Báo cáo tóm tắt Các giải pháp dạy các bài thí nghiệm hiệu quả trong môn Vật lí 9

docx 17 trang Người đăng Hàn Na Ngày đăng 24/11/2025 Lượt xem 24Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo tóm tắt Các giải pháp dạy các bài thí nghiệm hiệu quả trong môn Vật lí 9", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 BÁO CÁO TÓM TẮT
 ( Sáng kiến cấp Tỉnh)
 Tên sáng kiến: Các giải pháp dạy các bài thí nghiệm hiệu quả trong 
 môn Vật lí 9
 NĂM HỌC 2022-2023
I. Sơ lược lý lịch:
 - Họ và tên: Trần Văn Tiến Năm sinh: 1990
 - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đại học sư phạm vật lí
 - Chức năng, nhiệm vụ được giao: Giảng dạy môn vật lí
 - Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên, trường THCS Võ Thị Sáu.
II. Nội dung:
 1. Sự cần thiết của thí nghiệm trong dạy học môn Vật lí.
 Làm các thí nghiệm vật lí ở nhà trường là một trong các biện pháp quan 
trọng nhất để phấn đấu nâng cao chất lượng dạy và học Vật lí. Môn Vật lý là môn 
khoa học thực nghiệm là môn có tác dụng to lớn trong việc giáo dục kỹ thuật tổng 
hợp. Do đó, đòi hỏi các kiến thức ở môn này phải rút ra từ các thí nghiệm, hiện 
tượng, thí nghiệm mà các em đã làm, đã quan sát được. Người xưa có câu “ trăm 
nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một lần trải nghiệm”.Do đó, 
việc học sinh được làm và quan sát thí nghiệm thực hành là rất cần thiết, vì các 
kiến thức mà em rút ra được từ các thí nghiệm thực hành do chính các em gây ra 
sẽ giúp các em dễ hiểu, hứng thú, nhớ lâu, sáng tạo và vận dụng vào trong thực 
tế.
 - Tuy nhiên nhiều bài học trong sách giáo khoa vật lí 9 không phải lúc nào 
cũng có đồ dùng thí nghiệm để các em có thể tự thực hiện thí nghiệm hay quan 
sát các thí nghiệm. 
 - Trường THCS Võ Thị Sáu nằm trên địa bàn thuộc xã khó khăn nên điều 
kiện cơ sở vật chất còn thiếu nên có không ít giáo viên còn lúng túng khi ứng dụng 
công nghệ thông tin trong dạy học.
 1 - Đa số gia đình các em khó khăn nên ngoài công việc học đa số các em còn 
phụ giúp gia đình không dành nhiều thời gian cho việc học tập các môn học có 
thực hành thí nghiệm. 
 - Ngoài việc hình thành các kiến thức của bộ môn, một yêu cầu không thể 
thiếu được là hình thành cho các em kĩ năng bố trí, lắp ráp, tiến hành các thí 
nghiệm, phân tích, tổng hợp kết quả thí nghiệm thực hành để đi đến kiến thức. 
Song do dụng cụ thí nghiệm bị hư hỏng nên không thể tổ chức cho các em thực 
hiện thí nghiệm trực tiếp cho các em quan sát mà chỉ thông qua thí nghiệm mô 
phỏng trên màn hình tivi.
 Ví dụ: Dạy các bài của Vật lý 9: chủ đề các yếu tố ảnh hưởng đến đến trở 
của dây dẫn để làm rõ hơn sự phụ thuộc của điện trở dây dẫn phụ thuộc vào chiều 
dài, vào tiết diện dây dẫn, vào vật liệu làm dây dẫn, thì cần làm thí nghiệm từng 
yếu tố để học sinh thấy được điện trở của dây dẫn phụ thuộc của từng yếu tố như 
thế nào. Từ đó các em có thể rút ra kết luận. Tuy nhiên ở phần này giáo viên chỉ 
có thể cho các em xem thí nghiệm mô phỏng rồi chủ yếu rút ra nhận xét và nêu 
 
công thức R = .
 S
 - Trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm phục vụ cho công tác giảng dạy còn thiếu 
nhiều hoặc không đồng bộ, nhiều năm không trang bị lại, dụng cụ thí nghiệm kém 
chất lượng, không chính xác nên việc chuẩn bị cho tiết dạy gặp nhiều khó khăn.
 - Tình trạng chung hiện nay là học sinh còn thụ động nên ý thức về việc sử 
dụng dụng cụ thí nghiệm trong tiết học còn xem nhẹ.
 - Một số đối tượng học sinh chưa tích cực, không chịu khó nghiên cứu trước 
 nội dung của bài mới nên chưa tự mình làm thí nghiệm được để rút ra kiến thức. 
 Do đó kết quả chất lượng giờ học Vật lý thật sự chưa mang lại hiệu quả cao.
Thường thì khi gặp những trở ngại trên giáo viên sẽ phải dạy “chay” nên chất 
lượng giờ dạy chưa cao. Chính vì những vấn đề này đã làm cho học sinh nắm kiến 
thức một cách mơ hồ, máy móc, không hiểu rõ được bản chất, hiện tượng quy luật 
của sự vật...
 2 Với sự nổ lực và quyết tâm cao của bản thân, rút kinh nghiệm từ các tiết dạy 
trước và trao dồi học hỏi từ các đồng nghiệp, từng bước đã vượt qua khó khăn ban 
đầu. Để làm sao tiết dạy học của mình có hiểu quả làm các em thích thú hớn trong 
qua trình học tập môn Vật lí.
2. Mục tiêu và các giải pháp dạy các bài thí nghiệm hiệu quả 
2.1. Mục tiêu.
 - Tìm hiểu về phương pháp dạy học các bài thí nghiệm trong Vật lí 9
 - Nêu lên một số giải pháp dạy tiết học thí nghiệm, thực hành có hiệu quả 
đối với môn Vật lí 9.
 - Trao đổi kinh nghiệm trong việc tìm giải pháp thay thế khi thiếu đồ thí 
nghiệm.
 - Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong dạy và học.
 - Học sinh có hứng thú học hơn với môn học Vật lí 9 
2.2. Các giải pháp
 2.2.1. Sử dụng thí nghiệm để giải quyết vấn đề
 - Dạy học các bài thí nghiệm có nhiều tác dụng, chức năng như: giải quyết 
vấn đề, làm xuất hiện vấn đề, kiểm tra tính đúng đắn của các giả thuyết. Tùy vào 
tác dụng và chức năng mà ta có thể sử dụng các thí nghiệm khác nhau. Khi sử 
dụng thí nghiệm để giải quyết vấn đề, tôi thường làm theo cách sau:
 Bước 1: Chuẩn bị
 - Đầu tiên, dẫn dắt học sinh tạo ra tình huống có vấn đề và học sinh mong 
muốn được giải quyết vấn đề đó.
 - Hướng dẫn học sinh xây dựng phương án thí nghiệm.
 - Để giải quyết vấn đề thì phải làm thí nghiệm. Vậy thì cần dụng cụ gì và 
làm như thế nào?
 - Học sinh sẽ đề xuất các phương án thí nghiệm( dụng dụ cần có, cách tiến 
hành, cách đo số liệu và xử lí số liệu).
 - Giáo viên cùng học sinh phân tích các phương án của học sinh.
 - Giáo viên hướng học sinh về phương án mà giáo viên đã chuẩn bị.
 Bước 2: Tiến hành thí nghiệm
 3 - Đối với các bài dạy có đồ dùng thí nghiệm: Tiến hành thí nghiệm mà giáo 
viên đã chuẩn bị, trong quá trình thí nghiệm giáo viên theo dõi và giúp đỡ các 
nhóm gặp khó khăn, nếu cần thì giáo viên yêu cầu các nhóm tạm dừng thí nghiệm 
để hướng dẫn và bổ sung.
 - Đối với các bài dạy không có đồ dùng thí nghiệm: Tiến hành thí nghiệm 
bằng cách cho học sinh xem các đoạn video thí nghiệm mà giáo viên đã chuẩn bị.
 Bước 3: Xử lí kết quả thí nghiệm
 - Học sinh dựa vào kết quả thí nghiệm để thảo luận và tìm ra kiến thức mới. 
Với thí nghiệm thực hành kiểm nghiệm, nhóm làm báo cáo thực hành phải ghi rõ 
nhận xét và so sánh kết quả thí nghiệm với lý thuyết đã học. Các thí nghiệm tính 
toán thì mỗi cá nhân tính toán độc lập rồi so sánh kết quả nhóm.
 - Từ các thí nghiệm học sinh có thể giải quyết được vấn đề được đặt ra.
 Bước 4: Tổng kết thí nghiệm
 - Giáo viện phân tích kết quả thí nghiệm, giải đáp thắc mắc.
 2.2.2. Tổ chức dạy thí nghiệm theo trạm
 + Bước 1: Lựa chọn nội dung hệ thống trạm học tập. Mỗi bài học hay chủ 
đề được xây dựng thành các nội dung khác nhau. Lớp học được chia ra thành 
nhiều trạm, mỗi trạm có một nhiệm vụ độc lập tương ứng với nội dung bài học. 
Các kiến thức độc lập với nhau trong một bài học có thể xây dựng thành một hệ 
thống trạm. 
 + Bước 2: Xây dựng nội dung các trạm. Ở mỗi trạm học tập có thể xây 
dựng các loại nhiệm vụ phong phú. Nhiệm vụ học tập ở các trạm có thể thực hiện 
theo hướng dẫn sau: 
 - Nhiệm vụ: Trả lời câu hỏi trong phiếu học tập, tiến hành thí nghiệm, và 
xử lí kết quả thí nghiệm, giải thích thí nghiệm, hiện tượng. Làm việc mới máy 
tính: chạy phần mềm mô phỏng, xem clips, sử dụng phần mềm Pwerpoint, giải 
bài tập, mô tả lại nguyên tắc cấu tạo và hoạt động của một số thiết bị kỹ thuật.
 - Phiếu học tập: Có câu hỏi định hướng, thực hiện đầy đủ theo quy trình thí 
nghiệm, ghi lại, chụp laị kết quả, có ảnh chụp hiện tượng, trao đổi, đóng góp ý 
 4 kiến để giải thích hiện tượng, có thể sử dụng các kĩ thuật ra bài tập dưới dạng trắc 
nghiệm, điền khuyết, các hướng dẫn cách sử dụng máy tính, có sơ đồ hướng dẫn 
hoặc ảnh chụp màn hình nhiệm vụ cần thực hiện: quan sát, mô tả, tóm tắt, ghi số 
liệu. Giáo viên thiết kế bài tập phù hợp nội dung, có khoảng không gian để vẽ sơ 
đồ, cấu tạo hay minh họa các thiết bị.
 - Vật liệu đi kèm: Các bộ thí nghiệm, thiết bị thí nghiệm, Giáo viên Có thể 
chuẩn bị dụng cụ để tạo ra hiện tượng cần giải thích. Trong máy tính có cài đặt 
sẵn phần mền, tư liệu dạy học hay kĩ thuật số tương ứng.
 + Bước 3: Tổ chức dạy học theo trạm trải qua các giai đoan: 
 * Chuẩn bị nguyên vật liệu cho từng trạm. 
 * Thống nhất nội quy làm việc theo trạm với học sinh.
 * Học sinh tiến hành các nhiệm vụ học tập trong từng trạm. 
 * Tổng kết, hệ thống hóa các kiến thức.
 2.2.3. Tự làm đồ dùng dạy học
 - Dạy học các tiết thí nghiệm luôn khó khăn do thiếu dụng cụ thí nghiệm 
hoặc trường hợp có dụng cụ nhưng mà quá trình thực hiện thí nghiệm cho kết quả 
khó thấy. Do đó giáo viên phải tìm các giải pháp để thay thế đối với những thí 
nghiệm đơn giản giáo viên có thể tự làm đồ dùng thí nghiệm để giúp các em có 
thể hình dung được thí nghiệm từ đó có thể rút ra được nhận xét, kết luận.
- Khi dạy bài chủ đề: “Nam châm vĩnh cửu và tác dụng từ của dòng điện” – phần 
Điện từ học Vật lí 9. Trong phần II: “Tương tác giữa hai nam châm”, nếu trình 
bày thí nghiệm như hình 21.3 SGK(59) là dùng thanh nam châm thẳng đưa lại gần 
kim nam châm thì chúng ta rất khó đưa ra kết quả mong muốn bởi bản chất kim 
nam châm rất nhẹ nên khi đưa một cực của thanh nam châm thẳng lại gần kim 
nam châm sẽ khó nhận thấy sự tương tác ( hút hoặc đẩy) của kim và thanh nam 
châm. Để khắc phục tình trạng trên tôi sẽ dùng hai thanh nam châm thẳng và thiết 
kế thêm một đế hình trụ bằng gỗ rồi sau đó đặt một trong hai thanh nam châm 
thẳng lên đế gỗ tiến hành làm thí nghiệm. Khi đó sự tương tác giữa hai thanh nam 
 5 châm (hút hoặc đẩy) được thể hiện cụ thể, các em học sinh có thể quan sát rõ ràng 
được hiện tượng này.
 Hình 1. Đồ dùng thí nghiệm tự làm kiểm tra sự tương tác giữa các nam châm
 Hình 2. Đồ dùng thí nghiệm tự làm kiểm tra tác dụng từ của dòng điện
 2.2.4. Sưu tầm video thí nghiệm có sẵn
- Trong thực tế, không phải thí nghiệm nào cũng có đồ dùng thí nghiệm, với một 
số trường hợp thì dạy học thí nghiệm có dụng cụ nhưng chỉ mang tính chất định 
tính. Trong dạy học thí nghiệm có đồ dùng dạy học hay không có đồ dùng dạy 
học hoặc đồ dùng không còn tốt thì mỗi giáo viên vẫn nên hướng dẫn học sinh 
xây dựng các phương án thí nghiệm (thí nghiệm tư duy). Giáo viên có thể sưu tầm 
những video thí nghiệm có sẵn và biên tập bằng các công cụ có sẵn trên máy tính, 
trong windows 10, áp dụng công cụ biên tập video như video Editor . Việc biên 
tập lại thí nghiệm có sẵn trên mạng để cho các em xem các thí nghiệm này để thay 
thế thí nghiệm ảo nhằm mục đích tăng sự hứng thú trong học tập đối với học sinh.
 6 Hình 3. Video thí nghiệm về lực điện từ tác dụng lên khung dây
2.2.5. Sử dụng thí nghiệm ảo
 Trong trường hợp thiếu dụng đồ dùng thí nghiệm và không sưu tầm được 
video thí nghiệm có sẵn thì ta có thể sử dụng thí nghiệm ảo cho học sinh quan sát 
các hiện tượng xảy ra.
 a) Quy trình sử dụng thí nghiệm ảo trong dạy học Vật lí 9:
 Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
 Việc xác định mục tiêu bài học là rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc 
biệt, vì qua đó mới xác định được phương hướng, tiêu chí để quyết định về nội 
dung, phương pháp, phương tiện dạy học. Thực hiện bước này có thể phòng tránh 
trường hợp sử dụng các thí nghiệm ảo đi quá xa so với mục tiêu bài học.
 Bước 2: Xác định vai trò của thí nghiệm đối với mục tiêu dạy học
 Căn cứ vào mục tiêu và nội dung bài học, để đánh giá vai trò của thí nghiệm 
đối với việc hoàn thành các yêu cầu của bài học. Tùy theo mục tiêu cụ thể của 
từng bài học khác nhau để xác định mức độ ưu tiêu của từng loại hình thí nghiệm 
theo các mức độ khác nhau.
 Bước 3: Xây dựng danh mục thí nghiệm ảo liên quan đến nội dung bài 
học
 7 Sau khi kiểm tra tình hình sử dụng của thí nghiệm, giáo viên cần nghiên 
cứu kĩ các nội dung kiến thức liên quan đến bài học, phân tích các hiện tượng vật 
lí xảy ra để thấy rõ cơ chế của hiện tượng. Qua đó giáo viên định hướng, lập danh 
sách các thí nghiệm ảo cụ thể cần dùng trong bài, cũng như cách sử dụng của thí 
nghiệm ảo trong từng đơn vị kiến thức. Đây là giai đoạn chuẩn bị tư liệu, thiết bị 
cho bài học. Để hệ thống hóa các thí nghiệm ảo một cách khoa học và đầy đủ, 
giáo viên có thể khai thác, sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau như: internet, đĩa 
CD, VCD, DVD, hoặc tự thiết kế thí nghiệm ảo dựa trên các phần mềm hỗ trợ...
Những thí nghiệm này nên được tập trung lại và tổ chức lưu trữ trên máy vi tính, 
tạo sự tiện lợi trong quá trình dạy học
Bảng 1: Thống kê các nội dung sử dụng thí nghiệm ảo trong phần “điện từ 
học”
 Nội dung sử dụng 
 Số lượng thí 
 STT Tên bài sử dụng thí nghiệm 
 nghiệm ảo
 ảo
 Chủ đề: Nam châm vĩnh cửu - Tương tác của nam 02
 và tác dụng từ của dòng diện, châm lên nam châm
 1
 Từ trường - Tương tác của dòng 01
 điện với nam châm.
 2 Sự nhiễm từ của sắt, thép – Thí nghiệm sự nhiễm 03
 nam châm điện. từ của sắt, thép
 Bước 4: Lựa chọn phương pháp dạy học chủ đạo
 Hiện nay, có nhiều PPDH tích cực phù hợp với đặc thù của dạy học Vật lí 
và có thể phát huy hiệu quả của thí nghiệm trong dạy học. Tuy nhiên, phương 
pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp tối ưu mà tôi thường 
lựa chọn khi dạy học sử dụng thí nghiệm ảo trong phần “điện từ học”.
 Bước 5: Thiết kế tiến trình dạy học
 Lên kế hoạch dạy học chi tiết đồng nghĩa với việc thiết kế hoàn chỉnh cho 
tiết dạy. Sản phẩm của việc làm này là giáo án chi tiết về quá trình dạy học sẽ diễn 
ra. Kế hoạch dạy học càng chi tiết bao nhiêu thì hiệu quả giờ học sẽ chất lượng 
 8 bấy nhiêu. Kế hoạch dạy học cần thể hiện rõ ý đồ mà mục đích của các phương 
án sử dụng thí nghiệm ảo đã được xác định ở các bước trước đó.
 Bước 6: Tổ chức dạy học theo tiến trình đã thiết kế
 Đây là giai đoạn giáo viên hiện thực hoá ý tưởng dạy học đã xây dựng trên 
những đối tượng học sinh cụ thể. Qua đây, giáo viên sẽ đánh giá được sự phù hợp 
của các phương án dạy học và có sự điều chỉnh hợp lí.
Sau khi tổ chức dạy học nội dung “điện từ học”, giáo viên cũng cần đánh giá các 
mặt như:
 + Tính phù hợp thực tế dạy học với thời lượng dự kiến.
 + Mức độ đạt được mục tiêu học tập qua đánh giá các hoạt động học tập.
 + Sự hứng thú của học sinh thông qua quan sát.
 + Mức độ khả thi với điều kiện cơ sở vật chất.
 Việc đánh giá tổng thể sẽ giúp giáo viên điều chỉnh kế hoạch dạy học cho phù 
hợp hơn. Mặt khác, đánh giá học sinh cho phép giáo viên có thể biết được mục 
tiêu dạy học đề ra có đạt được hay không. Mục tiêu dạy học có thể được thực 
hiện thông qua các hoạt động dạy học và thông qua các công cụ đánh giá.
b) Thiết kế thí nghiệm ảo 
 Giáo viên có thể tự tạo thí nghiệm ảo bằng các phần mềm hỗ trợ như: Phần 
mềm thiết kế thí nghiệm Vật lí ảo Crocodile Physics; Phần mềm Microsoft Office 
PowerPoint. Phần mềm Microsoft Office PowerPoint là chủ đạo trong bài giảng 
điện tử hiện nay, phần mềm này cho phép làm môi trường liên kết các phần mềm 
thí nghiệm ảo, hiển thị âm thanh, hình ảnh, video. Một số thí nghiệm đơn giản 
cũng có thể sử dụng phần mềm này để xây dựng.
 Hình 4. Thí nghiệm ảo về dòng diện xoay chiều cảm ứng
 9 2.2.6. Các giải pháp khác.
 Trước hết, chúng ta phải nhận thức được việc sử dụng đồ dùng dạy học và 
các công hỗ trợ trong dạy học sẽ nâng cao chất lượng dạy học, giờ dạy của mỗi 
giáo viên sẽ nhẹ nhàng hơn và học sinh tiếp nhận kiến thức đầy đủ, trọn vẹn.
- Để thí nghiệm được thực hiện thành công thì giáo viên phải chuẩn bị thật kỹ tiết 
dạy: giáo án, đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học và trước khi thực hành. Các thí 
nghiệm giáo viên đều phải có khâu chuẩn bị chu đáo, tiến hành thử nghiệm trước, 
điều chỉnh cho phù hợp, đặc biệt là với các thí nghiệm có kết quả không thống 
nhất với nhau. Giáo viên phải hình dung các phương án học sinh đề xuất để nhận 
xét, đánh giá, hướng dẫn học sinh phân tích xem phương án nào đúng, sai, thiếu, 
thừa. 
 Hình 5. Làm thí nghiệm trước mỗi tiết dạy
 10 - Đối với những bộ thí nghiệm không thể đo được định lượng thì giáo viên vẫn 
cần giới thiệu thí nghiệm, cách tiến hành, cách xử lí số liệu đến học sinh và sau 
đó cung cấp số liệu để học sinh xử lí.
Ví dụ: Trong chủ đề các yếu tố ảnh hưởng đến điện trở 
- Thường xuyên nhắc nhở các em học bài, chuẩn bị bài mới trước mỗi tiết học là 
công việc cần thiết, góp phần thành công trong mỗi giờ dạy.
- Dạy và học là một hành trình truyền đạt và lĩnh hội tri thức thế nhưng không 
phải người giáo viên nào cũng thành công khi đứng lớp bởi để tạo được một tiết 
dạy thu hút, hứng thú với học sinh là vấn đề không hề đơn giản. Giáo viên phải 
có những kĩ năng truyền đạt thông tin và tính logic trong chuỗi thông tin một cách 
đơn giản, dễ hiểu. Việc sử dụng ngôn từ, truyền đạt phải chính xác và dễ tiếp nhận 
góp phần không nhỏ cho một giờ học có hiệu quả.
2.3. Vận dụng trong tiết dạy môn Vật lí 9
 - Chuẩn bị: Khi dạy bài chủ đề lực điện từ và động cơ điện một chiều do 
thiếu các đồ dùng thí nghiệm, nên trong tiết dạy giáo viên đã chuẩn bị sưu tầm 
các video thí nghiệm có sẵn trên mạng về tác dụng của từ trường lên đoạn dây dẫn 
 11 khi có dòng điện và thí nghiệm chiều của lực điện từ phụ thuộc vào những yếu tố 
nào. Mặc dù sưu tầm video thí nghiệm tuy nhiên trong quá trình dạy tiết, giáo viên 
đã dẫn dắt học sinh tạo ra tình huống có vấn đề ở các tiết học trước các em đã 
được học dòng điện chạy qua dây dẫn thẳng hay dây dẫn có hình dạng bất kì đều 
gây ra tác dụng lực lên kim nam châm đặt gần nó. Vậy trong trường hợp ngược 
lại liệu, nam châm có tác dụng lực lên dòng điện hay không. Khi giáo viên đặt ra 
tình huống có vấn đề như vậy. Từ đó học sinh sẽ mong muốn được giải quyết vấn 
đề liệu nam châm có tác dụng lực lên dòng điện hay không.
 + Hướng dẫn học sinh xây dựng phương án thí nghiệm
 + Để giải quyết vấn đề thì phải làm thí nghiệm. Vậy thì cần dụng cụ gì và 
làm như thế nào?
 + Học sinh sẽ đề xuất các phương án thí nghiệm để học sinh nắm được mục 
đích của thí nghiệm. 
 - Tiến hành thí nghiệm: Bằng cách cho em xem các video thí nghiệm mà 
giáo viên đã chuẩn bị sẵn.
 + Giáo viên đặt câu hỏi: Hiện tượng gì xảy ra với khung dây dẫn? Hiện tượng 
đó chứng tỏ điều gì? các em quan sát thí nghiệm thì sẽ thấy rất rõ khi đóng công 
tắc thì khung dây bị đẩy ra xa và điều đó chứng tỏ phải có một lực tác dụng lên 
khung dây dẫn làm cho khung dây bị đẩy ra và lực này là lực điện từ.
 - Xử lí kết quả thí nghiệm: Học sinh dựa vào kết quả thí nghiệm để thảo luận 
và đưa ra kết luận.
 + Từ trường tác dụng lực lên khung dây dẫn có dòng điện chạy qua khi đặt 
trong từ trường. Lực này gọi là lực điện từ. 
 + Học sinh từ đó giải quyết được vấn đề mà giáo viên nêu ra ở đầu bài. Nam 
châm tác dụng lực lên dây dẫn và lực này gọi là lực điện từ.
 - Tổng kết thí nghiệm: Các em đã biết xung quanh nam châm có từ trường vì 
vậy khi đặt khung dây trong từ trường và cho dòng điện chạy qua khung dây thì 
từ trường đã tác dụng lực điện từ lên lên khung dây làm cho khung dây dịch 
chuyển ra xa. Ngoài ra trong tiết dạy này giáo viên sử dụng thí nghiệm biểu diễn 
để kiểm tra lại quy tắc bàn tay trái
 12 KẾT LUẬN
 Việc chuẩn bị cho tiết dạy các bài thí nghiệm, thực hành trong dạy học trực 
tuyến môn Vật lí là điều cần thiết để giúp các em có thể quan sát một cách trực 
quan các thí nghiệm từ đó có thể hình dung được các sự vật các hiện tượng xảy ra 
trong thực tế và giải thích các hiện tượng trong thực tế. 
 Trên đây là một số khó khăn trong giảng dạy thí nghiệm, thực hành đối với 
môn vật lý và đề ra một vài giải pháp khắc phục các khó khăn đó mà tôi thực hiện 
góp phần nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến đối với môn Vật lí tại đơn vị.
 3. Phạm vi áp dụng, khả năng phổ biến 
 Tiến hành áp dụng thực nghiệm : Năm học 2021-2022: Tại lớp 9A, 9B 
trường THCS Võ Thị Sáu.
 Các biện pháp tôi nêu trên phù hợp với môn Vật lí, dễ vận dụng rộng rãi 
trong nhà trường và và các môn khoa học tự nhiên khác.
 4. Thời điểm công nhận
 Năm học 2022 – 2023
 5. Hiệu quả mang lại
 Sau khi áp dụng một số thiết kế và sử dụng thí nghiệm trong Vật lí lớp 
9 năm học 2021-2022 thì bản thân tôi nhận thấy được một số kết quả như sau:
 - Chất lượng môn Vật lý lớp 9 từng bước có tiến bộ, qua mỗi thời điểm kiểm tra 
số học sinh giỏi, khá tăng lên, tỷ lệ học sinh yếu giảm dần. Cụ thể trong năm học 
2021-2022 tôi được phân công dạy bộ môn Vật lí lớp 9, trường THCS Võ Thị 
Sáu, huyện Đông Hải, Bạc liêu. Khi so sánh chất lượng bộ môn đầu năm học và 
cuối học kì 2 học tôi nhận thấy kết quả như sau:
- Năm học 2021 -2022: kết quả học kì 1 trước khi áp dụng giải pháp
 Trung 
 Sĩ Giỏi Khá Yếu Kém
 Lớp Môn bình
 số
 SL % SL % SL % SL % SL %
 Vật 
 9 81 15 18,52 28 34,57 29 35,8 9 11,11
 lí
 13 - Năm học 2021 -2022 kết quả học kì 2 sau khi áp dụng giải pháp
 Trung 
 Sĩ Giỏi Khá Yếu Kém
 Lớp Môn bình
 số
 SL % SL % SL % SL % SL %
 Vật 
 9 81 22 27,16 33 40,74 26 32,1
 lí
- Qua việc áp dụng phương pháp dạy học các bài thí nghiệm vào thực tế giảng dạy 
trong 2 năm học 2021-2022, 2022-2023, tôi nhận thấy chất lượng học tập của học 
sinh sau mỗi tiết dạy thí nghiệm Vật Lý 9 được nâng lên rõ rệt. Từ những học sinh 
có thái độ học e dè, thụ động, chưa nắm rõ cách thí nghiệm đã tích cực, chủ động 
học tập trong các bài thí nghiệm và thực hành. Các em đã có những hứng thú, say 
mê trong các tiết học ở môn Vật lí 9.
 6. Những đơn vị, cá nhân nào đã ứng dụng sáng kiến này
 Giáo viên môn Vật lí đã ứng dụng sáng kiến này trong đơn vị năm học 
2022-2023.
 Long Điền Tây, ngày 10 tháng 02 năm 2023
 XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG NGƯỜI BÁO CÁO
 SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ
 Trần Văn Tiến
 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO
 1. Đỗ Mạnh Cường (2008). Giáo trình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy 
học, NXB Đại học quốc gia TP HCM.
 2. Dương Bích Thảo(2011), giáo trình thiết kế giáo án điện tử.
 Website:
1. 
_theo_tr%E1%BA%A1m 
2. 
vat-ly-9.htm
3. 
cao-chat-luong-gio-hoc-vat-li-10545/
 15 HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
Trường THCS Võ Thị Sáu
 PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ, CÔNG NHẬN
 SÁNG KIẾN 
 - Tính mới /35 điểm
 - Tính hiệu quả /30 điểm
 - Tính ứng dụng . /20 điểm
 - Tính phù hợp với nhiệm vụ được giao ./10 điểm
 - Về hình thức: ./ 05 điểm
 LĐT, ngày ..tháng năm 2023
 CHỦ TỊCH HĐKH
 16 HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
 TRƯỜNG THCS VÕ THỊ SÁU
 --------
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
CÁC GIẢI PHÁP DẠY CÁC BÀI THÍ NGHIỆM HIỆU 
 QUẢ TRONG MÔN VẬT LÍ 9
 Họ và tên: Trần Văn Tiến
 Môn: Vật Lí
 Long Điền Tây, ngày 10 tháng 02 năm 2023
 17

Tài liệu đính kèm:

  • docxbao_cao_tom_tat_cac_giai_phap_day_cac_bai_thi_nghiem_hieu_qu.docx