĩ bản lĩnh, khơng bị bạn bè lơi kéo, dụ giỗ truy cập vào các trị chơi điện tử vơ bổ, khơng tốn tiền của gia đình vào những trị game, trang mạng xã hội tiêu cực, khơng phù hợp với lứa tuổi. + Cĩ lập trường khi tham gia các trang mạng xã hội, các diễn đàn và xây dựng cách giao tiếp, ứng xử cĩ văn hĩa 3. Biện pháp 3: Khơi dậy niềm đam mê học tập cho học sinh Là GVCN, chúng tơi hiểu rằng khơng ai khác mà chính là thầy cơ, đặc biệt thầy cơ chủ nhiệm là người trực tiếp khơi dậy đam mê học tập cho HS. Bởi chỉ khi nào HS yêu thích, say mê học tập thì mới giúp các em biết sử dụng điện thoại thơng minh đúng cách. Vậy thầy cơ chủ nhiệm cần làm gì? Trước hết GVCN cần khuyến khích học sinh tìm đọc các tài liệu học tập trên internet, trên mạng xã hội. Tất cả các tài liệu học tập ấy các em cĩ thể tìm thấy ở các trang web, hay những video các bài giảng trên Youtube, hoặc các trang Facebook của các bộ mơn: - Mơn Ngữ Văn cĩ các trang: Học Văn-Văn học, Mạng xã hội Văn học, quà tặng văn học - Mơn Tốn cĩ các trang: Học Tốn cơ Cúc ,Học giỏi Tốn, Học Tốn Khĩ cĩ thầy Anh .. - Mơn Vật Lý: Nhĩm Vật Lý phổ thơng,Vật Lý thiên văn . - Mơn Địa lí: Hội những người yêu thích Địa lí Việt Nam và Thế Giới . - Mơn Hĩa Học: Tơi yêu Hĩa học - Mơn Tiếng anh: Nhĩm những người thi Đại học khối D GVCN cần khuyến khích các em chia sẻ, tìm hiểu các tài liệu học tập trên trang cá nhân, hoặc yêu cầu các em viết các bài thu hoạch về mơn học do mình phụ trách. Thiết nghĩ đĩ cũng là cách làm giúp các em tiếp cận với tri thức, cĩ thĩi quen tìm hiểu những điều thiết thực khi sử dụng ĐTTM. Việc làm này các GVCN nên dựa vào lực học để cĩ thể cĩ những biện pháp khác nhau, như: Với nhĩm đối tượng HS khá giỏi: thầy cơ chủ nhiệm cần tích cực động viên khích lệ các em phát huy hơn nữa, khơng được sa đà và các trang mạng, các trị game để ảnh hưởng học tập. HS Khá - Giỏi sử dụng điện thoại thơng minh để phục vụ cho mục đích học tập Với nhĩm đối tượng HS trung bình và yếu kém: thầy cơ cần nhẹ nhàng, tâm sự, khuyên răn chỉ bảo, động viên, khích lệ các em. Cùng các em tìm hiểu nguyên nhân khiến các em học yếu kém và từng bước lấp đầy những lỗ hổng kiến thức, giúp các em biết ước mơ và thực hiện ước mơ của mình. Đặc biệt tơi đã xây dựng nhĩm học tập đơi bạn cùng tiến, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Người xưa dạy rằng “Học thầy khơng tày học bạn”. Chính vì vậy, trong quá trình giảng dạy bộ mơn GVCN cũng đã vận dụng biện pháp này và đạt được kết quả nhất định. Ngồi ra GV cịn lập nhĩm Zalo của lớp chủ nhiệm để kịp thời nhắc nhở, đơn đốc HS về mọi mặt, trong đĩ cĩ cả việc giao nhiệm vụ học tập, trao đổi kết quả tìm hiểu bài học ở nhà..để giúp các em thấy rằng điện thoại thơng minh là phương tiện học tập,tìm kiếm các tài liệu học tập hữu ích, là kênh thơng tin để giúp cơ-trị, bạn-bạn trao đổi kiến thức ngồi giờ lên lớp Nhĩm Zalo của các lớp hoạt động tích cực hàng ngày Đặc biệt với định hướng phát triển năng lực cho người học, GVBM đã cố gắng nỗ lực để phát hiện, bồi dưỡng, phát triển các năng lực của các em; để từ đĩ các em cĩ nhiều hứng thú với việc học. Ví dụ GV giao bài cho HS chuẩn bị ở nhà thơng qua hoạt động nhĩm, mỗi em đều được phân cơng nhiệm vụ cụ thể: Cĩ em sẽ chuẩn bị nội dung, em chịu trách nhiệm thuyết trình, em chịu trách nhiệm đặt câu hỏi cho nhĩm bạn...khi mỗi em được thể hiện sở trường của mình, các em sẽ rất tự tin và hứng thú. Mới mẻ nhất là từ chiếc ĐTTM các em cĩ thể cho khán giả xem các “Bộ Phim” do các nhà quay phim, diễn viên, các đạo diễn , các yếu tố về âm thanh, hình ảnh, kịch bản, hĩa trang, đạo cụ đều do chính các em tự biên tự diễn, rất tài hoa Ngồi ra các em cĩ thể dùng ĐTTM để cắt, chỉnh sửa, lồng ghép các video theo ý muốn của mình. Đĩ cũng là cơ hội giúp các em khám phá ra năng lực của mình để từ đĩ các em dễ dàng lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai. 4. Giải Pháp 4: Tăng cường các hoạt động tập thể, hoạt động ngoại khĩa cho học sinh Trong năm học, GVCN đã vận động, khích lệ, hướng dẫn học sinh tham gia nhiều hoạt động ngoại khĩa, hoạt động tập thể do Đồn Đội và nhà trường tổ chức như: cuộc thi vẽ tranh tuyên truyền, cuộc thi văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo VN, cuộc thi “Thầy cơ trong mắt em”, cuộc thi “Dân vũ sân trường” Các cuộc thi và các hoạt động phong trào đã thu hút số lượng đơng đảo các HS tham gia, với sự đầu tư cơng phu, đầy tính sáng tạo. Đặc biệt là các tiết học ngoại khĩa, hướng nghiệp về các chủ đề khác nhau. Học sinh đã mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ quan điểm, hiểu biết về thiên nhiên, con người ,cuộc sống, về việc định hướng nghề nghiệp. Một khi các em biết mình là ai? Mình cĩ những sở trường, sở đoản gì? Mình muốn gì? Thì chúng tơi tin các em sẽ biết mình phải làm gì? Hình ảnh một số hoạt động của Đồn Đội 5. Giải pháp5: Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh để hạn chế việc sử dụng điện thoại sai mục đích của học sinh GVCN thường xuyên liên lạc với phụ huynh để gia đình kịp thời nắm bắt việc học tập và rèn luyện của con, để cĩ những điều chỉnh phù hợp với từng đối tượng HS. GVCN tích cực trao đổi để phụ huynh thấy được việc “ép” con từ bỏ sử dụng ĐTTM để vào mạng xã hội hay chơi game là điều khĩ cĩ thể làm được trong “một sớm một chiều”. Điều tốt nhất mà các bậc cha mẹ cĩ thể làm đĩ là kiểm sốt và hạn chế hết mức tối đa việc con “đốt” thời gian vào các trang mạng xã hội, game online. Cha mẹ cĩ thể lập ra quy tắc “mỗi ngày cho con cĩ 1 tiếng cho việc sử dụng mạng xã hội trong 1 khung giờ cố định”. Và khơng nên cho học sinh tự giữ điện thoại riêng bên mình cả ngày, với những trường hợp cần thiết phải liên lạc với con nhiều trong ngày thì phụ huynh nên chỉ cho học sinh dùng điện thoại thường để liên lạc đúng chức năng nghe, gọi và nhắn tin thơng thường. Và dần dần khi các em đã giảm bớt được thời gian sử ĐTTM ngồi mục đích học tập thì phụ huynh cĩ thể khuyến khích, động viên các con tham gia các lớp học ngoại khĩa, cha mẹ cần tìm hiểu xem, con thực sự thích hoạt động nào, để giúp con dành hết tâm trí cho hoạt động đĩ đồng thời cĩ thể tạo dựng và gắn kết mối liên hệ giữa con với bạn bè cùng lớp. Hiện nay tại địa phương cĩ các lớp học võ,học vẽ, học đàn, học hát, hay các đội bĩng đá, bĩng chuyền của xĩm, xã là những địa chỉ vừa giúp con rèn luyện sức khỏe, tăng khả năng gắn kết với mọi người xung quanh và gĩp phần giúp con quên dần sự hiện hữu của các thiết bị cơng nghệ. Chỉ đơn giản việc khuyến khích con làm những gì con thích và theo đuổi đam mê của mình, bằng cách này, cha mẹ sẽ khiến con thực sự quên đi việc hao tốn thời gian và năng lượng của bản thân vào các trang mạng xã hội vơ bổ, những trị game đốt thời gian. Từ đĩ tích lũy cho con những kĩ năng mới và phát triển khả năng sáng tạo của con từ các lớp học ngoại khĩa,thậm chí cĩ thể khai phá những tiềm năng của con mà chúng ta chưa biết. Đĩ cũng là cách để chúng ta giúp con em của mình phát triển tồn diện nhất,vừa hạn chế những tác hại từviệc sử dụng ĐTTM của các em. 6. Giải Pháp 6: Cơng tác phối hợp với nhà trường và giáo viên bộ mơn Nhà trường cần tổ chức các hoạt động, trị chơi lành mạnh, tổ chức ngoại khĩa bổ ích trong và ngồi giờ học. Tăng cường cơng tác quản lý và thi đua, tuyên truyền giáo dục để học sinh tự ý thức và nâng cao nhận thức của mình về những mặt tốt, xấu của điện thoại thơng minh. Tổ chức những câu lạc bộ vui chơi trong phạm vi trường học để tạo sân chơi cho những bạn học sinh. Hiện nay trong trường chúng tơi đã cĩ 1 số câu lạc bộ như: Câu lạc bộ Tốn học, Câu lạc bộ Tiếng Anh, Câu lạc bộ Văn học dân gian, Câu lạc bộ những người yêu âm nhạc Các câu lạc bộ hiện đang tạo ra sức hút lớn đối với học sinh,lơi cuốn số lượng đơng đảo các HS tham gia. Chúng tơi thực sự hạnh phúc khi thấy HS đã sẵn sàng để chiếc điện thoại xuống, tìm đến những cuốn sách. Là GVCN, chúng tơi luơn định hướng HS tìm chọn và đọc những cuốn sách phù hợp với lứa tuổi, phục vụ cho việc học tập, rèn luyện và phát triển nhân cách cho các em. GVBM cần tích cực đổi mới phương pháp bài dạy, tăng cường các hoạt động học cho học sinh. Trong nhiều tiết dạy, nếu cần sự hỗ trợ của điện thoại thơng minh thì cần sử dụng và phát huy hiệu quả sử dụng đến từng em học sinh.Ví dụ như sử dụng trị chơi Quizizz, HS rất tích cực và hứng thú với việc tìm câu trả lời,và từ đĩ cĩ thể nhận ra rằng: hĩa ra điện thoại khơng chỉ dùng để chơi game, lướt FB, tiktok, chơi tiền ảo mà điện thoại là 1 phương tiện học tập rất hữu ích. Để chuẩn bị cho tiết học, GV cĩ thể yêu cầu HS chuẩn bị bài mới bằng việc tìm tịi các kiến thức trên mạng, dùng các phần mền để thiết kế nội dung chuẩn bị đĩ cho bài mới,đĩ cũng là cách khích lệ các em tìm hiểu kiến thức bài học ,tiếp cận nhiều khía cạnh của thế giới cơng nghệ, vận dụng hiệu quả vào việc học tâp. Giải bĩng đá trường học theo độ tuổi, khối lớp Ngồi ra, với sự ra đời của Tổ tư vấn tâm lý học đường, GV trong ban đã đưa ra các giải pháp để tư vấn HS sử dụng ĐTTM, sử dụng mạng Xã hội, giúp Hs đã thay đổi nhận thức, biết cách dùng ĐTTM hữu ích hơn... PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP Điều bất ngờ mà tơi nhận được là sau một thời gian sử dụng giải pháp định hướng cho HS cách sử dụng ĐTTM qua cơng tác chủ nhiệm, tơi thấy mục đích sử dụng ĐTTTM của các em cĩ sự thay đổi theo chiều hướng tích cực. Từ chỗ sử dụng ĐTTM chủ yếu để giải trí nay chuyển sang tìm kiếm tài liệu học tập. Cụ thể: Mục đích sử dụng Thời Thời ĐT trong ngày gian sử gian sử Tổng Số HS sử Số HS cĩ dụng ĐT dụng ĐT số dụng Mục ĐT >3 giờ 1-> 3 giờ Lớp HS ĐTTM Học tập đích trong trong khảo ngày ngày khác sát SL % SL % SL % SL % SL % SL % 9A2 39 39 100 39 100 15 38,4 24 61,6 28 71,8 11 28,2 Sau khi áp dụng các nhĩm giải pháp trên,GVCN đã thu được kết quả đáng mừng: học sinh đã cĩ những nhận thức thay đổi tích cực về việc sử dụng điện thoại thơng minh, đa số các em đã giảm thời gian truy cập vào mạng xã hội cũng như chơi game, các em đã biết cách truy cập các trang giải trí lành mạnh, bổ ích. + HS nĩi và viết đúng chính tả, đúng thuần phong mỹ tục. + Kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, ứng xử của HS được cải thiện và nâng cao... Số lượng học sinh sử dụng ĐTTM trên 3 giờ trong một ngày giảm hẳn. Số học sinh dùng với mục đích phục vụ học tập cũng tăng lên đáng kể Sau khi áp dụng nhĩm giải pháp trên, tơi nhận thấy rằng các em đã cĩ những thay đổi tích cực: vui vẻ, chan hịa, cởi mở, thân thiện với bạn bè. Đến giờ ra chơi các em khơng ngồi ru rú trong lớp để dùng ĐTTM mà cùng nhau trị chuyện, trao đổi nội dung học tập, hoặc ra hành lang sân trường để chơi cầu lơng, đá kiện....Những điều đĩ cho thấy các em đã thay đổi cả về nhận thức và hành động PHẦN D. CAM KẾT Tơi xin cam kết biện pháp: “Định hướng cho học sinh THCS cách sử dụng điện thoại thơng minh hữu ích thơng qua cơng tác chủ nhiệm ” khơng sao chép hoặc vi phạm bản quyền; các biện pháp triển khai thực hiện tại đơn vị nhà trường đã và đang được áp dụng cĩ hiệu quả. Yên Dũng, ngày 29 tháng 02 năm 2024. GIÁO VIÊN Nguyễn Văn Thắng PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG . THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ (ký và đĩng dấu)
Tài liệu đính kèm: