LỜI NÓI ĐẦU Kính thưa quý thầy, cô giáo và các em học sinh thân mến! Môn Ngữ văn là một trong những môn thi vào 10 trong cả nước. Để đạt kết quả tốt trong kì thi vào lớp 10 nói chung và kì thi học sinh giỏi noi riêng. Bằng kinh nghiệm và thực tiễn giảng dạy với trăn trở tâm huyết nghề nghiệp. Sau một thời gian dài nghiên cứu, tôi đã sưu tầm và biên soạn cuốn tài liệu Bộ đề ôn luyện thi vào lớp 10 nhằm giúp các em học sinh khối lớp 9 có những tư liệu kiến thức cần thiết để ôn luyện thi vào lớp 10 đạt kết quả tốt nhất cũng như quý thầy cô giáo có trong tay những tư liệu kiến thức cần thiết để dạy học. Cuốn tài liệu Bộ đề ôn luyện thi vào 10 gồm 2 phần: Đọc hiểu và tạo lập văn bản. Phần đọc hiểu với những ngữ liệu mới đa dạng, phong phú được biên soạn với hệ thống câu hỏi bám sát nội dung chương trình dạy và học theo hướng ra đề hiện nay. Phần tạo lập văn bản bao gồm câu nghị luận xã hội viết đoạn văn khoảng 200 chữ liên quan đến nọi dung ở phần ngữ liệu đọc hiểu và câu nghị luận văn học viết một bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ hoặc một tác phẩm truyện ( đoạn trích) liên quan đến những tác phẩn học trong chương trình Ngữ văn lớp 9. Cả hai phần đều có hướng dẫn chấm chi tiết, đầy đủ. Trong quá trình biên soạn cuốn sách chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý bạn đọc đặc biệt là quý thầy, cô giáo và các em học sinh. Tôi xin chân thành cảm ơn! 1 ĐỀ SỐ 1 PHẦN I: ĐỌC HIỂU. Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới. ĐÔI TAI CỦA TÂM HỒN Một cô bé vừa gầy vừa thấp bị thầy giáo loại khỏi dàn đồng ca. Cũng chỉ tại cô bé ấy lúc nào cũng chỉ mặc mỗi bộ quần áo vừa bẩn, vừa cũ lại vừa rộng nữa. Cô bé buồn tủi ngồi khóc một mình trong công viên. Cô bé nghĩ: Tại sao mình lại không được hát? Chẳng lẽ mình hát tồi đến thế sao? Cô bé nghĩ mãi rồi cô cất giọng hát khe khẽ. Cô bé cứ hát hết bài này đến bài khác cho đến khi mệt lả mới thôi. - Cháu hát hay quá, một giọng nói vang lên: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ, cháu đã cho ta cả một buổi chiều thật vui vẻ”. Cô bé ngẩn người. Người vừa khen cô bé là một ông cụ tóc bạc trắng. Ông cụ nói xong liền chậm rãi bước đi. Hôm sau, khi cô bé tới công viên đã thấy ông già ngồi ở chiếc ghế đá hôm trước. Khuôn mặt hiền từ mỉm cười chào cô bé. Cô lại hát, cụ già vẫn chăm chú lắng nghe. Ông vỗ tay lớn: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ của ta, cháu hát hay quá!” Nói xong cụ già lại một mình chậm rãi bước đi. Như vậy, nhiều năm trôi qua, cô bé giờ đây đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng. Cô gái vẫn không quên cụ già ngồi tựa lưng vào thành ghế đá trong công viên nghe cô hát. Một buổi chiều mùa đông, cô đến công viên tìm cụ nhưng ở đó chỉ còn lại chiếc ghế đá trống không. Cô hỏi mọi người trong công viên về ông cụ: - Ông cụ bị điếc ấy ư? Ông ấy đã qua đời rồi, một người trong công viên nói với cô. Cô gái sững người, bật khóc. Hóa ra, bao nhiêu năm nay, tiếng hát của cô luôn được khích lệ bởi một đôi tai đặc biệt: đôi tai của tâm hồn. Câu 1 . Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên? Câu 2. Chỉ ra lời dẫn trong văn bản trên. Cho biết đó là lời dẫn trực tiếp hay gián tiếp? Câu 3. Tình huống bất ngờ trong câu chuyện là sự việc nào? Câu 4. Ý nghĩa mà câu chuyện gửi tới chúng ta là gì? PHẦN II: LÀM VĂN. Câu 1: Viết một đoạn văn khoảng 200 từ bàn về niềm tin trong cuộc sống. Câu 2: Vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm Lặng Lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long. HƯỚNG DẪN CHẤM. Câu NỘI DUNG Điểm PHẦN I: ĐỌC HIỂU. 1 - Phương thức biểu đạt chính: Tự sự: 0.5 2 .+ Lời dẫn trong văn bản là: 0.5 - “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ, cháu đã cho ta cả một buổi chiều thật vui vẻ”. - “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ của ta, cháu hát hay quá!” - Ông cụ bị điếc ấy ư? Ông ấy đã qua đời rồi, một người trong 2 công viên nói với cô. + Đó là ời dẫn trực tiếp. 3 Tình huống bất ngờ trong câu chuyện: Cô gái sững người khi 1.0 nhận ra người bấy lâu nay luôn khích lệ, động viên cho giọng hát của cô lại là một ông cụ bị điếc. 4 Ý nghĩa câu chuyện gửi tới người đọc: - Trước khó khăn, thử thách, con người cần có niềm tin, nghị lực vượt lên hoàn cảnh để chiến thắng hoàn cảnh. - Truyện còn đề cao sức mạnh của tình yêu thương con người. PHẦN II: LÀM VĂN. 1 - Đảm bảo hình thức đoạn văn nghị luận: thí sinh có thể trình bày 0.25 đoạn văn theo cách diễn diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, móc xích, song hành. - Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Sứ mạng của người mẹ - Triển khai vấn nghị luận: thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận theo nhiều cách nhưng có thể theo hướng sau: - Giải thích vấn đề 0.25 Niềm tin là sự tin tưởng đặt hết mọi thứ vào người khác hoặc điều gì đó. - Phân tích bình luân Nếu bạn là một người có niềm tin thì đảm bảo với bạn rằng bạn 0.5 là một trong những người hạnh phúc nhất. Vì niềm tin chính là một loại thuốc tăng lực một nguồn động lực tuyệt vời cho chúng ta. Nó giúp chúng ta tự tin vào bản thân mình vượt qua mọi trở ngại và đạt được thành công vượt bậc trong cuộc sống. Tại sao lại có những người khuyết tật những trở thành huyền thoại chỉ đơn giản là họ có niềm tin vào bản thân và vào cả thế giới. - Mở rộng vấn đề Câu hỏi đặt ra là cuộc sống sẽ như thế nào nếu chúng ta không 0.75 có niềm tin vào bất cứ thứ gì? Chắc chắn với bạn rằng sẽ vô cùng khủng khiếp. Chúng ta sẽ chẳng có động lực làm bất cứ điều gì trong cuộc sống và thậm chí cũng chẳng thể có nổi một ước mơ. Vì có mơ bạn cũng chẳng tin tưởng vào bản thân để thực hiện nó. Bạn sẽ luôn ở trong tâm trạng ngờ vực không tin vào bất cứ điều gì. Nếu vậy thì bạn sẽ không thể nào tồn tại chứ đừng nói đến chuyện tiến bộ. Đã sống ở trên đời thì phải có cho mình một niềm tin. Chỉ có niềm tin và sự quyết tâm mới có thể đưa bạn đến thành công. Nhưng phải nhớ rằng niềm tin và sự mù quáng là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Hãy luôn luôn tỉnh táo để vượt qua được những cám dỗ và không bao giờ mù quáng tin vào những điều không có thật. - Bài học, thông điệp. Hãy tập cho mình một thói quen tốt nên tin vào những điều tốt đẹp. Đừng bao giờ đánh mất niềm tin vào bản thân mình, chỉ cần 0,25 3 bạn tin là mình có thể làm được thì bạn lại có thêm lý do để thực hiện điều đó. 2 - Đảm bảo thể thức một bài văn nghi luân. 0.5 - Xác định đúng vấn đề nghị luận. - Chính tả, dùng từ đặt câu đảm bảo chuẩn xác. - Cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo I.Mở bài: 0.5 - Nguyễn Thành Long (1925 -1991), quê ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. - Ông là một trong những cây bút văn xuôi đáng chú ý trong những năm 1960 -1970, chỉ chuyên viết truyện ngắn và ký. Đề tài hướng vào cuộc sống sinh hoạt, lao động đời thường. - Phong cách văn xuôi nhẹ nhàng, tình cảm, giầu chất thơ và ánh lên vẻ đẹp con người, mang ý nghĩa sâu sắc.Truyện của ông thường mang chất ký, mang vẻ đẹp thơ mộng trong trẻo. - Truyện được viết năm 1970, là kết quả của chuyến đi thực tế lên Lào Cai của tác giả. Truyện rút từ tập Giữa trong xanh xuất bản năm1972. - Vẻ đẹp nhân vật Anh thanh niên trong tác phẩm Lặng Lẽ Sa Pa đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng độc giả. II.Thân bài. 3.5 Luận điểm 1: Thiên nhiên Sa Pa. - Sa Pa với những rặng đào, những đàn bò lang cổ... - Nắng Sa Pa le ỏi đốt cháy những rừng cây... Sa Pa hiện lên một bức tranh thiên nhiên đầy thơ mộng. Luận điểm 2: Vẻ đẹp con người Sa Pa – Nhân vật Anh thanh niên. 1. Lai lịch: - Anh TN 27 tuổi, quê ở Lào Cai. Anh tình nguyện lên vùng núi để công tác. 2. Hoàn cảnh sống. - Sống cô độc một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét , sống giữa rừng xanh, mây trắng, bốn bề chỉ toàn là cỏ cây. => Đầy là hoàn cảnh sống đầy khó khăn, gian khổ. Điều này cho thấy anh là một người đầy bản lĩnh thì mới dám làm việc ở một nơi như thế. 3. Công việc. - Anh làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu. Hàng ngày, anh phải tiếp xúc với đủ loại máy đo mưa, đo gió, đo...Công việc của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng => Tuy công việc không nguy hiểm, không phải đối diện với thần chết nhưng đòi hỏi anh phải vượt qua vươn lên được “ sự cô độc nhất thế gian” vượt qua những “ cơn thèm người.” Luận điểm 3. Vẻ đẹp nhân vật Anh thanh niên. 1. Anh là người có suy nghĩ đúng đắn về công việc. 4 - Anh tình nguyện lên sống và làm việc ở một quanh năm mây mù, lạnh lẽo. - Anh nghĩ anh với công việc là đôi sao gọi là môt mình được... Anh là một thanh niên có lí tưởng sống cao đẹp. Sống là phải biết cống hiến, cho đi mà không nhận lại bao giờ nghĩ vậy anh càng yêu cuộc sống hơn “ anh thấy cuộc đời đẹp quá” 2. Anh là người yêu đời, yêu nghề tinh thần trách nhiệm cao. * Yêu đời. - Anh trồng hoa ,nuôi gà, đọc sách. Ngoài những công viecj này anh còn nghiên cứu sách báo. Anh nhờ bác lái xe mua sách cho mình. => Anh luôn tạo cho mình một cuộc sống vui vẻ, lạc quan yêu đời. Bởi vậy anh không cảm thấy cô đơn khi sống một mình trên vùng cao hẻo lánh. * Yêu nghề. - Lòng yêu nghề của anh như hồi trống thúc giục hăng hái xây dựng tổ quốc. Yêu nghề đến nỗi xem công việc như người bạn của mình. Anh nghĩ mình với công việc là đôi, nếu cất nó đi cháu buồn đến chết mất. => Đối với anh công việc là niềm đam mê cháy bỏng là hạnh phúc lớn nhất. * Tinh thần trách nhiệm cao. - Những giờ đi ốp vào lúc một giờ sáng: Mưa, gió, tuyết gào thét bên ngoài như những nhát chổi quét đi tất cả nhưng một mình anh thôi, anh vẫn lôn tự giác hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. - Tinh thần trách nhiệm ấy còn thể hiện ngay với chính bản thân mình. Trong căn nhà nhỏ bé luôn ngưn nắp gọn gàng đến mức ông họa sĩ cũng phải bất ngờ. => Lòng yêu nghề và tinh thần trách nhiệm việc càng khiến người đọc khâm phục anh hơn. Anh như cánh chim trời mải miết quên mình cho những đam mê bất tận. 3. Anh là người hiếu khách quan tâm chu đáo đến mọi người. - Anh rót nước mời ông họa sĩ và co kĩ sư, cắt hoa tặng cô kĩ sư và biếu ông họa sĩ làn trứng, biếu vợ bác lái xe củ tam thất. - Những món quà ấy tuy không đáng là bao nhưng thấm đượm tình nghĩa, giàu lòng hiếu khách. - Anh trò chuyện một cách sởi lởi với mọi người. Anh tiếc nuối khi thời gian của cuộc gặp gỡ trôi quá nhanh. Anh thốt lên: “ Trời ơi chỉ còn năm phút”. => Những điều ấy cho thấy anh là một người hiếu khách, quan tâm đến mọi người khiến người đọc càng khâm phục anh hơn. 4. Anh khiêm tốn với những đóng gps của mình, luôn đề cao 5 người khác. - Anh khiêm tốn kể về đóng góp của mình. - Anh thấy mình chưa xứng đáng được vẽ nên đã say xưa kể về những thành tích của người khác mà anh cho là xứng đáng để ông họa sĩ vẽ. => Anh thanh niên dù còn trẻ nhưng anh thấu hiểu được cái nghĩa, cái tình, thấm thía được sự hi sinh thầm lặng của bao con người đang ngày đêm lo nghĩ cho đất nước. III. Kết bài. 0,5 - Bằng cách kể chuyện tự nhiên, đơn gian qua điểm nhìn trần thuật của ông họa sĩ, xây dựng tình huống truyện hợp lí. Nguyễn Thành Long làm hiện lên một cuộc sống đẹp, tâm hồn đẹp của người thanh niên làm ta trân trọng, khâm phục buộc ta suy nghĩ lại cách sống của bản thân. - Cách sống của người thanh niên có lí tưởng, biết hi sinh cho nhân dân, đất nước kiêm tốn, giản dị .Anh là người tiên biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam mọi thời đại ĐỀ SỐ 2 I. PHẦN ĐỌC - HIỂU (6,0 điểm): Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển Có một phần máu thịt của Hoàng Sa Ngàn năm trước con theo cha xuống biển Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa Trong hồn người có ngọn sóng nào không? Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hòn đảo Lạc Long cha nay chưa thấy trở về Lời cha dặn phải giữ từng thước đất Máu xương này con cháu mãi nhớ ghi (Tổ quốc nhìn từ biển - Nguyễn Việt Chiến) Câu1. Xácđịnh phương thứcbiểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ trên? Giải thích nghĩa của từ “Giông bão” Câu 2.Truyền thuyết nào được nhắc tới trong bài thơ? Ý nghĩa của việc nhắc lại truyền thuyết đó? Câu 3.Xác định và phân tích biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai? Câu 4.Bài thơ đã gửi đến bạn đọc thông điệp gì? 6 II. PHẦN TẬP LÀM VĂN Câu 1. ( 2 điểm) Từ câu thơ “Lời cha dặn phải giữ từng thước đất”, em hãy viết 1 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về trách nhiệm giữ gìn chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Câu 2 ( 5 điểm) Cảm nhận của em về 2 khổ thơ cuối bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận. ”... Sao mờ, kéo lưới trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vẫy bạc đuôi vàng léo rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đau cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” HƯỚNG DẪN CHẤM Câu NỘI DUNG Điểm I. PHẦN ĐỌC HIỂU( 3 điểm) 1 - Phương thức biểu đạt: Biểu cảm . - Giải thích“Bão giông”: Hiểm họa của thiên nhiên và hiểm họa về chủ quyền biển đảo đang bị đe dọa. 2 - Truyền thuyết được nhắc tới trong bài thơ: Con Rồng cháu Tiên - Ý nghĩa: Khẳng định chủ quyền dân tộc. nhắc nhở về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Khơi dậy niềm tự hào ý thức đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. 3 Ẩn dụ, câu hỏi tu từ + Ẩn dụ sóng (câu 3) thiên tai và chủ quyền biển đảo bị xâm phạm. + Ẩn dụ sóng và câu hỏi tu từ (câu 4) trăn trở, băn khoăn, suy nghĩ của con người trước hiểm họa về chủ quyền biển đảo đang bị đe dọa. 4 Bài thơ đã gửi đến bạn đọc thông điệp : Những trăn trở, nghĩ suy về trách nhiệm của thế hệ trẻ trước thực tế: Tổ quốc chưa bình yên nếu nhìn từ biển đảo. II. PHẦN LÀM VĂN ( 7 điểm) 1 * Yêu cầu về kĩ năng: 0,25 - Đảm bảo thể thức đoạn văn - Đảm bảo dung lượng. - Xác định đúng vấn đề nghị luận. - Giới thiệu về chủ quyền biển đảo: Việt Nam là một quốc gia 0.25 nằm ven biển. Lãnh thổ bao gồm đất liền, thềm lục địa và rất nhiều hải đảo lớn nhỏ. 7 - Nêu biểu hiện về chủ quyền biển đảo: 0.5 + Vào những ngày đầu tháng 5/2014, Trung Quốc lại tiếp tục âm mưu bành trướng biển Đông bằng việc hạ đặt giàn khoan HD 981 trái phép gần quần đảo Hoàng Sa và tiến hành các hoạt động cải tạo trên Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam + Hiện nay vấn đề chủ quyền biển đảo vẫn đang là một vấn đề đặt ra đối với chủ quyền dân tộc + Những hành động có ý đồ xâm phạm vùng biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền biển đảo của Việt Nam theo công ước Liên hiệp quốc về luật biển 1982. - Bàn bạc mở rộng: 0.5 + Khẳng định Trường Sa, Hoàng Sa là thuộc chủ quyền của VN, thể hiện quyết tâm bảo vệ biển đảo của tổ quốc. + Lên án hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ dân tộc của các thế lực xấu.. - Nhậnthức, hành động: 0.5 + Nhận thức: Đất nước được toàn vẹn, nhờ có một phần không nhỏ công sức và sự hi sinh thầm lặng của các anh lính nơi biển đảo. + Hành động: Mỗi học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường cần phấn đấu học tập tốt để góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương. 2 1. Yêu cầu về kỹ năng: 0.5 - Học sinh biết cách làm bài nghị luận văn học, cụ thể là nghị luận về một vấn đề bàn về văn học. - Vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận, kiến thức lí luận và cảm thụ tác phẩm để làm sáng tỏvấn đề. - Bố cục khoa học, hành văn trong sáng, biểu cảm, không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. 2. Yêu cầu về nội dung: 4.5 * Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng về cơ bản cần đảm bảo một số vấn đề chính như sau: 1. Mở bài: 0.5 - Huy cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam - Giữa năm 1958, ông có chuyến đi dài ngày thực tế ở Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này ông viết Đoàn Thuyền Đánh Cá . - Hai khổ thơ cuối , tác giả khăc họa hình ảnh tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động , bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống. ”... Sao mờ, kéo lưới trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vẫy bạc đuôi vàng léo rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng 8 Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đau cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” 2. Thân bài: 3.5 * Vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên tráng lệ và người lao động: Ra đi từ lúc hoàng hôn buông xuống , sóng cài then , đêm sập cửa, vũ trụ nghĩ ngơi , nay trở về bình minh đang lên rạng rỡ . Trước hết , đó là cảnh khẩn trương ,hối hả chuẩn bị cho sự trở về: ”... Sao mờ, kéo lưới trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vẫy bạc đuôi vàng léo rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng” Tất cả tinh thần tranh thủ , hối hả được diễn tả qua từ ” Kịp” và hình ảnh ” kéo xoăn tay” một hình ảnh thơ khẻo khoắn gợi tả một công việc lao động hăn say , vất vả nhưng lấp lánh niềm vui bởi thành quả lao động mà họ đạt được ” chùm cá nặng”. Xoa tay đứng nhìn đầy chặt khoang những cá nụ, cá chim , cá đé.....vẫy đuôi ánh sáng bình minh lấp lánh ánh bạc. - Tinh thần khẩn trương , hối hả của người ngư dân lúc kéo lưới ” sao mờ kéo lưới trời sáng” - Sự khẻo mạnh của người lao động của họ qua hình ảnh ẩn dụ” ta kép xoăn tay chùm cá nặng” - Niềm vui tươi trong lao động qua những câu thơ tả cảnh đẹp, đầy sáng tạo. * Cảnh đoàn thuyền buồm căng gío trở về bến: Công việc đánh cá kết thúc, khi mà: ” lưới xếp, buồm lên đón nắng hồng” ấy à lúc đoàn thuyền trở về : ”Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đau cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” - Chi tiết ” đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” và ” mặt trời đội biển nhô màu mới” là chi tiết giàu ý nghĩa . Hình ảnh ” mặt trời” là hình ảnh ẩn dụ cho một tương lai xán lạn. Và con thuyền chạy đau về tương lai là con thuyền của chủ nghĩa xã hội đang trên bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội hứa hẹn thành công. 3. Kết bài: 0.5 - Bài ” đoàn thuyền đánh cá” là một trong những bài thơ hay của phản ánh không khí lao động hăng say, náo nức của những người lao động đánh cá trên biển trong không khí của những ngày đất nước xây dựng sau giải phóng. - Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng độc đáo và vận dụng nhiều biện pháp tu từ thành công. 9 ĐỀ SỐ 3. PHẦN I. ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi. (1) Một chàng trai trẻ đến gặp một chuyên gia đá quý và đề nghị ông ta dạy cho anh trở thành một nhà nghiên cứu về đá quý. Chuyên gia nọ từ chối vì ông sợ rằng chàng trai không đủ kiên nhẫn để theo học. Chàng trai cầu xin một cơ hội. Cuối cùng, vị chuyên gia đồng ý và bảo chàng trai "Ngày mai hãy đến đây". (2) Sáng hôm sau, vị chuyên gia đặt một hòn ngọc bích vào tay chàng trai và bảo chàng hãy cầm nó. Rồi ông tiếp tục công việc của mình: mài đá, cân và phân loại đá quý. Chàng trai ngồi yên lặng và chờ đợi. (3) Buổi sáng tiếp theo, vị chuyên gia lại đặt hòn ngọc bích vào tay chàng trai và bảo chàng cầm nó. Ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm sau đó vị chuyên gia vẫn lặp lại hành động trên. (4) Đến ngày thứ sáu, chàng trai vẫn cầm hòn ngọc bích nhưng chàng không thể im lặng được nữa. - Thưa thầy - chàng trai hỏi - khi nào thì em sẽ bắt đầu học ạ? - Con sẽ được học - vị chuyên gia trả lời và tiếp tục công việc của mình. (3) Vài ngày nữa lại trôi qua và sự thất vọng của chàng trai càng tăng. Một ngày kia, khi vị chuyên gia bảo chàng trai đưa tay ra, chàng định nói với ông ta rằng chàng chẳng muốn tiếp tục việc này nữa. Nhưng khi vị chuyên gia đặt hòn ngọc bích lên tay chàng trai, chàng nói mà không cần nhìn viên đá: - Đây không phải là hòn đá con vẫn cầm! - Con đã bắt đầu học rồi đấy - vị chuyên gia nói. (Theo Quà tặng cuộc sống. NXB Trẻ, 2013) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên. Câu 2. Vì sao ban đầu vị chuyên gia lại từ chối lời đề nghị của chàng trai? Câu 3. Tìm câu văn có lời dẫn trực tiếp trong đoạn (1), sau đó chuyển thành lời dẫn gián tiếp. Câu 4. Anh/chị có đồng tình với quan điểm được gợi ra từ phần đọc hiểu "tự học là cách học tập hiệu quả nhất" không? Vì sao? (Trình bày từ 7 đến 10 câu) II. TẠO LẬP VĂN BẢN Câu 1. (2,0 điểm) Từ nội dung của văn bản trong phần đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của lòng kiên nhẫn. Câu 2. (5 điểm) Phân tích đoạn thơ sau đây, trích trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật: Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim 10 Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái. (Theo Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2018, Trang 13) HƯỚNG DẪN CHẤM Câu NỘI DUNG Điểm Phần I – Đọc hiểu 1 - Phương thức tự sự 0.5 2 - Ban đầu vị chuyên gia từ chối lời đề nghị của chàng trai vì ông 0.5 sợ rằng chàng trai không đủ kiên nhẫn. 3 - Câu văn có lời dẫn trực tiếp: Cuối cùng, vị chuyên gia đồng ý 1.0 và bảo chàng trai “ Ngày mai hãy đến đây” - Chuyển lời dẫn trực tiếp thành gián tiếp: Cuối cùng, vị chuyên gia đồng ý và bảo chàng trai ngày mai hãy đến. 4 Đồng ý, vì: 1.0 - Tự học là tự giác, chủ động trong học tập nhằm vươn lên nắm bắt tri thức. Tự học không chỉ đơn thuần là tiếp nhận kiến thức từ thầy cô mà là còn học hỏi ở bạn bè, tìm tòi nghiên cứu sách vở hay học hỏi, quan sát từ thực tế. - Khi tự học, người học sẽ lựa chọn những gì phù hợp với năng lực và nhu cầu của bản thân. - Qua tự học, từ lí thuyết, chúng ta biết chủ động luyện tập thực hành, giúp ta có thể nhanh chóng hình thành kĩ năng, củng cố và nâng cao kiến thức đã học. II – Tạo lập văn bản 1 - Đảm bảo thể thức đoạn văn 0,25 - Đảm bảo dung lượng. - Xác định đúng vấn đề nghị luận. Đoạn văn đảm bảo các nội dung sau: 1.75 1. Nêu khái niệm lòng kiên nhẫn: Là sự nhẫn nại, bền bỉ, vững 0.5 vàng, không cúi đầu trước thất bại, nhẫn nại chịu đựng trong hoàn cảnh khó khăn . 2. Bàn luận mở rộng 0.75 - Lòng kiên nhẫn giúp con người rèn luyện ý chí, nghị lực từ đó không dễ dàng bị vấp ngã. -Người có lòng kiên nhẫn thường là những người có ý trí theo đuổi mục tiêu cao, không sợ hãi hay lùi bước trước những khó khăn có thể xảy đến trong cuộc sống. - Người kiên nhẫn sẽ thường đạt được thành công bởi kiên nhẫn giúp con người khẳng định được bản thân mình thử thách được năng lực của mình trước những chướng ngại vật. - Người có lòng kiên nhẫn tích góp được cho mình nhiều kinh nghiệm quý giá và sự dẻo dai. - Dẫn chứng cụ thể một tấm tấm gương về lòng kiên nhẫn mà em 11 biết. - Người không có lòng kiên nhẫn thường chán nản, bỏ dở mọi việc giữa chừng, khó thành công trong mọi việc.Lòng kiên nhẫn cùng với sự tìm tòi và đi đúng hướng mới thành công được, còn nếu bạn kiên trì, nhẫn nại nhưng thiếu hiểu biết thì sẽ đồng nghĩa với phá hoại “ Kiên trì cộng ngu dốt sẽ là phá hoại” 3. Bài học nhận thức và hành động 0.5 - Lòng kiên nhẫn là một đức tính đáng quý và đáng có của con người. - Tự rèn luyện bản thân từ những việc nhỏ nhất, trau dồi sự tỉ mỉ và nhẫn nại. Khi chúng ta đứng trước một khó khăn thử thách đừng nên bỏ qua mà hãy tự mình vượt qua, không ngại khó khan gian khổ. - Đảm bảo bố cúc một bài văn. 0,5 - Xác định đúng vấn đè nghị luân. 2 - Chuẩn chính tả trong cách dùng từ đạt câu. 1.Mở bài 0.5 – Phạm Tiến Duật (1941-2007), quê Thanh Ba, Phú Thọ. – 1964, sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn của trường Đại học Sư phạm Hà Nội ,ông gia nhập binh đoàn vận tải Trường Sơn và hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm chống Mỹ. – Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước - Bài thơ về tiểu đội xe không kính đã ghi lại nét ngang tàng, táo bạo, dũng cảm và lạc quan của người lính lái xe trong binh đoàn vận tải quân sự, qua đó ca ngợi chủ nghĩa anh hùng Cách Mạng Việt Nam thời kì đánh Mĩ. - Trích dẫn 2 đoạn thơ 2. Thân bài: Phân tích 3.5 * Khổ thơ thứ nhất diễn tả sự khó khăn, gian khổ thiếu thốn trong chiến tranh và sự ung dung của người lính: + Bài thơ làm hiện lên một chiếc xe không kính đang vượt qua bom đạn băng băng tiến ra tiền phương. Hàng vạn chiếc xe “Không kính” vượt qua mưa bom bão đạn, dốc thẳm, khe suối. + Điệp khúc “không có kính” được trở đi trở lại với một giọng điệu tinh nghịch, khỏe khoắn, tiếng reo vui, tiếng cười đùa, tiếng hò hát trên con đường trông gai đầy mưa bom bão đạn. Hai câu thơ đầu không nói rõ vì sao “không có kính”. Cấu trúc bài thơ dưới hình thức hỏi đáp. Ba chữ “không” đi liền nhau, hai nút nhấn “bom giật, bom rung” biểu lộ chất lính, đậm chất văn xuôi nghe rất thú vị + Tư thế ung dung, hiên ngang đường hoàng, tinh thần dũng cảm, coi thường hiểm nguy. Một tư thế lái xe “ung dung” tuyệt đẹp: thong thả, khoan thai, những cái nhìn dũng mãnh mà hiên 12 ngang: Ung dung buồng lái ta ngồi * Khổ thơ thứ hai: Đó là thước phim quay chầm chậm về những gì người lính “nhìn thấy trong sự nguy hiểm, khó khăn, ác liệt ấy. + Có gió thổi, có cánh chim chiều và cả ánh sao đêm.Gió được nhân hóa và chuyển đổi cảm giác đầy ấn tượng “gió vào xoa mắt đắng”. Xe chạy thâu đêm, xe lại không có kinh nên mới có cảm giác “đắng” như thế. Con đường phía trước là con đường chiến lược cụ thể, nó còn mang hàm ý “chạy thẳng vào tim”, con đường chiến đấu chính nghĩa vì lẽ sống, vì tình thương, vì độc lập tự do của đất nước và dân tộc. “Nhìn thấy” với các chữ “sa”, chữ “ma” góp phần đặc tả tốc độ phi thường của chiếc xe quân sự đang bay đi, đang lướt nhanh trong bom đạn. 3. Kết bài: Đánh giá chung: 0.5 - Với cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ, so sánh, điệp ngữ, Phạm Tiến Duật rất thành công trong việc khắc họa vẻ đẹp ý chí và tâm hồn của người chiến sĩ lái xe tiền phương. - Con đường chiến lược Trường Sơn là một chiến tích mang màu sắc huyền thoại của dân tộc ta trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật đã làm sống lại một thời gian khổ, oanh liệt của anh bộ đội Cụ Hồ. Chất anh hùng ca dào dạt trong bài thơ. Bài thơ cũng là một chứng tích tuyệt đẹp của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn anh hùng. 13 ĐỀ 4 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau đây và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới. Ước mơ giống như bánh lái của một con tàu. Bánh lái có thể nhỏ và không nhìn thấy được, nhưng nó điều khiển hướng đi của con người. Cuộc đời không có ước mơ giống như con tàu không có bánh lái. Cũng như con tàu không có bánh lái, người không ước mơ sẽ trôi dạt lững lờ cho đến khi mắc kẹt trong đám rong biển. (Theo Bùi Hữu Giao, Hành trang vào đời, trang 99, NXB Thanh Niên) Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. Câu 2: Xác định biện pháp tu từ và nếu tác dụng của biện pháp tu từ ấy trong câu: Ước mơ giống nhau thành lại của con tàu. Câu 3: Em hiểu như thế nào về cách nói của tác giả; người không ước mơ sẽ trôi dạt lững lờ cho đến khi mắc kẹt trong đầm rong biển? Câu 4. Ý nghĩa của câu chuyện trên là gì? II. PHẦN LÀM VĂN Câu 1: ( 2 điểm) Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ về ý chí, nghị lực sống của con người. Câu 2 ( 5 điểm)Trong văn bản “Tiếng nói văn nghệ”, Nguyễn Đình thi có viết: “Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta tự phải bước lên đường ấy”. Qua văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên./. HƯỚNG DẪN CHẤM. Câu NỘI DUNG Điểm I. PHẦN ĐỌC HIỂU 1 - Xác định phương thức biểu đạt chính: nghị luận 0.5 2 - Biện pháp tu từ trong câu: Ước mơ giống nhau thành lại của 0.5 con tàu là so sánh, ước mơ được so sánh với bánh lái con tàu. - Tác dụng: Giúp câu văn thêm độc đáo, dễ hình dung và sinh động hơn - Khi so sánh ước mơ như bánh lái con tàu tác giả muốn nhấn mạnh nếu con tàu không có bánh lại không thể vận hành, cũng giống như con người sống không có mơ ước thì chính là đang sống hoài, sống phí 3 Cách nói của tác giả có thể được hiểu như sau: Sống mà không 1.0 có mơ ước tức là không có mục tiêu, cuộc sống tái diễn những ngày tháng lặp lại nhàm chán và rồi cuối cùng không biết mình sống để làm gì, không tìm được ý nghĩa cuộc sống. 4 – Trong cuộc sống mỗi người luôn phải có ước mơ, cho dù đó là 1.0 ước mơ nhỏ nhoi, giản dị. Bởi có ước mơ, hoài bão thì mới có đích hướng tới, mới có mục tiêu và động lực phấn đấu. II. PHẦN LÀM VĂN 14 - Đảm bảo thể thức đoạn văn 0,25 - Đảm bảo dung lượng. - Xác định đúng vấn đề nghị luận. 1 Mở đoạn- Giới thiệu ngắn gọn vấn đề cần nghị luận: ý chí và 0.25 nghị lực sống là điều cần thiết trong cuộc sống. Thân đoạn 1..25 1. Giải thích - Nghị lực sống: Cố gắng quyết tâm vượt qua thử thách dù khó khăn, gian khổ đến đâu. - Người có ý chí, nghị lực sống: Luôn kiên trì, nhẫn nại vượt qua những khó khăn, chông gai trong cuộc đời. 2. Phân tích, chứng minh Nguồn gốc, biểu hiện của ý chí nghị lực - Nguồn gốc + Nghị lực của con người không phải trời sinh ra mà có, nó xuất phát và được rèn luyện từ gian khổ của cuộc sống. Ví dụ: Nguyễn Sơn Lâm - Biểu hiện của ý chí nghị lực + Người có nghị lực luôn có thể chuyển rủi thành may, chuyển họa thành phúc. Không khuất phục số phận và đổ lỗi thất bại do số phận. Ví dụ: Milton, Beethoven - Vai trò của ý chí nghị lực - Nghị lực giúp con người đối chọi với khó khăn, vượt qua thử thách của cuộc sống một cách dễ dàng hơn. Ví dụ: Bill Gate, 3. Bình luận, mở rộng - Trái ngược với những người có ý chí rèn luyện là những người không có ý chí. Giới trẻ bây giờ vẫn rất còn nhiều người chưa làm nhưng thấy khó khăn đã nản chí, thấy thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. => Lối sống cần lên án gay gắt. 4. Bài học nhận thức và hành động - Cuộc sống nhiều gian nan, thử thách thì nghị lực sống là rất quan trọng. - Rèn luyện bản thân thành người có ý chí và nghị lực để vượt qua mọi chông gai và thử thách trên chặng đường dài. - Lên án, phê phán những người sống mà không có ý chí nghị lực, không có niềm tin về cuộc sống. - Học tập những tấm gương sáng để đi tới thành công. Kết đoạn Khẳng định lại vấn đề: Có ý chí, nghị lực, niềm tin thì 0.25 chúng ta có thể vượt qua mọi khó khăn để đưa những bước chân gần hơn với thành công và hạnh phúc. 2 A. Yêu cầu chung. 0.5 Về hình thức: -Thể loại: Thuộc kiểu bài chứng minh một vấn đề về văn học.Bố cục: Cân đối, kết cấu chặt chẽ. Diễn đạt: Văn viết phải lưu loát, 15 đúng chính tả, đúng ngữ pháp; trình bày sạch đẹp, rõ ràng, có cảm xúc. -Phương pháp: Nắm vững phương pháp làm bài nghị luận về một vấn đề văn chương thông qua việc phân tích một tác phẩm truyện để là rõ vấn đề (luận điểm rõ ràng, có sức thuyết phục, biết cách trích dẫn chứng và phân tích các dẫn chứng đã nêu, biết kết hợp yếu tổ biểu cảm trong nghị luận...). Về nội dung: Đề văn nhằm đánh giá kiến thức thí sinh về một tác phẩm cụ thể đồng thời ở một mức độ nào đó, đánh giá sự hiểu biết của các em về góc độ lí luận văn học, đó là tác dụng của nghệ thuật, cái hay của thơ ca. Ở đề này cái chính là hiểu và lấy văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long để làm sáng tỏ quan niệm của Nguyễn Đình Thi về văn học nghệ thuật: “Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta tự phải bước lên đường ấy”. Yêu cầu cụ thể: 4.5 -Học sinh có thể viết bằng nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo nắm được và làm toát lên những nội dung cơ bản sau: *Dẫn dắt giới thiệu vấn đề: Nhận định trên đã nói lên chức năng nhận thức, chức năng thẩm mĩ và chức năng giáo dục của nghệ thuật, của văn chương (tác dụng của nghệ thuật, văn chương.) *Giải thích một cách khái quát nhận định: - Nghệ thuật là một loại hình độc đáo thể hiện cuộc sống qua các hình tượng, nét vẽ, màu sắc, hình khối, âm thanh. Nghệ thuật được tác giả nói ở đây nên hiểu là nghệ thuật văn chương. -Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta: nghệ thuật khác với những bài thuyết giảng đạo lí, mà các tác phẩm nghệ thuật là con đẻ của người nghệ sĩ, trong đó các nhà văn gửi gắm những suy tư, ước vọng của mình đến với độc giả. Tư tưởng trong tác phẩm nghệ thuật là thứ tư tưởng náu mình. -Nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta là: các tác phẩm văn chương tác động vào nhận thức, tâm tư, tình cảm của ngƣời đọc, giúp người đọc hiểu được hiện thực cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm và qua sự rung động mà tác phẩm đem lại ngƣời tiếp nhận sẽ nhận thức rõ cái đẹp, cái đúng, cái sai trong thực tế cuộc sống, từ đó có những tình cảm yêu cái tốt đẹp, ghét cái xấu xa sai trái... -Khiến chúng ta tự phải bước đi lên đường ấy: Từ những tình cảm tốt đẹp mà tác phẩm nghệ thuật đem lại, người đọc sẽ có hành động phù hợp như kế thừa, phát huy, noi theo những điều tốt đẹp, đấu tranh, phê phán cái xấu xa, lỗi thời, hèn kém... *Chứng minh nhận định qua văn bản “lặng lẽ Sa Pa”: - Lặng lẽ Sa pa giúp cho người đọc thấy nghị lực phi thường và những phẩm chất cao đẹp của các nhân vật trong truyện mà tiêu 16 biểu là nhân vật anh thanh niên đã giúp người đọc thấy rõ những phẩm chất cao đẹp của người lao động mới trong thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền nam mà thêm trân trọng yêu mến những con người đó: + Một con người có nghị lực phi thường: trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống anh vẫn vượt lên để hoàn thành tốt nhiệm vụ (D/C + PT) + Anh có lí tưởng đúng đắn : “Mình sinh ra ở đâu, mình vì ai mà làm việc”... + Anh biết tìm niềm vui trong công việc nhàm chán của mình với suy nghĩ “Mình với công việc là đôi ai bào là một mình được”.... + Anh ham học hỏi, nghiên cứu khoa học (D/C + PT) + Anh là người có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc “Một giờ sáng vẫn thức dậy đi ốp” mặc dù thời tiết ở Sa Pa rất lạnh giá... + Anh còn biết cải thiện cuộc sống, đã trồng rau, trồng hoa, nuôi gà.... + Anh còn là người rất khiêm tốn, khi người họa sĩ muốn vẽ anh, anh đã giới thiệu những người khác đáng vẽ hơn (D/C + PT) Vẻ đẹp anh thanh niên đã có sức lan tỏa đến cô kĩ sư, ông họa sĩ (D/C + PT) -Các nhân vật khác như: cô kĩ sư, ông họa sĩ, bác lái xe, ông kĩ sư nông học, anh cán bộ sét, anh cán bộ khí tượng ở đỉnh cao hơn bốn ngàn mét.đều say mê cống hiến cho đất nước. -Qua nhân vật anh thanh niên người đọc thấy rõ vẻ đẹp tâm hồn của anh anh niên, thấy được ý thức công dân của mình trong cuộc sống. -Người đọc khâm phục những đức tính cao đẹp của anh thanh niên để từ đó học tập noi gương, có hành động đúng trong công cuộc xây dựng đất nước ngày nay... Khẳng định nhận định: đánh giá thành công của truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” - Truyện đã góp phần cổ vũ, động viện nhân dân ta trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đồng thời cũng là bức thông điệp gửi đề mọi người ý thức công dân trong xây dựng và bảo vệ đất nước. Thổi bùng trong ta lòng yêu đất nước và ý thức cống hiến những gì tốt đẹp nhất cho đất nước. -Ý kiến của Nguyễn Đình Thi là hoàn toàn đúng đắn có ý nghĩa khẳng định sức mạnh của nghệ thuật nói chung, của văn chương nói riêng. 17 ĐỀ 5 I. PHẦN ĐỌC HIỂU: ( điểm) Đọc ngữ liệu và trả lời các câu hỏi: Điều gì là quan trọng? Chuyện xảy ra tại một trường trung học. Thầy giáo giơ cao một tờ giấy trắng, trên đó có một vệt đen dài và đặt câu hỏi với học sinh: - Các em có thấy gì không? Cả phòng vang lên câu trả lời: - Đó là một vệt đen. Thầy giáo nhận xét: - Các em trả lời không sai. Nhưng không ai nhận ra đây là một tờ giấy trắng ư? Và thấy kết luận: - Ở người thường chủ tâm đến những lỗi lầm nhỏ nhất của người khác mà quên đi những phẩm chất tốt đẹp của họ. Khi phải đánh giá về một sự việc hay một con người, thầy mong các em đừng chú trọng vào vệt đen mà hãy nhìn ra tờ giấy trăng với nhiều mảng sạch mà ta có thể viết lên đỏ những điều có ích cho đời, (Trích Quà tặng cuộc sống - Dẫn theo Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính. Câu 2 Chỉ ra và gọi tên phép liên kết hình thức ở câu sau : Các em trả lời không sai. Nhưng không ai nhận ra đây là một tờ giấy trắng ư? Và thấy kết luận: Câu 3 Em hiểu thế nào về câu nói: "Có người thường chú tâm đến những lỗi lầm nhỏ nhặt của người khác mà quên đi những phẩm chất tốt đẹp của họ"? Câu 4: Từ ngữ liệu trên, em rút ra bài học gì? II.PHẦN LÀM VĂN: Câu 1.( 2 điểm) Từ ngữ liệu ở phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về lời khuyên của thầy giáo "Khi phải đánh giá về một sự việc hay một con người, thầy mong các em đừng chú trọng vào vệt đen mà hãy nhìn ra tờ giấy trăng với nhiều mảng sạch mà ta có thể viết lên đỏ những điều có ích cho đời," Câu 2.( 5 điểm) Vẻ đẹp của bức tranh mùa thu lúc giao mùa trong bài Sang thu của Hữu Thỉnh ” Bỗng nhận ra hương ổi Phá vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu 18 Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơm mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi” HƯỚNG DẪN CHẤM. Câu NỘI DUNG Điểm I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (3,0 điểm) 1 Phương thức biểu đạt chính: Tự sự 2 -Phép nối: Nhưng 3 - Việc chỉ “chú tâm đến những lỗi lầm nhỏ nhặt của người khác mà quên đi những phẩm chất tốt đẹp của họ” thể hiện một cách đánh giá con người chủ quan, phiến diện, thiếu đi sự độ lượng, bao dung cần thiết để nhìn nhận, đánh giá người khác một cách toàn diện 4 Các em có thể tùy theo suy nghĩ của mình: - Đừng đánh giá người khác qua sai lầm, thiếu sót, hạn chế của họ - Đừng bao giờ phán xét người khác một cách dễ dàng II.PHẦN LÀM VĂN: ( 7 điểm) 1 * Yêu cầu về kĩ năng: 0,25 - Đảm bảo thể thức đoạn văn - Đảm bảo dung lượng. - Xác định đúng vấn đề nghị luận. Giới thiệu vấn đề: 0.25 - Có một lời khuyên của thầy giáo nói với học sinh "Khi phải đánh giá về một sự việc hay một con người, thầy mong các em đừng chú trọng vào vệt đen mà hãy nhìn ra tờ giấy trăng với nhiều mảng sạch mà ta có thể viết lên đỏ những điều có ích cho đời." - Khẳng định điều này là vô cùng đúng đắn. Bàn luận vấn đề: Giải thích từ cách nhìn: cách nhìn là sự quan sát, đánh giá, quan 05. niệm của mỗi người về hiện tượng, sự vật, con người, cuộc sống - “Vệt đen”: những lỗi lầm những điều chưa tốt, chưa hoàn hảo ở một con người - “Tờ giấy trắng” những điều tốt, những khoảng trống trong tâm hồn một người có thể tạo dựng vun đắp để tạo nên những điều tốt đẹp => Ý kiến của thầy giáo là một lời khuyên vô cùng đúng đắn: Khi đánh giá một con người không nên quá chú ý vào những sai lầm thiếu sót mà cần biết trân trọng những điều tốt đẹp, biết nhìn thấy trong tâm hồn mỗi người đều có những khoảng trống để từ đó có thể tạo dựng, vun đắp, hoàn thiện nhân cách. 19 Bình luận về ý nghĩa gợi ra từ câu chuyện: 0.5 + Cuộc sống muôn hình vạn trạng , cùng một sự việc xảy ra, cùng một vấn đề nhưng mỗi người lại có cách đánh giá khác nhau, phụ thuộc vào cách nhìn nhận chủ quan của bản thân. + Trong cuộc sống có những cách đánh giá, nhìn nhận vấn đề đánh mất cơ hội, sự tự tin, lạc quan của con người. Cách nhìn này kìm hãm sự nỗ lực hành động vươn lên của con người. Nhưng trong cuộc sống cũng có những cách đánh giá, nhìn nhận vấn đề tạo cơ hội, niềm tin, lạc quan của con người. Đó là cách nhìn tạo động lực giúp con người nỗ lực hành động để tạo ra những thành quả có ý nghĩa cho bản thân và xã hội. + Để có được cách nhìn đúng đắn, tích cực con người cần có sự tinh nhạy, sắc bén, sâu sắc khi quan sát và suy xét thấu đáo vấn đề trước khi đưa ra kết luận. Và quan trọng hơn là phải có niềm tin đối với đối tượng được nhìn nhận, đánh giá. Phản đề: Phê phán những người có cái nhìn hời hợt, có cách đánh giá chủ quan theo cảm tính. Phê phán cái nhìn bi quan, thiếu tự tin, Liên hệ và rút ra bài học: 0.25 - Cuộc sống vốn muôn màu, muôn sắc nên khi nhìn nhận vấn đề không được vội vàng, hấp tấp chỉ nhìn hời hợt bên ngoài hiện tượng mà phải suy nghĩ kĩ lưỡng trước khi đưa ra kết luận. Và phải có trách nhiệm trước sự đánh giá của bản thân. - Cần có cách nhìn lạc quan để phát hiện mặt tốt, mặt tích cực của sự vật, hiện tượng, con người . Từ đó luôn biết vượt qua những khó khăn, thử thách để tạo cơ hội hướng tới mục đích cao cả. 2 1. Yêu cầu về kỹ năng: 0.5 - Học sinh biết cách làm bài nghị luận văn học, cụ thể là nghị luận về một vấn đề bàn về văn học. - Vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận, kiến thức lí luận và cảm thụ tác phẩm để làm sáng tỏvấn đề. - Bố cục khoa học, hành văn trong sáng, biểu cảm, không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. 2. Yêu cầu về nội dung: 4.5 * Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng về cơ bản cần đảm bảo một số vấn đề chính như sau: 1. Mở bài: 0.5 ” Đây mùa thu tời, mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng” - Mùa thu là đề tài muôn thuở của thơ ca. Biết bao nhà thơ đã dành tình yêu cho mùa thu của đất trời, mùa thu của lòng người. - Hữu Thỉnh viết bài thơ Sang Thu năm 1977, cũng viết về đề tài mùa thu nhưng lại là thờ khắc giao mùa từ hạ sang thu. 20
Tài liệu đính kèm: