Các biện pháp giúp giáo dục học sinh cá biệt

doc 10 trang Người đăng Hàn Na Ngày đăng 29/11/2025 Lượt xem 13Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Các biện pháp giúp giáo dục học sinh cá biệt", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 CÁC BIỆN PHÁP GIÚP GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT
 I. ĐẶT VẤN ĐỀ
 1. Lí do chọn đề tài
 Công tác giáo dục học sinh cá biệt là công tác không thể thiếu của người 
giáo viên đứng lớp. Học sinh cá biệt chỉ chiếm số ít của lớp nhưng đối với vai trò 
của giáo viên chủ nhiệm thì đây là vấn đề tương đối khó khăn trong công tác giáo 
dục, không khéo sẽ làm ảnh hưởng đến những học sinh khác. Để làm tốt công tác 
giáo dục học sinh cá biệt thì đòi hỏi người giáo viên không những giỏi về chuyên 
môn mà còn giỏi về công tác chủ nhiệm, giàu lòng nhân ái, vị tha, kiên trì, nhiệt 
tình, biết tôn trọng nhân cách học sinh, được các em tin yêu và cha mẹ học sinh tín 
nhiệm, có sức cảm hóa thuyết phục, có bản lĩnh để xử lý kịp thời các tình huống sư 
phạm đa dạng, đối xử công bằng trong nhận xét đánh giá đối với học sinh. Như 
vậy nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn 
đến việc học tập cũng như rèn luyện nhân cách của học sinh.
 Lâu nay các thầy cô giáo vẫn trăn trở rất nhiều về tình hình học sinh cá biệt 
ở các lớp ngày một tăng. Làm thế nào để giúp được học sinh trở nên ngoan ngoãn, 
có ý thức học tập. Qua quá trình giảng dạy, bằng vốn kinh nghiệm của mình tôi xin 
mạnh dạn đưa ra “Các biện pháp giúp giáo dục học sinh cá biệt”đạt hiệu quả. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 Với đề tài “Các biện pháp giúp giáo dục học sinh cá biệt”, tôi muốn đưa 
ra một số biện pháp giáo dục tích cực để giúp cho học sinh cá biệt từng bước thay 
đổi , nhận thức được sai lầm của mình và sẽ có thái độ học tập theo hướng tích 
cực. Giúp các em biết tôn trọng bản thân mình và xác định được sự quan trọng 
của việc học, định hướng đúng đắn cho tương lai lâu dài.
 Bên cạnh đó phần nào giúp cho các thầy cô quan tâm hơn về vai trò, trách 
nhiệm của mình đối với công tác giáo dục học sinh. Nghề dạy học là một nghề 
thiêng liêng cao cả, không phải ai cũng làm được. Giáo viên cần xác định được 
“tất cả vì đàn em thân yêu” để xây dựng nhà trường thật vững mạnh, nâng cao 
chất lượng giáo dục và góp phần xây dựng môi trường học tập “Trường học thân 
thiện, học sinh tích cực”. 2
 II. NỘI DUNG
 1. Thực trạng
 Trong suốt quá trình giảng dạy tôi nhận thấy rằng học sinh tôi giảng dạy 
chủ yếu là con em lao động, cha mẹ lo làm ăn, gia đình khó khăn nên ít có thời 
gian quan tâm đến việc học của con em mình. Do trường thuộc vùng nông thôn 
nên hầu hết phụ huynh có trình độ văn hoá thấp, mức hiểu biết rất hạn chế. Mọi 
vấn đề liên quan đến việc học tập của con em mình chỉ trông chờ và giao phó cho 
giáo viên chủ nhiệm. Chính vì vậy vai trò của người giáo viên quả thật rất vất vả.
 Những học sinh cá biệt, học yếu được chia thành các loại sau:
 - Học sinh cá biệt vì do học lực yếu. Do em bị mất kiến thức cơ bản ở lớp 
dưới.
 - Cá biệt - học yếu do các em được bố mẹ nuông chiều, ham chơi, lười học 
không học bài, đi chơi bạn xấu rủ rê.
 - Cá biệt - học yếu do hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải phụ giúp thêm cho 
gia đình.
 - Cá biệt - học yếu do do cha mẹ li hôn, ở với ông bà mà chán nản lười học 
rồi dần dần bỏ học, tính tình nhút nhát, rụt rè.
 Ở tất cả các loại học sinh cá biệt trên đều ảnh hưởng đến sự hình thành nhân 
cách và năng lực học tập của học sinh. Nếu chúng ta không kịp thời uốn nắn, giáo 
dục các em thì dễ dẫn đến các em vi phạm lỗi nhỏ đến những việc làm không có ý 
thức khác và sau này có nguy cơ không tốt cho xã hội vì rất có thể các em sẽ trở 
thành tội phạm. Từ việc nghiên cứu các dạng HS cá biệt, tôi tìm ra những biện 
pháp tối ưu để từng bước cảm hoá giáo dục các em. 
 2. Các biện pháp thực hiện
 Từ kết quả thực tế thu được từ các học sinh cá biệt học yếu , bản thân tôi 
cũng đã từng sử dụng các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng học sinh cá biệt 
như: nhắc nhở, cho học sinh viết tờ kiểm điểm, mời phụ huynh nhưng tôi thấy 
không đem lại hiệu quả, các biện pháp cứng rắn dường như phản tác dụng. Thay 3
vào đó nên tìm hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến cách hành xử chưa đúng để có biện 
pháp giáo dục học sinh cá biệt đạt hiệu quả.
 a. Biện pháp tâm lý- tình cảm
 Thân thiết với các em cá biệt quả là một vần đề khó khăn, nếu GVCN thiếu 
tế nhị một chút thì khó mà có thể gần gũi với các em được, chẳng hạn thường 
xuyên phê bình, dùng nhiều lới xúc phạm đến các em ... đều có thể làm tổn thương 
đến mối quan hệ này. Hơn nữa vì các em thường xuyên vi phạm nên các em càng 
lẩn tránh tiếp xúc với giáo viên nhất là giáo viên chủ nhiệm lớp.
 Để hiểu hơn về tính cách học sinh, GVCN cần tạo mối quan hệ gần gũi với 
các em. Chú ý khi giao tiếp với các em ta phải luôn cởi mở, chân tình, vui vẻ dễ 
cảm hóa được các em, khi có được mối quan hệ tốt các em sẽ thổ lộ những tâm tư 
tình cảm với GVCN mà không một chút ngần ngại. Những lời khuyên răn dạy bảo 
của chúng ta sẽ có tác dụng lớn đối với các em. 
 Ví dụ: Em Lê Thị Út Gái do trong giờ học em thường xuyên không thuộc bài 
cũ và điểm rất kém ở các bài kiểm tra, đôi khi hay khóc, tôi hỏi thì không chịu nói.
 Sau tiết học tôi gọi em lên văn phòng nói chuyện riêng,em nói do em học 
yếu nên mặc cảm. Tôi động viên em nên cố gắng hơn trong học tập, trong các giờ 
học tôi thường xuyên gọi em trả lời những câu hỏi đơn giản, sau mỗi câu trả lời 
đúng tôi đều tuyên dương em để em tự tin hơn. Về sau,em đã tích cực trong các tiết 
học, có tiến bộ nhiều hơn, học kì II vừa rồi em đạt học sinh trung bình và lên lớp 
hẳn. 
 Em Hiện lại là trường hợp khác, em lầm lì, không vâng lời thầy cô, dọa nạt 
các bạn trong lớp, đặc biệt trong tiết học em không thuộc bài nhiều lần. Sau tiết 5 
tôi gọi em ở lại, ban đầu tôi hỏi thăm cha, mẹ em còn đi làm không?, bệnh của cha 
em đã khỏi chưa?. Em cởi mở hơn tôi liền nhắc đến lỗi em vi phạm nhưng không 
hoàn toàn do em mà phần lớn do bạn bè lôi kéo. Tôi động viên em đừng vì hoàn 
cảnh mà làm hỏng tương lai, nên suy nghĩ cho cha, mẹ đang vất vả làm việc nuôi 
em ăn học, em cúi đầu và nói em sẽ cố gắng!. Những ngày sau đó tôi thường xuyên 
trao đổi, hỏi thăm, động viên trong học tập, em đã ngoan hơn trước rất nhiều.
 b. Kết hợp với phụ huynh học sinh 4
 Đối với đối tượng này GVCN cần nhiệt tình hơn, có thể đến thăm gia đình 
để tìm hiểu điều kiện sinh hoạt của gia đình và nắm được tình hình của các em ở 
nhà, thường những đối tượng này họ ngại nói những điều sai của con em họ vì thế 
GVCN tổng hợp những điểm tốt mà các em có được dù đó chỉ là một việc không 
đáng kể để khen ngợi các em, sau đó lồng một vài khuyết điểm của các em; tránh 
nêu hoàn toàn hoặc một loạt khuyết điểm thì phụ huynh sẽ có sự mặc cảm, hoặc 
nảy sinh sự tiêu cực, buông xuôi, ngại nói ra những điều mà ta cần tìm hiểu, trao 
đổi.
 Thường học sinh cá biệt thì lại có phụ huynh không quan tâm hoặc không 
dám đối diện với sự thật về những sai phạm của con mình...thường những phụ 
huynh này ít tham gia vào các cuộc họp chung kể cả những lúc có giấy mời riêng 
cùng không đến. Có thể trao đổi bằng phiếu liên lạc điện tử, thông qua tin nhắn 
điện thoại phụ huynh có thể biết được ngay tình hình con mình hay GVCN quy 
định mỗi em có một sổ liên lạc giữa phụ huynh HS và GVCN lớp. Để tránh trường 
hợp các em giả mạo việc nhận xét vào sổ, đầu năm GVCN nên yêu cầu phụ huynh 
ghi đầy đủ thông tin và ký tên vào sổ, nộp cho GVCN, hằng tuần có việc cần thiết 
liên hệ với phụ huynh, GVCN sẽ ghi vào sổ để các em đem về trình với phụ huynh 
vào ngày thứ bảy và nộp lại cho GVCN vào thứ hai. Cách làm này cũng có thể 
thường xuyên trao đổi với phụ huynh và kịp thời giáo dục, chấn chỉnh những sai 
phạm của các em.
 c. Biện pháp kết hợp giữa GVCN và GVBM 
 Nhiều em học sinh cá biệt thường có thái độ không tốt đối với các giáo viên 
bộ môn hay ngược lại, ví dụ: giáo viên bộ môn trách mắn học sinh, hay phê 
bình,đối xử thiếu công bằng .. Chính vì vậy GVBM cần kết hợp với GVCN trao 
đổi với nhau thường xuyên để nắm bắt thông tin, tìm hiểu hoàn cảnh của các em cá 
biệt từ đó có phương pháp giảng dạy phù hợp. 
 Ví dụ: Em Duy là HS hay mất trật tự trong giờ học, nói chuyện thiếu tôn 
trọng GV. Khi bị các giáo viên trách mắn em càng có thái độ ngoan cố, lì lợm hơn. 
Tôi đã trao đổi với các giáo viên về hoàn cảnh của em: cha mất sớm, mẹ có chồng 
khác, bà ngoại nuôi em ăn học, vất vả vì công việc, đời sống khó khăn, không có 5
thời giờ để quan tâm nhiều đến em nên em không biết cách ứng xử đúng, giáo viên 
nên nhẹ nhàng giải thích, uống nắng cho em hiểu. Hiểu được điều này, các giáo 
viên đã thông cảm, không còn trách mắn mà thay vào đó là giải thích, nhắc nhở em 
hiểu cư xử như vậy là không đúng,dần dần em đã cư xử đúng đắn hơn, không còn 
vô lễ với tôi hay với các bộ môn khác. 
 Em Khôi thường không thuộc bài hay ngủ trong lớp trong giờ học, gương 
mặt bơ phờ. Các giáo viên nghi ngờ nên đã báo với tôi tìm nguyên nhân, qua tìm 
hiểu phát hiện em này hay chơi chung với nhiều thành phần xấu, hút thuốc, uống 
rượu bia. Tôi đã thông báo đến gia đình để giáo dục em này và nhờ đó em không 
lúng sâu vào các tệ nạn xã hội khác. 
 Tuy đây chỉ là những ví dụ nhỏ nhưng đã cho thấy sự cần thiết của việc trao 
đổi, kết hợp giữa GVCN và GVBM trong việc giáo dục học sinh cá biệt.
 d. Biện pháp giáo dục bằng tập thể 
 Bạn bè cùng lớp là những người gần gũi với các em cá biệt nhiều nhất 
nhưng vì các em chưa ý thức được việc nào là cần thiết hơn, chính vì thế đa phần 
trong quan hệ với thầy cô giáo các em thường có biểu hiện bao che cho nhau, nhất 
là những khi đề cập tới các đối tượng học sinh cá biệt, mặc dù biết việc làm của 
bạn là sai, tuy vậy khi hỏi đến phần lớn các em đều trả lời một câu chung 
nhất(không biết) - đối với những em có quan hệ gần gũi với HS cá biệt, cũng có thể 
các em ngại không dám nói ra sự thật vì sợ sự đe doạ của các bạn... Nhưng phải 
nói rằng tất cả những suy nghĩ, những việc làm của các em cá biệt thì chính các em 
học sinh cùng lớp, cùng khối là biết rõ nhất.
 Về vấn đề này GVCN cần khéo léo trong cách điều tra, có thể là điều tra 
bằng cách giao nhiệm vụ theo dõi tìm hiểu cho ban cán sự lớp hoặc một đối tượng 
HS đáng tin cậy nhất nào đó và sẽ trao đổi với các em bằng cách bảo mật thông 
tin. Thường thì những em này sẽ cung cấp cho chúng ta nguồn tin chính xác nhất.
 Sau khi nắm được thông tin, phân tích tình hình, tôi hướng dẫn các em gần 
gũi và giúp đỡ bạn, nên tạo được quan hệ tốt và nhất là tạo cho những em cá biệt 
có niềm tin với mình. Phải nói rằng trong quan hệ bạn bè các em sẽ bộc lộ rõ cá 6
tính không e ngại. Tôi thường xuyên giữ mối quan hệ với các em này tìm hiểu 
những khó khăn khi phải thuyết phục HS cá biệt để tháo gở khó khăn cho các em, 
thường xuyên cung cấp biện pháp xử lý kịp thời những biến động của các đối 
tượng và động viên các em, tạo cho các em có niềm tin thuyết phục, giúp đỡ học 
sinh cá biệt tiến bộ.
 Từ việc theo dõi trên GVCN có biện pháp phát huy sở trường của từng em 
lấy đó làm đòn bẩy để tiến hành ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực khác nảy sinh 
ở các em.
 Ví dụ: Em Hào là học sinh thường xuyên nói chuyện riêng trong lớp, khi ban 
cán sự lớp nhắc nhở là em hăm doạ đánh bạn. Để vừa ngăn chặn được sự mất đoàn 
kết trong lớp đồng thời xây dựng nề nếp tiết học tốt tôi phân em làm lớp phó trật tự 
- giao nhiệm vụ theo dõi các bạn đồng thời trước lớp tôi quy định những em cán sự 
lớp phải luôn gương mẫu đi đầu trong mọi hoạt động, nếu vi phạm thì hình thức kỷ 
luật sẽ nặng hơn. Khi nhận chức danh lớp phó Hào rất thích, tuần đầu tiên Hào có 
tiến bộ nhưng vẫn còn một vài lần bị phê bình là nói chuyện riêng, cuối tuần nhận 
xét tình hình chung của lớp tôi cho các em phát biểu phê bình vai trò trách nhiệm 
của Hào. Sau đó tôi nhận xét chung."Tuy rằng trong tuần qua bạn Hào vẫn còn sai 
sót - có vi phạm kỷ luật, nhưng so với các tuần trước nề nếp của lớp ta tuần này 
tiến bộ hơn và bản thân Hào cũng có tiến bộ, vì sự tiến bộ của lớp ta có thể xí xoá 
cho bạn và cho bạn cơ hội để khẳng định vai trò của mình ở tuần học tiếp theo". 
Về sau Hào đã ý thức được trách nhiệm của mình và không còn vô kỷ luật như 
trước nữa. 
 Đối với những đối tượng thích gây rối tập thể, nghịch ngợm (lớp bị phê bình 
là niềm vui của các em)... Tôi dùng cách đẩy mạnh các hoạt động của lớp để các 
em thấy được những việc làm của mình không có tác dụng gì khi cả lớp đều có 
chung một sự quyết tâm nỗ lực vươn lên, làm cho các em bị tách ra khỏi tập thể, 
không thể gây rối tập thể được và vô hiệu hoá những hành động nghịch ngợm của 
các em. Không làm hại được tập thể lại bị tách ra khỏi tập thể, các em tự khắc thấy 
mình như bị hụt hẫng, xấu hỗ. Từ đó chính các em có mong muốn được sống 
chung trong một tập thể đoàn kết. Khi các đối tượng này thấy được những lỗi lầm 7
của mình, GVCN lớp cần động viên HS trong lớp gần gũi khích lệ để các em hoà 
nhập với tập thể.
 e. Kết hợp với các ban ngành, các bộ phận trong và ngoài nhà trường
 * Kết hợp với tổ chức Đội thiếu niên:
 Đây là tổ chức chuyên về mảng giáo dục hạnh kiểm HS. Tổ chức này có 
ban chỉ huy liên chi đội, có đội sao đỏ thường xuyên theo dõi các hoạt động của 
toàn trường và từng lớp học, có một tổng phụ trách Đội chuyên trách tổ chức các 
hoạt động Đội và kịp thời xử lý những vi phạm của HS, hơn thế nữa có phong trào 
thi đua làm đòn bẩy nên thường các biện pháp luôn đạt hiệu quả giáo dục cao.
 Một số GVCN lớp ngại trong việc khai báo những sai phạm của HS lớp 
mình vì sợ ảnh hưởng đến kết quả thi đua của lớp, nhưng với theo tôi nghĩ việc kết 
hợp với tổ chức Đội là một biện pháp giáo dục có hiệu quả rất cao trong công tác 
giáo dục hạnh kiểm HS.
 - Đối với đội cờ đỏ: GVCN nên yêu cầu các em ghi lại tên của tất cả những 
em vi phạm - có như vậy thì tôi mới kịp thời có được thông tin và xử lý dứt điểm 
những vi phạm đựơc.
 - Đối với các em ban chỉ huy liên chi đội - đội phát thanh măng non: GVCN 
thường xuyên cung cấp những cá nhân điển hình của lớp đưa vào các bản tin hằng 
ngày để tuyên dương khen ngợi, khích lệ tinh thần các em.
 - Với tổng phụ trách Đội: GVCN thường xuyên giữ mối quan hệ chặt chẽ. 
Kết hợp các biện pháp giáo dục theo kiểu vừa đấm vừa xoa: đối với những đối 
tượng học sinh cá biệt GVCN sử dụng biện pháp cứng rắn bên cạnh đó nhờ tổng 
phụ trách đội động viên, những em cần dùng biện pháp mềm mỏng thuyết phục 
GVCN nên nhờ TPTĐ có biện pháp cứng rắn hơn, cũng có lúc kết hợp cả hai cùng 
chung biện pháp, ở những lúc này thì cả hai kết hợp chặt chẽ hơn về khâu theo dõi 
và các luồng thông tin về đối tượng học sinh cá biệt.
 - Đề nghị TPT Đội tham mưu với chính quyền nhà trường và công an xã 
phối hợp tổ chức giáo dục các đối tượng học sinh cá biệt.
 * Đối với bộ phận chuyên môn: 8
 Nhà trường thành lập lớp phụ đạo cho HS yếu, GVCN có trách nhiệm vận 
động để các em tham gia học, thường xuyên theo dõi, động viên. Bộ phận chuyên 
môn theo dõi và có đề nghị xử lý những em không tham gia đầy đủ các buổi học 
cũng như vô kỷ luật trong khi tham gia học.
 III. KẾT LUẬN
 1. Kết quả đạt được
 Qua nhiều năm qua trong công tác giảng dạy tôi luôn vận dụng linh hoạt các 
biện pháp trên và cũng đã thu được kết quả rất khả quan :
 - Không có hiện tượng HS phải đưa ra hội đồng kỷ luật nhà trường.
 - Quan hệ thầy trò, bạn bè ngày càng được thắt chặt.
 - Uy tín nhà giáo được nâng cao, tạo được niềm tin trong phụ huynh học 
sinh.
 Trong năm học: 2020 - 2021 này, tôi đã thống kê lại kết quả năm qua của 
lớp tôi chủ nhiệm, lớp 7A3 có sỉ số: 38 em, để thấy sự tiến bộ của các em như sau:
 Hạnh kiểm Học lực
 Năm học 2019-2020
 Tốt Khá TB Yếu Giỏi YêúKhá TB Yếu
 HKI 20 15 3 2 11 15 10
 Cuối Năm 35 3 0 5 14 19
 Qua quá trình thực hiện tôi rút ra được một số kinh nghiệm khi muốn giáo 
dục tốt các đối tượng HS cá biệt cần phải:
 - Điều tra nguyên nhân của các hiện tượng cá biệt.
 - Nắm rõ tâm lý của từng đối tượng để đề ra biện pháp thích hợp.
 - Khi tiến hành các biện pháp giáo dục cần tránh việc nêu tất cả những 
khuyết điểm hay nông nóng muốn giải quyết được tất cả những sai phạm của các 
em cùng một lúc mà nên phân thời gian và chọn ra những sai phạm mang tính cấp 
bách hay cơ bản thì giải quyết trước.
 - Không yêu cầu quá cao, nên có sự thông cảm chia sẽ với các em.
 - Luôn tạo mối quan hệ gần gũi, cảm hoá các em.
 - GVCN cần biết kết hợp được nhiều tác nhân phối hợp giáo dục.
 2. Kết luận 9
 Tuy bên cạnh đó có một vài học sinh chưa thể ngoan ngay được nhưng tôi cố 
gắng tìm tòi qua các sách tâm lí để có thể giáo dục các em một cách tốt nhất. Việc 
giáo dục đạo đức học sinh là vô cùng khó khăn nên các thầy cô cần phải cố gắng, 
kiên trì và nhẫn nạy hơn nữa để có thể giúp các em có được tương lai sáng lạng, 
góp phần xây dựng đất hước giàu mạnh. Như lời Bác Hồ đã dạy “Tiên học lễ, hậu 
học văn”, là người giáo viên trước khi truyền đạt kiến thức cho học sinh nên giáo 
dục các em trở thành con người có đạo đức. 
 Trên đây là một số kinh nghiệm trong qua trình dạy học tôi đã đúc kết được 
nếu có sai sót mong các đồng nghiệp đóng góp ý kiến.
 3. Kiến nghị
 Để việc giáo dục học sinh cá biệt được tốt hơn tôi có một số kiến nghị như 
sau:
 - Các cấp chính quyền địa phương có các biện pháp hỗ trợ cho nhà trường 
trong việc giáo dục học sinh cá biệt.
 - Nhà trường thường xuyên liên hệ với gia đình để có biện pháp giáo dục kịp 
thời khi các em có những biểu hiện chưa ngoan.
 - Tăng cường tiết ngoại khóa về giáo dục đạo đức học sinh. 
 - Tổng phụ trách đội, Ban giám hiệu, phụ huynh kết hợp với giáo viên chủ 
nhiệm để cùng giáo dục các em.
 P.T.Tây, ngày 05 tháng 05 năm 2021
 XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT NGƯỜI VIẾT
 DUYỆT SÁNG KIẾN, GIẢI PHÁP 
 TRƯỜNG
 ĐẶNG ANH CHI 10
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT 
DUYỆT SÁNG KIẾN, GIẢI PHÁP DUYỆT SÁNG KIẾN, GIẢI PHÁP 
PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO THỊ XÃ

Tài liệu đính kèm:

  • doccac_bien_phap_giup_giao_duc_hoc_sinh_ca_biet.doc