Bộ 56 Đề ôn thi vào 10 môn Ngữ văn 9 (Có đáp án)

doc 251 trang Người đăng Đào Hoa Ngày đăng 18/03/2026 Lượt xem 9Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bộ 56 Đề ôn thi vào 10 môn Ngữ văn 9 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 LỜI NÓI ĐẦU
 Kính thưa quý thầy, cô giáo và các em học sinh thân mến!
 Môn Ngữ văn là một trong những môn thi vào 10 trong cả nước. Để đạt 
kết quả tốt trong kì thi vào lớp 10 nói chung và kì thi học sinh giỏi noi riêng. 
Bằng kinh nghiệm và thực tiễn giảng dạy với trăn trở tâm huyết nghề nghiệp. 
Sau một thời gian dài nghiên cứu, tôi đã sưu tầm và biên soạn cuốn tài liệu Bộ 
đề ôn luyện thi vào lớp 10 nhằm giúp các em học sinh khối lớp 9 có những tư 
liệu kiến thức cần thiết để ôn luyện thi vào lớp 10 đạt kết quả tốt nhất cũng như 
quý thầy cô giáo có trong tay những tư liệu kiến thức cần thiết để dạy học. 
 Cuốn tài liệu Bộ đề ôn luyện thi vào 10 gồm 2 phần: Đọc hiểu và tạo lập 
văn bản. Phần đọc hiểu với những ngữ liệu mới đa dạng, phong phú được biên 
soạn với hệ thống câu hỏi bám sát nội dung chương trình dạy và học theo hướng 
ra đề hiện nay. Phần tạo lập văn bản bao gồm câu nghị luận xã hội viết đoạn văn 
khoảng 200 chữ liên quan đến nọi dung ở phần ngữ liệu đọc hiểu và câu nghị 
luận văn học viết một bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ hoặc một tác 
phẩm truyện ( đoạn trích) liên quan đến những tác phẩn học trong chương trình 
Ngữ văn lớp 9. Cả hai phần đều có hướng dẫn chấm chi tiết, đầy đủ.
 Trong quá trình biên soạn cuốn sách chắc chắn sẽ không tránh khỏi những 
thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý bạn đọc đặc biệt là quý thầy, 
cô giáo và các em học sinh.
 Tôi xin chân thành cảm ơn!
 1 ĐỀ SỐ 1
PHẦN I: ĐỌC HIỂU.
 Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới.
 ĐÔI TAI CỦA TÂM HỒN
 Một cô bé vừa gầy vừa thấp bị thầy giáo loại khỏi dàn đồng ca. Cũng chỉ 
tại cô bé ấy lúc nào cũng chỉ mặc mỗi bộ quần áo vừa bẩn, vừa cũ lại vừa rộng 
nữa. Cô bé buồn tủi ngồi khóc một mình trong công viên. Cô bé nghĩ: Tại sao 
mình lại không được hát? Chẳng lẽ mình hát tồi đến thế sao? Cô bé nghĩ mãi rồi 
cô cất giọng hát khe khẽ. Cô bé cứ hát hết bài này đến bài khác cho đến khi mệt 
lả mới thôi.
- Cháu hát hay quá, một giọng nói vang lên: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ, 
cháu đã cho ta cả một buổi chiều thật vui vẻ”. Cô bé ngẩn người. Người vừa 
khen cô bé là một ông cụ tóc bạc trắng. Ông cụ nói xong liền chậm rãi bước đi.
 Hôm sau, khi cô bé tới công viên đã thấy ông già ngồi ở chiếc ghế đá hôm 
trước. Khuôn mặt hiền từ mỉm cười chào cô bé. Cô lại hát, cụ già vẫn chăm chú 
lắng nghe. Ông vỗ tay lớn: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ của ta, cháu hát hay 
quá!” Nói xong cụ già lại một mình chậm rãi bước đi. Như vậy, nhiều năm trôi 
qua, cô bé giờ đây đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng. Cô gái vẫn không quên cụ 
già ngồi tựa lưng vào thành ghế đá trong công viên nghe cô hát. Một buổi chiều 
mùa đông, cô đến công viên tìm cụ nhưng ở đó chỉ còn lại chiếc ghế đá trống 
không. Cô hỏi mọi người trong công viên về ông cụ:
- Ông cụ bị điếc ấy ư? Ông ấy đã qua đời rồi, một người trong công viên nói với 
cô.
Cô gái sững người, bật khóc. Hóa ra, bao nhiêu năm nay, tiếng hát của cô luôn 
được khích lệ bởi một đôi tai đặc biệt: đôi tai của tâm hồn.
Câu 1 . Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?
Câu 2. Chỉ ra lời dẫn trong văn bản trên. Cho biết đó là lời dẫn trực tiếp hay 
gián tiếp?
Câu 3. Tình huống bất ngờ trong câu chuyện là sự việc nào?
Câu 4. Ý nghĩa mà câu chuyện gửi tới chúng ta là gì?
PHẦN II: LÀM VĂN.
Câu 1: Viết một đoạn văn khoảng 200 từ bàn về niềm tin trong cuộc sống.
Câu 2: Vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm Lặng Lẽ Sa Pa của 
Nguyễn Thành Long.
 HƯỚNG DẪN CHẤM.
 Câu NỘI DUNG Điểm
 PHẦN I: ĐỌC HIỂU.
 1 - Phương thức biểu đạt chính: Tự sự: 0.5
 2 .+ Lời dẫn trong văn bản là: 0.5
 - “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ, cháu đã cho ta cả một buổi 
 chiều thật vui vẻ”.
 - “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ của ta, cháu hát hay quá!” 
 - Ông cụ bị điếc ấy ư? Ông ấy đã qua đời rồi, một người trong 
 2 công viên nói với cô.
 + Đó là ời dẫn trực tiếp.
3 Tình huống bất ngờ trong câu chuyện: Cô gái sững người khi 1.0
 nhận ra người bấy lâu nay luôn khích lệ, động viên cho giọng hát 
 của cô lại là một ông cụ bị điếc. 
4 Ý nghĩa câu chuyện gửi tới người đọc: 
 - Trước khó khăn, thử thách, con người cần có niềm tin, nghị lực 
 vượt lên hoàn cảnh để chiến thắng hoàn cảnh. 
 - Truyện còn đề cao sức mạnh của tình yêu thương con người.
 PHẦN II: LÀM VĂN.
1 - Đảm bảo hình thức đoạn văn nghị luận: thí sinh có thể trình bày 0.25
 đoạn văn theo cách diễn diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, móc xích, 
 song hành.
 - Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Sứ mạng của người mẹ 
 - Triển khai vấn nghị luận: thí sinh có thể lựa chọn các thao tác 
 lập luận theo nhiều cách nhưng có thể theo hướng sau:
 - Giải thích vấn đề 0.25
 Niềm tin là sự tin tưởng đặt hết mọi thứ vào người khác hoặc 
 điều gì đó. 
 - Phân tích bình luân 
 Nếu bạn là một người có niềm tin thì đảm bảo với bạn rằng bạn 0.5
 là một trong những người hạnh phúc nhất. Vì niềm tin chính là 
 một loại thuốc tăng lực một nguồn động lực tuyệt vời cho chúng 
 ta. Nó giúp chúng ta tự tin vào bản thân mình vượt qua mọi trở 
 ngại và đạt được thành công vượt bậc trong cuộc sống. Tại sao 
 lại có những người khuyết tật những trở thành huyền thoại chỉ 
 đơn giản là họ có niềm tin vào bản thân và vào cả thế giới. 
 - Mở rộng vấn đề
 Câu hỏi đặt ra là cuộc sống sẽ như thế nào nếu chúng ta không 0.75
 có niềm tin vào bất cứ thứ gì? Chắc chắn với bạn rằng sẽ vô cùng 
 khủng khiếp. Chúng ta sẽ chẳng có động lực làm bất cứ điều gì 
 trong cuộc sống và thậm chí cũng chẳng thể có nổi một ước mơ. 
 Vì có mơ bạn cũng chẳng tin tưởng vào bản thân để thực hiện nó. 
 Bạn sẽ luôn ở trong tâm trạng ngờ vực không tin vào bất cứ điều 
 gì. Nếu vậy thì bạn sẽ không thể nào tồn tại chứ đừng nói đến 
 chuyện tiến bộ. Đã sống ở trên đời thì phải có cho mình một 
 niềm tin. Chỉ có niềm tin và sự quyết tâm mới có thể đưa bạn đến 
 thành công. Nhưng phải nhớ rằng niềm tin và sự mù quáng là hai 
 khái niệm hoàn toàn khác nhau. Hãy luôn luôn tỉnh táo để vượt 
 qua được những cám dỗ và không bao giờ mù quáng tin vào 
 những điều không có thật.
 - Bài học, thông điệp.
 Hãy tập cho mình một thói quen tốt nên tin vào những điều tốt 
 đẹp. Đừng bao giờ đánh mất niềm tin vào bản thân mình, chỉ cần 0,25
 3 bạn tin là mình có thể làm được thì bạn lại có thêm lý do để thực 
 hiện điều đó. 
2 - Đảm bảo thể thức một bài văn nghi luân. 0.5
 - Xác định đúng vấn đề nghị luận.
 - Chính tả, dùng từ đặt câu đảm bảo chuẩn xác.
 - Cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo
 I.Mở bài: 0.5
 - Nguyễn Thành Long (1925 -1991), quê ở huyện Duy Xuyên, 
 tỉnh Quảng Nam. 
 - Ông là một trong những cây bút văn xuôi đáng chú ý trong 
 những năm 1960 -1970, chỉ chuyên viết truyện ngắn và ký. Đề 
 tài hướng vào cuộc sống sinh hoạt, lao động đời thường.
 - Phong cách văn xuôi nhẹ nhàng, tình cảm, giầu chất thơ và ánh 
 lên vẻ đẹp con người, mang ý nghĩa sâu sắc.Truyện của ông 
 thường mang chất ký, mang vẻ đẹp thơ mộng trong trẻo.
 - Truyện được viết năm 1970, là kết quả của chuyến đi thực tế 
 lên Lào Cai của tác giả. Truyện rút từ tập Giữa trong xanh xuất 
 bản năm1972.
 - Vẻ đẹp nhân vật Anh thanh niên trong tác phẩm Lặng Lẽ Sa Pa 
 đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng độc giả.
 II.Thân bài. 3.5
 Luận điểm 1: Thiên nhiên Sa Pa.
 - Sa Pa với những rặng đào, những đàn bò lang cổ...
 - Nắng Sa Pa le ỏi đốt cháy những rừng cây...
  Sa Pa hiện lên một bức tranh thiên nhiên đầy thơ mộng.
 Luận điểm 2: Vẻ đẹp con người Sa Pa – Nhân vật Anh thanh 
 niên.
 1. Lai lịch:
 - Anh TN 27 tuổi, quê ở Lào Cai. Anh tình nguyện lên vùng 
 núi để công tác.
 2. Hoàn cảnh sống.
 - Sống cô độc một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét , 
 sống giữa rừng xanh, mây trắng, bốn bề chỉ toàn là cỏ cây.
 => Đầy là hoàn cảnh sống đầy khó khăn, gian khổ. Điều này 
 cho thấy anh là một người đầy bản lĩnh thì mới dám làm việc 
 ở một nơi như thế.
 3. Công việc.
 - Anh làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu. Hàng ngày, 
 anh phải tiếp xúc với đủ loại máy đo mưa, đo gió, đo...Công 
 việc của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng
 => Tuy công việc không nguy hiểm, không phải đối diện với 
 thần chết nhưng đòi hỏi anh phải vượt qua vươn lên được “ sự cô 
 độc nhất thế gian” vượt qua những “ cơn thèm người.”
 Luận điểm 3. Vẻ đẹp nhân vật Anh thanh niên.
 1. Anh là người có suy nghĩ đúng đắn về công việc.
 4 - Anh tình nguyện lên sống và làm việc ở một quanh năm 
 mây mù, lạnh lẽo. 
 - Anh nghĩ anh với công việc là đôi sao gọi là môt mình 
 được...
  Anh là một thanh niên có lí tưởng sống cao đẹp. Sống là 
 phải biết cống hiến, cho đi mà không nhận lại bao giờ 
 nghĩ vậy anh càng yêu cuộc sống hơn “ anh thấy cuộc đời 
 đẹp quá”
 2. Anh là người yêu đời, yêu nghề tinh thần trách nhiệm 
 cao.
 * Yêu đời.
 - Anh trồng hoa ,nuôi gà, đọc sách. Ngoài những công viecj này 
anh còn nghiên cứu sách báo. Anh nhờ bác lái xe mua sách cho 
mình.
=> Anh luôn tạo cho mình một cuộc sống vui vẻ, lạc quan yêu 
đời. Bởi vậy anh không cảm thấy cô đơn khi sống một mình trên 
vùng cao hẻo lánh.
 * Yêu nghề.
- Lòng yêu nghề của anh như hồi trống thúc giục hăng hái xây 
dựng tổ quốc. Yêu nghề đến nỗi xem công việc như người bạn 
của mình. Anh nghĩ mình với công việc là đôi, nếu cất nó đi cháu 
buồn đến chết mất.
=> Đối với anh công việc là niềm đam mê cháy bỏng là hạnh 
phúc lớn nhất.
 * Tinh thần trách nhiệm cao.
- Những giờ đi ốp vào lúc một giờ sáng: Mưa, gió, tuyết gào thét 
bên ngoài như những nhát chổi quét đi tất cả nhưng một mình 
anh thôi, anh vẫn lôn tự giác hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
- Tinh thần trách nhiệm ấy còn thể hiện ngay với chính bản thân 
mình. Trong căn nhà nhỏ bé luôn ngưn nắp gọn gàng đến mức 
ông họa sĩ cũng phải bất ngờ.
=> Lòng yêu nghề và tinh thần trách nhiệm việc càng khiến 
người đọc khâm phục anh hơn. Anh như cánh chim trời mải miết 
quên mình cho những đam mê bất tận.
3. Anh là người hiếu khách quan tâm chu đáo đến mọi người.
- Anh rót nước mời ông họa sĩ và co kĩ sư, cắt hoa tặng cô kĩ sư 
và biếu ông họa sĩ làn trứng, biếu vợ bác lái xe củ tam thất.
- Những món quà ấy tuy không đáng là bao nhưng thấm đượm 
tình nghĩa, giàu lòng hiếu khách.
- Anh trò chuyện một cách sởi lởi với mọi người. Anh tiếc nuối 
khi thời gian của cuộc gặp gỡ trôi quá nhanh. Anh thốt lên: “ 
Trời ơi chỉ còn năm phút”.
=> Những điều ấy cho thấy anh là một người hiếu khách, quan 
tâm đến mọi người khiến người đọc càng khâm phục anh hơn.
4. Anh khiêm tốn với những đóng gps của mình, luôn đề cao 
 5 người khác.
 - Anh khiêm tốn kể về đóng góp của mình.
 - Anh thấy mình chưa xứng đáng được vẽ nên đã say xưa kể về 
 những thành tích của người khác mà anh cho là xứng đáng để 
 ông họa sĩ vẽ.
 => Anh thanh niên dù còn trẻ nhưng anh thấu hiểu được cái 
 nghĩa, cái tình, thấm thía được sự hi sinh thầm lặng của bao con 
 người đang ngày đêm lo nghĩ cho đất nước.
 III. Kết bài. 0,5
 - Bằng cách kể chuyện tự nhiên, đơn gian qua điểm nhìn trần 
 thuật của ông họa sĩ, xây dựng tình huống truyện hợp lí. Nguyễn 
 Thành Long làm hiện lên một cuộc sống đẹp, tâm hồn đẹp của 
 người thanh niên làm ta trân trọng, khâm phục buộc ta suy nghĩ 
 lại cách sống của bản thân.
 - Cách sống của người thanh niên có lí tưởng, biết hi sinh cho 
 nhân dân, đất nước kiêm tốn, giản dị .Anh là người tiên biểu cho 
 thế hệ trẻ Việt Nam mọi thời đại
 ĐỀ SỐ 2
I. PHẦN ĐỌC - HIỂU (6,0 điểm):
 Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
 Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển
 Có một phần máu thịt của Hoàng Sa
 Ngàn năm trước con theo cha xuống biển
 Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa 
 Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
 Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
 Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
 Trong hồn người có ngọn sóng nào không?
 Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hòn đảo
 Lạc Long cha nay chưa thấy trở về
 Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
 Máu xương này con cháu mãi nhớ ghi 
 (Tổ quốc nhìn từ biển - Nguyễn Việt Chiến)
Câu1. Xácđịnh phương thứcbiểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ trên? 
Giải thích nghĩa của từ “Giông bão” 
Câu 2.Truyền thuyết nào được nhắc tới trong bài thơ? Ý nghĩa của việc nhắc lại 
truyền thuyết đó?
Câu 3.Xác định và phân tích biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ 
hai? 
Câu 4.Bài thơ đã gửi đến bạn đọc thông điệp gì?
 6 II. PHẦN TẬP LÀM VĂN 
Câu 1. ( 2 điểm) Từ câu thơ “Lời cha dặn phải giữ từng thước đất”, em hãy 
viết 1 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về trách nhiệm 
giữ gìn chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
Câu 2 ( 5 điểm) Cảm nhận của em về 2 khổ thơ cuối bài thơ Đoàn thuyền 
đánh cá của Huy Cận.
 ”... Sao mờ, kéo lưới trời sáng
 Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
 Vẫy bạc đuôi vàng léo rạng đông
 Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng
 Câu hát căng buồm với gió khơi,
 Đoàn thuyền chạy đau cùng mặt trời.
 Mặt trời đội biển nhô màu mới
 Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”
 HƯỚNG DẪN CHẤM
 Câu NỘI DUNG Điểm
 I. PHẦN ĐỌC HIỂU( 3 điểm)
 1 - Phương thức biểu đạt: Biểu cảm .
 - Giải thích“Bão giông”: Hiểm họa của thiên nhiên và hiểm họa 
 về chủ quyền biển đảo đang bị đe dọa.
 2 - Truyền thuyết được nhắc tới trong bài thơ: Con Rồng cháu Tiên
 - Ý nghĩa: Khẳng định chủ quyền dân tộc. nhắc nhở về chủ quyền 
 và toàn vẹn lãnh thổ. Khơi dậy niềm tự hào ý thức đấu tranh bảo 
 vệ toàn vẹn lãnh thổ.
 3 Ẩn dụ, câu hỏi tu từ
 + Ẩn dụ sóng (câu 3) thiên tai và chủ quyền biển đảo bị xâm 
 phạm.
 + Ẩn dụ sóng và câu hỏi tu từ (câu 4) trăn trở, băn khoăn, suy 
 nghĩ của con người trước hiểm họa về chủ quyền biển đảo đang 
 bị đe dọa.
 4 Bài thơ đã gửi đến bạn đọc thông điệp : 
 Những trăn trở, nghĩ suy về trách nhiệm của thế hệ trẻ trước thực 
 tế: Tổ quốc chưa bình yên nếu nhìn từ biển đảo.
 II. PHẦN LÀM VĂN ( 7 điểm)
 1 * Yêu cầu về kĩ năng: 0,25
 - Đảm bảo thể thức đoạn văn
 - Đảm bảo dung lượng.
 - Xác định đúng vấn đề nghị luận.
 - Giới thiệu về chủ quyền biển đảo: Việt Nam là một quốc gia 0.25
 nằm ven biển. Lãnh thổ bao gồm đất liền, thềm lục địa và rất 
 nhiều hải đảo lớn nhỏ.
 7 - Nêu biểu hiện về chủ quyền biển đảo: 0.5
 + Vào những ngày đầu tháng 5/2014, Trung Quốc lại tiếp tục âm 
 mưu bành trướng biển Đông bằng việc hạ đặt giàn khoan HD 981 
 trái phép gần quần đảo Hoàng Sa và tiến hành các hoạt động cải 
 tạo trên Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam
 + Hiện nay vấn đề chủ quyền biển đảo vẫn đang là một vấn đề 
 đặt ra đối với chủ quyền dân tộc
 + Những hành động có ý đồ xâm phạm vùng biển đảo Hoàng Sa, 
 Trường Sa là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền biển đảo của Việt 
 Nam theo công ước Liên hiệp quốc về luật biển 1982.
 - Bàn bạc mở rộng: 0.5
 + Khẳng định Trường Sa, Hoàng Sa là thuộc chủ quyền của VN, 
 thể hiện quyết tâm bảo vệ biển đảo của tổ quốc.
 + Lên án hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ dân tộc của 
 các thế lực xấu..
 - Nhậnthức, hành động: 0.5
 + Nhận thức: Đất nước được toàn vẹn, nhờ có một phần không 
 nhỏ công sức và sự hi sinh thầm lặng của các anh lính nơi biển 
 đảo.
 + Hành động: Mỗi học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà 
 trường cần phấn đấu học tập tốt để góp phần xây dựng và bảo vệ 
 quê hương.
2 1. Yêu cầu về kỹ năng: 0.5
 - Học sinh biết cách làm bài nghị luận văn học, cụ thể là nghị 
 luận về một vấn đề bàn về văn học.
 - Vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận, kiến thức lí luận và 
 cảm thụ tác phẩm để làm sáng tỏvấn đề.
 - Bố cục khoa học, hành văn trong sáng, biểu cảm, không mắc lỗi 
 diễn đạt, chính tả.
 2. Yêu cầu về nội dung: 4.5
 * Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng về cơ bản cần 
 đảm bảo một số vấn đề chính như sau:
 1. Mở bài: 0.5
 - Huy cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ ca 
 hiện đại Việt Nam
 - Giữa năm 1958, ông có chuyến đi dài ngày thực tế ở Quảng 
 Ninh. Từ chuyến đi thực tế này ông viết Đoàn Thuyền Đánh Cá .
 - Hai khổ thơ cuối , tác giả khăc họa hình ảnh tráng lệ, thể hiện 
 sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động , bộc lộ niềm 
 vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống.
 ”... Sao mờ, kéo lưới trời sáng
 Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
 Vẫy bạc đuôi vàng léo rạng đông
 Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng
 8 Câu hát căng buồm với gió khơi,
 Đoàn thuyền chạy đau cùng mặt trời.
 Mặt trời đội biển nhô màu mới
 Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”
2. Thân bài: 3.5
 * Vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên tráng lệ và người lao động: 
Ra đi từ lúc hoàng hôn buông xuống , sóng cài then , đêm sập 
cửa, vũ trụ nghĩ ngơi , nay trở về bình minh đang lên rạng rỡ . 
Trước hết , đó là cảnh khẩn trương ,hối hả chuẩn bị cho sự trở về: 
 ”... Sao mờ, kéo lưới trời sáng
 Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
 Vẫy bạc đuôi vàng léo rạng đông
 Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”
 Tất cả tinh thần tranh thủ , hối hả được diễn tả qua từ ” 
Kịp” và hình ảnh ” kéo xoăn tay” một hình ảnh thơ khẻo khoắn 
gợi tả một công việc lao động hăn say , vất vả nhưng lấp lánh 
niềm vui bởi thành quả lao động mà họ đạt được ” chùm cá 
nặng”. Xoa tay đứng nhìn đầy chặt khoang những cá nụ, cá chim 
, cá đé.....vẫy đuôi ánh sáng bình minh lấp lánh ánh bạc.
 - Tinh thần khẩn trương , hối hả của người ngư dân lúc 
kéo lưới ” sao mờ kéo lưới trời sáng” 
 - Sự khẻo mạnh của người lao động của họ qua hình ảnh 
ẩn dụ” ta kép xoăn tay chùm cá nặng” 
 - Niềm vui tươi trong lao động qua những câu thơ tả cảnh 
đẹp, đầy sáng tạo.
* Cảnh đoàn thuyền buồm căng gío trở về bến: 
Công việc đánh cá kết thúc, khi mà: ” lưới xếp, buồm lên đón 
nắng hồng” ấy à lúc đoàn thuyền trở về : 
 ”Câu hát căng buồm với gió khơi,
 Đoàn thuyền chạy đau cùng mặt trời.
 Mặt trời đội biển nhô màu mới
 Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”
- Chi tiết ” đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” và ” mặt trời đội 
biển nhô màu mới” là chi tiết giàu ý nghĩa . Hình ảnh ” mặt trời” 
là hình ảnh ẩn dụ cho một tương lai xán lạn. Và con thuyền chạy 
đau về tương lai là con thuyền của chủ nghĩa xã hội đang trên 
bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội hứa hẹn thành công.
3. Kết bài: 0.5
- Bài ” đoàn thuyền đánh cá” là một trong những bài thơ hay của 
phản ánh không khí lao động hăng say, náo nức của những 
người lao động đánh cá trên biển trong không khí của những 
ngày đất nước xây dựng sau giải phóng.
- Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng 
liên tưởng, tưởng tượng độc đáo và vận dụng nhiều biện pháp tu 
từ thành công.
 9 ĐỀ SỐ 3.
PHẦN I. ĐỌC HIỂU 
 Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi.
(1) Một chàng trai trẻ đến gặp một chuyên gia đá quý và đề nghị ông ta dạy cho 
anh trở thành một nhà nghiên cứu về đá quý. Chuyên gia nọ từ chối vì ông sợ 
rằng chàng trai không đủ kiên nhẫn để theo học. Chàng trai cầu xin một cơ hội. 
Cuối cùng, vị chuyên gia đồng ý và bảo chàng trai "Ngày mai hãy đến đây".
(2) Sáng hôm sau, vị chuyên gia đặt một hòn ngọc bích vào tay chàng trai và bảo 
chàng hãy cầm nó. Rồi ông tiếp tục công việc của mình: mài đá, cân và phân 
loại đá quý. Chàng trai ngồi yên lặng và chờ đợi.
(3) Buổi sáng tiếp theo, vị chuyên gia lại đặt hòn ngọc bích vào tay chàng trai và 
bảo chàng cầm nó. Ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm sau đó vị chuyên gia vẫn lặp lại 
hành động trên.
(4) Đến ngày thứ sáu, chàng trai vẫn cầm hòn ngọc bích nhưng chàng không thể 
im lặng được nữa.
- Thưa thầy - chàng trai hỏi - khi nào thì em sẽ bắt đầu học ạ?
- Con sẽ được học - vị chuyên gia trả lời và tiếp tục công việc của mình.
(3) Vài ngày nữa lại trôi qua và sự thất vọng của chàng trai càng tăng. Một ngày 
kia, khi vị chuyên gia bảo chàng trai đưa tay ra, chàng định nói với ông ta rằng 
chàng chẳng muốn tiếp tục việc này nữa. Nhưng khi vị chuyên gia đặt hòn ngọc 
bích lên tay chàng trai, chàng nói mà không cần nhìn viên đá:
- Đây không phải là hòn đá con vẫn cầm!
- Con đã bắt đầu học rồi đấy - vị chuyên gia nói. 
 (Theo Quà tặng cuộc sống. NXB Trẻ, 2013)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2. Vì sao ban đầu vị chuyên gia lại từ chối lời đề nghị của chàng trai? 
Câu 3. Tìm câu văn có lời dẫn trực tiếp trong đoạn (1), sau đó chuyển thành lời 
dẫn gián tiếp. 
Câu 4. Anh/chị có đồng tình với quan điểm được gợi ra từ phần đọc hiểu "tự 
học là cách học tập hiệu quả nhất" không? Vì sao? (Trình bày từ 7 đến 10 câu) 
 II. TẠO LẬP VĂN BẢN 
Câu 1. (2,0 điểm) 
Từ nội dung của văn bản trong phần đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn 
(khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của lòng kiên nhẫn.
Câu 2. (5 điểm) Phân tích đoạn thơ sau đây, trích trong Bài thơ về tiểu đội xe 
không kính của Phạm Tiến Duật:
 Không có kính không phải vì xe không có kính 
 Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
 Ung dung buồng lái ta ngồi,
 Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
 Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
 Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
 10 Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
 Như sa như ùa vào buồng lái.
 (Theo Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2018, Trang 13)
 HƯỚNG DẪN CHẤM
Câu NỘI DUNG Điểm
 Phần I – Đọc hiểu
 1 - Phương thức tự sự 0.5
 2 - Ban đầu vị chuyên gia từ chối lời đề nghị của chàng trai vì ông 0.5
 sợ rằng chàng trai không đủ kiên nhẫn.
 3 - Câu văn có lời dẫn trực tiếp: Cuối cùng, vị chuyên gia đồng ý 1.0
 và bảo chàng trai “ Ngày mai hãy đến đây”
 - Chuyển lời dẫn trực tiếp thành gián tiếp: Cuối cùng, vị chuyên 
 gia đồng ý và bảo chàng trai ngày mai hãy đến.
 4 Đồng ý, vì: 1.0
 - Tự học là tự giác, chủ động trong học tập nhằm vươn lên nắm 
 bắt tri thức. Tự học không chỉ đơn thuần là tiếp nhận kiến thức từ 
 thầy cô mà là còn học hỏi ở bạn bè, tìm tòi nghiên cứu sách vở 
 hay học hỏi, quan sát từ thực tế.
 - Khi tự học, người học sẽ lựa chọn những gì phù hợp với năng 
 lực và nhu cầu của bản thân. 
 - Qua tự học, từ lí thuyết, chúng ta biết chủ động luyện tập thực 
 hành, giúp ta có thể nhanh chóng hình thành kĩ năng, củng cố và 
 nâng cao kiến thức đã học. 
 II – Tạo lập văn bản
 1 - Đảm bảo thể thức đoạn văn 0,25
 - Đảm bảo dung lượng.
 - Xác định đúng vấn đề nghị luận.
 Đoạn văn đảm bảo các nội dung sau: 1.75
 1. Nêu khái niệm lòng kiên nhẫn: Là sự nhẫn nại, bền bỉ, vững 0.5
 vàng, không cúi đầu trước thất bại, nhẫn nại chịu đựng trong 
 hoàn cảnh khó khăn .
 2. Bàn luận mở rộng 0.75
 - Lòng kiên nhẫn giúp con người rèn luyện ý chí, nghị lực từ đó 
 không dễ dàng bị vấp ngã.
 -Người có lòng kiên nhẫn thường là những người có ý trí theo 
 đuổi mục tiêu cao, không sợ hãi hay lùi bước trước những khó 
 khăn có thể xảy đến trong cuộc sống.
 - Người kiên nhẫn sẽ thường đạt được thành công bởi kiên nhẫn 
 giúp con người khẳng định được bản thân mình thử thách được 
 năng lực của mình trước những chướng ngại vật.
 - Người có lòng kiên nhẫn tích góp được cho mình nhiều kinh 
 nghiệm quý giá và sự dẻo dai.
 - Dẫn chứng cụ thể một tấm tấm gương về lòng kiên nhẫn mà em 
 11 biết.
 - Người không có lòng kiên nhẫn thường chán nản, bỏ dở mọi 
 việc giữa chừng, khó thành công trong mọi việc.Lòng kiên nhẫn 
 cùng với sự tìm tòi và đi đúng hướng mới thành công được, còn 
 nếu bạn kiên trì, nhẫn nại nhưng thiếu hiểu biết thì sẽ đồng nghĩa 
 với phá hoại “ Kiên trì cộng ngu dốt sẽ là phá hoại”
 3. Bài học nhận thức và hành động 0.5
 - Lòng kiên nhẫn là một đức tính đáng quý và đáng có của con 
 người.
 - Tự rèn luyện bản thân từ những việc nhỏ nhất, trau dồi sự tỉ mỉ 
 và nhẫn nại. Khi chúng ta đứng trước một khó khăn thử thách 
 đừng nên bỏ qua mà hãy tự mình vượt qua, không ngại khó khan 
 gian khổ.
 - Đảm bảo bố cúc một bài văn. 0,5
 - Xác định đúng vấn đè nghị luân.
2 - Chuẩn chính tả trong cách dùng từ đạt câu.
 1.Mở bài 0.5
 – Phạm Tiến Duật (1941-2007), quê Thanh Ba, Phú Thọ.
 – 1964, sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn của trường Đại học Sư 
 phạm Hà Nội ,ông gia nhập binh đoàn vận tải Trường Sơn và 
 hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm chống 
 Mỹ.
 – Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà 
 thơ trẻ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
 - Bài thơ về tiểu đội xe không kính đã ghi lại nét ngang tàng, táo 
 bạo, dũng cảm và lạc quan của người lính lái xe trong binh đoàn 
 vận tải quân sự, qua đó ca ngợi chủ nghĩa anh hùng Cách Mạng 
 Việt Nam thời kì đánh Mĩ.
 - Trích dẫn 2 đoạn thơ
 2. Thân bài: Phân tích 3.5
 * Khổ thơ thứ nhất diễn tả sự khó khăn, gian khổ thiếu thốn 
 trong chiến tranh và sự ung dung của người lính:
 + Bài thơ làm hiện lên một chiếc xe không kính đang vượt 
 qua bom đạn băng băng tiến ra tiền phương. Hàng vạn chiếc xe 
 “Không kính” vượt qua mưa bom bão đạn, dốc thẳm, khe suối.
 + Điệp khúc “không có kính” được trở đi trở lại với một 
 giọng điệu tinh nghịch, khỏe khoắn, tiếng reo vui, tiếng cười đùa, 
 tiếng hò hát trên con đường trông gai đầy mưa bom bão đạn. Hai 
 câu thơ đầu không nói rõ vì sao “không có kính”. Cấu trúc bài 
 thơ dưới hình thức hỏi đáp. Ba chữ “không” đi liền nhau, hai nút 
 nhấn “bom giật, bom rung” biểu lộ chất lính, đậm chất văn xuôi 
 nghe rất thú vị
 + Tư thế ung dung, hiên ngang đường hoàng, tinh thần dũng 
 cảm, coi thường hiểm nguy. Một tư thế lái xe “ung dung” tuyệt 
 đẹp: thong thả, khoan thai, những cái nhìn dũng mãnh mà hiên 
 12 ngang: Ung dung buồng lái ta ngồi 
* Khổ thơ thứ hai: Đó là thước phim quay chầm chậm về 
những gì người lính “nhìn thấy trong sự nguy hiểm, khó khăn, ác 
liệt ấy.
 + Có gió thổi, có cánh chim chiều và cả ánh sao đêm.Gió 
được nhân hóa và chuyển đổi cảm giác đầy ấn tượng “gió vào 
xoa mắt đắng”. Xe chạy thâu đêm, xe lại không có kinh nên mới 
có cảm giác “đắng” như thế.
 Con đường phía trước là con đường chiến lược cụ thể, nó 
còn mang hàm ý “chạy thẳng vào tim”, con đường chiến đấu 
chính nghĩa vì lẽ sống, vì tình thương, vì độc lập tự do của đất 
nước và dân tộc.
 “Nhìn thấy” với các chữ “sa”, chữ “ma” góp phần đặc tả 
tốc độ phi thường của chiếc xe quân sự đang bay đi, đang lướt 
nhanh trong bom đạn.
3. Kết bài: Đánh giá chung: 0.5
 - Với cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ, so sánh, điệp ngữ, 
Phạm Tiến Duật rất thành công trong việc khắc họa vẻ đẹp ý chí 
và tâm hồn của người chiến sĩ lái xe tiền phương.
 - Con đường chiến lược Trường Sơn là một chiến tích mang 
màu sắc huyền thoại của dân tộc ta trong thời kì kháng chiến 
chống Mĩ. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến 
Duật đã làm sống lại một thời gian khổ, oanh liệt của anh bộ đội 
Cụ Hồ. Chất anh hùng ca dào dạt trong bài thơ. Bài thơ cũng là 
một chứng tích tuyệt đẹp của hậu phương lớn đối với tiền tuyến 
lớn anh hùng.
 13 ĐỀ 4
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
 Đọc đoạn trích sau đây và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới.
 Ước mơ giống như bánh lái của một con tàu. Bánh lái có thể nhỏ và 
không nhìn thấy được, nhưng nó điều khiển hướng đi của con người. Cuộc đời 
không có ước mơ giống như con tàu không có bánh lái. Cũng như con tàu không 
có bánh lái, người không ước mơ sẽ trôi dạt lững lờ cho đến khi mắc kẹt trong 
đám rong biển.
 (Theo Bùi Hữu Giao, Hành trang vào đời, trang 99, NXB Thanh Niên) 
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2: Xác định biện pháp tu từ và nếu tác dụng của biện pháp tu từ ấy trong 
câu: Ước mơ giống nhau thành lại của con tàu.
Câu 3: Em hiểu như thế nào về cách nói của tác giả; người không ước mơ sẽ 
trôi dạt lững lờ cho đến khi mắc kẹt trong đầm rong biển?
Câu 4. Ý nghĩa của câu chuyện trên là gì?
II. PHẦN LÀM VĂN 
Câu 1: ( 2 điểm) Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 trang giấy thi) trình 
bày suy nghĩ về ý chí, nghị lực sống của con người.
Câu 2 ( 5 điểm)Trong văn bản “Tiếng nói văn nghệ”, Nguyễn Đình thi có viết: 
“Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ thuật vào đốt lửa 
trong lòng chúng ta, khiến chúng ta tự phải bước lên đường ấy”.
Qua văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, em hãy làm sáng tỏ ý 
kiến trên./.
 HƯỚNG DẪN CHẤM.
Câu NỘI DUNG Điểm 
 I. PHẦN ĐỌC HIỂU
 1 - Xác định phương thức biểu đạt chính: nghị luận 0.5
 2 - Biện pháp tu từ trong câu: Ước mơ giống nhau thành lại của 0.5
 con tàu là so sánh, ước mơ được so sánh với bánh lái con tàu.
 - Tác dụng: Giúp câu văn thêm độc đáo, dễ hình dung và sinh 
 động hơn
 - Khi so sánh ước mơ như bánh lái con tàu tác giả muốn nhấn 
 mạnh nếu con tàu không có bánh lại không thể vận hành, cũng 
 giống như con người sống không có mơ ước thì chính là đang 
 sống hoài, sống phí
 3 Cách nói của tác giả có thể được hiểu như sau: Sống mà không 1.0
 có mơ ước tức là không có mục tiêu, cuộc sống tái diễn những 
 ngày tháng lặp lại nhàm chán và rồi cuối cùng không biết mình 
 sống để làm gì, không tìm được ý nghĩa cuộc sống.
 4 – Trong cuộc sống mỗi người luôn phải có ước mơ, cho dù đó là 1.0
 ước mơ nhỏ nhoi, giản dị. Bởi có ước mơ, hoài bão thì mới có 
 đích hướng tới, mới có mục tiêu và động lực phấn đấu.
 II. PHẦN LÀM VĂN
 14 - Đảm bảo thể thức đoạn văn 0,25
 - Đảm bảo dung lượng.
 - Xác định đúng vấn đề nghị luận.
1 Mở đoạn- Giới thiệu ngắn gọn vấn đề cần nghị luận: ý chí và 0.25
 nghị lực sống là điều cần thiết trong cuộc sống.
 Thân đoạn 1..25
 1. Giải thích
 - Nghị lực sống: Cố gắng quyết tâm vượt qua thử thách dù khó 
 khăn, gian khổ đến đâu.
 - Người có ý chí, nghị lực sống: Luôn kiên trì, nhẫn nại vượt qua 
 những khó khăn, chông gai trong cuộc đời.
 2. Phân tích, chứng minh
 Nguồn gốc, biểu hiện của ý chí nghị lực - Nguồn gốc
 + Nghị lực của con người không phải trời sinh ra mà có, nó xuất 
 phát và được rèn luyện từ gian khổ của cuộc sống. Ví dụ: 
 Nguyễn Sơn Lâm 
 - Biểu hiện của ý chí nghị lực
 + Người có nghị lực luôn có thể chuyển rủi thành may, chuyển 
 họa thành phúc. Không khuất phục số phận và đổ lỗi thất bại do 
 số phận. Ví dụ: Milton, Beethoven 
 - Vai trò của ý chí nghị lực
 - Nghị lực giúp con người đối chọi với khó khăn, vượt qua thử 
 thách của cuộc sống một cách dễ dàng hơn. Ví dụ: Bill Gate, 
 3. Bình luận, mở rộng
 - Trái ngược với những người có ý chí rèn luyện là những người 
 không có ý chí. Giới trẻ bây giờ vẫn rất còn nhiều người chưa 
 làm nhưng thấy khó khăn đã nản chí, thấy thất bại thì hủy hoại 
 và sống bất cần đời.
 => Lối sống cần lên án gay gắt.
 4. Bài học nhận thức và hành động
 - Cuộc sống nhiều gian nan, thử thách thì nghị lực sống là rất 
 quan trọng.
 - Rèn luyện bản thân thành người có ý chí và nghị lực để vượt 
 qua mọi chông gai và thử thách trên chặng đường dài.
 - Lên án, phê phán những người sống mà không có ý chí nghị 
 lực, không có niềm tin về cuộc sống.
 - Học tập những tấm gương sáng để đi tới thành công.
 Kết đoạn Khẳng định lại vấn đề: Có ý chí, nghị lực, niềm tin thì 0.25
 chúng ta có thể vượt qua mọi khó khăn để đưa những bước chân 
 gần hơn với thành công và hạnh phúc.
2 A. Yêu cầu chung. 0.5
 Về hình thức:
 -Thể loại: Thuộc kiểu bài chứng minh một vấn đề về văn học.Bố 
 cục: Cân đối, kết cấu chặt chẽ. Diễn đạt: Văn viết phải lưu loát, 
 15 đúng chính tả, đúng ngữ pháp; trình bày sạch đẹp, rõ ràng, có 
cảm xúc.
-Phương pháp: Nắm vững phương pháp làm bài nghị luận về 
một vấn đề văn chương thông qua việc phân tích một tác phẩm 
truyện để là rõ vấn đề (luận điểm rõ ràng, có sức thuyết phục, 
biết cách trích dẫn chứng và phân tích các dẫn chứng đã nêu, biết 
kết hợp yếu tổ biểu cảm trong nghị luận...).
Về nội dung: Đề văn nhằm đánh giá kiến thức thí sinh về một 
tác phẩm cụ thể đồng thời ở một mức độ nào đó, đánh giá sự 
hiểu biết của các em về góc độ lí luận văn học, đó là tác dụng 
của nghệ thuật, cái hay của thơ ca. Ở đề này cái chính là hiểu và 
lấy văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long để làm 
sáng tỏ quan niệm của Nguyễn Đình Thi về văn học nghệ thuật: 
“Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ 
thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta tự phải 
bước lên đường ấy”.
Yêu cầu cụ thể: 4.5
-Học sinh có thể viết bằng nhiều cách khác nhau nhưng phải 
đảm bảo nắm được và làm toát lên những nội dung cơ bản sau:
*Dẫn dắt giới thiệu vấn đề: Nhận định trên đã nói lên chức năng 
nhận thức, chức năng thẩm mĩ và chức năng giáo dục của nghệ 
thuật, của văn chương (tác dụng của nghệ thuật, văn chương.)
*Giải thích một cách khái quát nhận định:
- Nghệ thuật là một loại hình độc đáo thể hiện cuộc sống qua các 
hình tượng, nét vẽ, màu sắc, hình khối, âm thanh. Nghệ thuật 
được tác giả nói ở đây nên hiểu là nghệ thuật văn chương.
-Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta: nghệ thuật khác với 
những bài thuyết giảng đạo lí, mà các tác phẩm nghệ thuật là con 
đẻ của người nghệ sĩ, trong đó các nhà văn gửi gắm những suy tư, 
ước vọng của mình đến với độc giả. Tư tưởng trong tác phẩm 
nghệ thuật là thứ tư tưởng náu mình.
-Nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta là: các tác phẩm 
văn chương tác động vào nhận thức, tâm tư, tình cảm của ngƣời 
đọc, giúp người đọc hiểu được hiện thực cuộc sống được phản ánh 
trong tác phẩm và qua sự rung động mà tác phẩm đem lại ngƣời 
tiếp nhận sẽ nhận thức rõ cái đẹp, cái đúng, cái sai trong thực tế 
cuộc sống, từ đó có những tình cảm yêu cái tốt đẹp, ghét cái xấu 
xa sai trái...
-Khiến chúng ta tự phải bước đi lên đường ấy: Từ những tình 
cảm tốt đẹp mà tác phẩm nghệ thuật đem lại, người đọc sẽ có 
hành động phù hợp như kế thừa, phát huy, noi theo những điều tốt 
đẹp, đấu tranh, phê phán cái xấu xa, lỗi thời, hèn kém...
*Chứng minh nhận định qua văn bản “lặng lẽ Sa Pa”:
- Lặng lẽ Sa pa giúp cho người đọc thấy nghị lực phi thường và 
những phẩm chất cao đẹp của các nhân vật trong truyện mà tiêu 
 16 biểu là nhân vật anh thanh niên đã giúp người đọc thấy rõ 
những phẩm chất cao đẹp của người lao động mới trong thời kì 
xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền nam 
mà thêm trân trọng yêu mến những con người đó:
+ Một con người có nghị lực phi thường: trong hoàn cảnh khó 
khăn của cuộc sống anh vẫn vượt lên để hoàn thành tốt nhiệm vụ 
(D/C + PT)
+ Anh có lí tưởng đúng đắn : “Mình sinh ra ở đâu, mình vì ai mà 
làm việc”...
+ Anh biết tìm niềm vui trong công việc nhàm chán của mình 
với suy nghĩ “Mình với công việc là đôi ai bào là một mình 
được”....
+ Anh ham học hỏi, nghiên cứu khoa học (D/C + PT)
+ Anh là người có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc 
“Một giờ sáng vẫn thức dậy đi ốp” mặc dù thời tiết ở Sa Pa rất 
lạnh giá...
+ Anh còn biết cải thiện cuộc sống, đã trồng rau, trồng hoa, nuôi 
gà....
+ Anh còn là người rất khiêm tốn, khi người họa sĩ muốn vẽ anh, 
anh đã giới thiệu những người khác đáng vẽ hơn (D/C + PT)
Vẻ đẹp anh thanh niên đã có sức lan tỏa đến cô kĩ sư, ông họa sĩ 
(D/C + PT)
-Các nhân vật khác như: cô kĩ sư, ông họa sĩ, bác lái xe, ông kĩ 
sư nông học, anh cán bộ sét, anh cán bộ khí tượng ở đỉnh cao hơn 
bốn ngàn mét.đều say mê cống hiến cho đất nước.
-Qua nhân vật anh thanh niên người đọc thấy rõ vẻ đẹp tâm hồn 
của anh anh niên, thấy được ý thức công dân của mình trong 
cuộc sống.
-Người đọc khâm phục những đức tính cao đẹp của anh thanh 
niên để từ đó học tập noi gương, có hành động đúng trong công 
cuộc xây dựng đất nước ngày nay...
Khẳng định nhận định: đánh giá thành công của truyện ngắn 
“Lặng lẽ Sa Pa”
- Truyện đã góp phần cổ vũ, động viện nhân dân ta trong xây 
dựng và bảo vệ Tổ quốc đồng thời cũng là bức thông điệp gửi đề 
mọi người ý thức công dân trong xây dựng và bảo vệ đất nước. 
Thổi bùng trong ta lòng yêu đất nước và ý thức cống hiến những 
gì tốt đẹp nhất cho đất nước.
-Ý kiến của Nguyễn Đình Thi là hoàn toàn đúng đắn có ý nghĩa 
khẳng định sức mạnh của nghệ thuật nói chung, của văn chương 
nói riêng.
 17 ĐỀ 5
I. PHẦN ĐỌC HIỂU: ( điểm)
 Đọc ngữ liệu và trả lời các câu hỏi:
 Điều gì là quan trọng?
 Chuyện xảy ra tại một trường trung học.
Thầy giáo giơ cao một tờ giấy trắng, trên đó có một vệt đen dài và đặt câu hỏi 
với học sinh:
- Các em có thấy gì không? Cả phòng vang lên câu trả lời:
- Đó là một vệt đen.
Thầy giáo nhận xét:
- Các em trả lời không sai. Nhưng không ai nhận ra đây là một tờ giấy trắng ư? 
Và thấy kết luận:
- Ở người thường chủ tâm đến những lỗi lầm nhỏ nhất của người khác mà quên 
đi những phẩm chất tốt đẹp của họ. Khi phải đánh giá về một sự việc hay một 
con người, thầy mong các em đừng chú trọng vào vệt đen mà hãy nhìn ra tờ giấy 
trăng với nhiều mảng sạch mà ta có thể viết lên đỏ những điều có ích cho đời,
 (Trích Quà tặng cuộc sống - Dẫn theo 
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính.
Câu 2 Chỉ ra và gọi tên phép liên kết hình thức ở câu sau : Các em trả lời không 
sai. Nhưng không ai nhận ra đây là một tờ giấy trắng ư? Và thấy kết luận:
Câu 3 Em hiểu thế nào về câu nói: "Có người thường chú tâm đến những lỗi 
lầm nhỏ nhặt của người khác mà quên đi những phẩm chất tốt đẹp của họ"?
Câu 4: 
 Từ ngữ liệu trên, em rút ra bài học gì?
II.PHẦN LÀM VĂN: 
Câu 1.( 2 điểm) Từ ngữ liệu ở phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn 
(khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về lời khuyên của thầy giáo "Khi phải 
đánh giá về một sự việc hay một con người, thầy mong các em đừng chú trọng 
vào vệt đen mà hãy nhìn ra tờ giấy trăng với nhiều mảng sạch mà ta có thể 
viết lên đỏ những điều có ích cho đời,"
Câu 2.( 5 điểm) Vẻ đẹp của bức tranh mùa thu lúc giao mùa trong bài Sang 
thu của Hữu Thỉnh 
 ” Bỗng nhận ra hương ổi
 Phá vào trong gió se
 Sương chùng chình qua ngõ
 Hình như thu đã về
 Sông được lúc dềnh dàng
 Chim bắt đầu vội vã
 Có đám mây mùa hạ
 Vắt nửa mình sang thu
 18 Vẫn còn bao nhiêu nắng
 Đã vơi dần cơm mưa
 Sấm cũng bớt bất ngờ
 Trên hàng cây đứng tuổi”
 HƯỚNG DẪN CHẤM.
Câu NỘI DUNG Điểm
 I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (3,0 điểm)
 1 Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
 2 -Phép nối: Nhưng
 3 - Việc chỉ “chú tâm đến những lỗi lầm nhỏ nhặt của người khác 
 mà quên đi những phẩm chất tốt đẹp của họ” thể hiện một cách 
 đánh giá con người chủ quan, phiến diện, thiếu đi sự độ lượng, 
 bao dung cần thiết để nhìn nhận, đánh giá người khác một cách 
 toàn diện
 4 Các em có thể tùy theo suy nghĩ của mình:
 - Đừng đánh giá người khác qua sai lầm, thiếu sót, hạn chế của 
 họ
 - Đừng bao giờ phán xét người khác một cách dễ dàng
 II.PHẦN LÀM VĂN: ( 7 điểm)
 1 * Yêu cầu về kĩ năng: 0,25
 - Đảm bảo thể thức đoạn văn
 - Đảm bảo dung lượng.
 - Xác định đúng vấn đề nghị luận.
 Giới thiệu vấn đề: 0.25
 - Có một lời khuyên của thầy giáo nói với học sinh "Khi phải 
 đánh giá về một sự việc hay một con người, thầy mong các em 
 đừng chú trọng vào vệt đen mà hãy nhìn ra tờ giấy trăng với 
 nhiều mảng sạch mà ta có thể viết lên đỏ những điều có ích cho 
 đời."
 - Khẳng định điều này là vô cùng đúng đắn. Bàn luận vấn đề:
 Giải thích từ cách nhìn: cách nhìn là sự quan sát, đánh giá, quan 05.
 niệm của mỗi người về hiện tượng, sự vật, con người, cuộc 
 sống 
 - “Vệt đen”: những lỗi lầm những điều chưa tốt, chưa hoàn hảo ở 
 một con người
 - “Tờ giấy trắng” những điều tốt, những khoảng trống trong tâm 
 hồn một người có thể tạo dựng vun đắp để tạo nên những điều tốt 
 đẹp
 => Ý kiến của thầy giáo là một lời khuyên vô cùng đúng đắn: Khi 
 đánh giá một con người không nên quá chú ý vào những sai lầm 
 thiếu sót mà cần biết trân trọng những điều tốt đẹp, biết nhìn thấy 
 trong tâm hồn mỗi người đều có những khoảng trống để từ đó có 
 thể tạo dựng, vun đắp, hoàn thiện nhân cách.
 19 Bình luận về ý nghĩa gợi ra từ câu chuyện: 0.5
 + Cuộc sống muôn hình vạn trạng , cùng một sự việc xảy ra, cùng 
 một vấn đề nhưng mỗi người lại có cách đánh giá khác nhau, phụ 
 thuộc vào cách nhìn nhận chủ quan của bản thân.
 + Trong cuộc sống có những cách đánh giá, nhìn nhận vấn đề 
 đánh mất cơ hội, sự tự tin, lạc quan của con người. Cách nhìn này 
 kìm hãm sự nỗ lực hành động vươn lên của con người. Nhưng 
 trong cuộc sống cũng có những cách đánh giá, nhìn nhận vấn đề 
 tạo cơ hội, niềm tin, lạc quan của con người. Đó là cách nhìn tạo 
 động lực giúp con người nỗ lực hành động để tạo ra những thành 
 quả có ý nghĩa cho bản thân và xã hội.
 + Để có được cách nhìn đúng đắn, tích cực con người cần có sự 
 tinh nhạy, sắc bén, sâu sắc khi quan sát và suy xét thấu đáo vấn 
 đề trước khi đưa ra kết luận. Và quan trọng hơn là phải có niềm 
 tin đối với đối tượng được nhìn nhận, đánh giá.
 Phản đề: Phê phán những người có cái nhìn hời hợt, có cách 
 đánh giá chủ quan theo cảm tính. Phê phán cái nhìn bi quan, thiếu 
 tự tin, 
 Liên hệ và rút ra bài học: 0.25
 - Cuộc sống vốn muôn màu, muôn sắc nên khi nhìn nhận vấn đề 
 không được vội vàng, hấp tấp chỉ nhìn hời hợt bên ngoài hiện 
 tượng mà phải suy nghĩ kĩ lưỡng trước khi đưa ra kết luận. Và 
 phải có trách nhiệm trước sự đánh giá của bản thân.
 - Cần có cách nhìn lạc quan để phát hiện mặt tốt, mặt tích cực của 
 sự vật, hiện tượng, con người . Từ đó luôn biết vượt qua những 
 khó khăn, thử thách để tạo cơ hội hướng tới mục đích cao cả.
2 1. Yêu cầu về kỹ năng: 0.5
 - Học sinh biết cách làm bài nghị luận văn học, cụ thể là nghị 
 luận về một vấn đề bàn về văn học.
 - Vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận, kiến thức lí luận và 
 cảm thụ tác phẩm để làm sáng tỏvấn đề.
 - Bố cục khoa học, hành văn trong sáng, biểu cảm, không mắc lỗi 
 diễn đạt, chính tả.
 2. Yêu cầu về nội dung: 4.5
 * Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng về cơ bản cần 
 đảm bảo một số vấn đề chính như sau:
 1. Mở bài: 0.5
 ” Đây mùa thu tời, mùa thu tới
 Với áo mơ phai dệt lá vàng”
 - Mùa thu là đề tài muôn thuở của thơ ca. Biết bao nhà thơ đã 
 dành tình yêu cho mùa thu của đất trời, mùa thu của lòng 
 người. 
 - Hữu Thỉnh viết bài thơ Sang Thu năm 1977, cũng viết về đề tài 
 mùa thu nhưng lại là thờ khắc giao mùa từ hạ sang thu.
 20

Tài liệu đính kèm:

  • docbo_56_de_on_thi_vao_10_mon_ngu_van_9_co_dap_an.doc