Đề cương ôn tập Ngữ văn Lớp 9 - Năm học 2019-2020

doc 15 trang Người đăng Hàn Na Ngày đăng 05/12/2025 Lượt xem 14Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập Ngữ văn Lớp 9 - Năm học 2019-2020", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 ĐỀ CƯƠNG ÔN TÂP NGỮ VĂN 9
 Năm học: 2019-2020
A. Phần đọc – hiểu:
I. Lí thuyết:
1. Nhận biết các phương thức biểu đạt trong văn bản
Các 
phương 
 Tự sự Biểu cảm Thuyết minh Nghị luận
thức biểu 
đạt
 Là thuật lại, kể lại Là khả năng con Là dùng ngôn ngữ Là bàn về một vấn 
 diễn biến của một người bộc lộ tình nhằm cung cấp, đề nào đó nhằm 
 Khái sự việc nào đó hoặc cảm những rung giới thiệu giảng thuyết phục người 
 niệm khắc họa tính cách động trong tâm giải những tri thức đọc, người nghe.
 nhân vật. hồn với người về một sự vật, 
 khác. hiện tượng nào đó.
 Kể lại một câu Sử dụng các từ Tính chuẩn xác, Các yếu tố: Luận 
 chuyện có cốt ngữ nhằm để khoa học, hấp dẫn đề.
 truyện, đối tượng kể diễn tả cảm xúc . Luận điểm Luận cứ 
Đặc điểm
 có tình tiết (sự kiện) đối với người Được trình bày (lí lẽ, dẫn chứng)
 thúc đẩy câu hoặc đối với sự theo hình thức kết Lập luận.
 chuyện. vật, hiện tượng. cấu nhất định
 - Có cốt truyện, có Có các câu văn, Có những câu văn Có vấn đề bàn luận, 
 nhân vật, có diễn thơ bộc lộ cảm chỉ ra đặc điểm có quan điểm của 
 biến sự việc. xúc, thái độ của riêng, nổi bật của người viết.
Dấu hiệu
 - Dùng trong truyện, người viết. đối tượng nhằm Thao tác: Chứng 
 tiểu thuyết, văn xuôi cung cấp tri thức. minh, giải thích, 
 có khi thơ bình luận, phân tích.
* Ví dụ đoạn văn sử dụng các phương thức biểu đạt: 
- Tự sự: “Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi bắt tôm, bắt 
tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ, lại 
sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ cả tôm lẫn tép. Còn Cám quen được 
nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều chẳng bắt được gì.” (Tấm Cám)
- Biểu cảm:
 Ta làm con chim hót
 Ta làm một cành hoa
 Ta nhập vào hòa ca 
 Một nốt trầm xa xuyến (Mùa xuân nho nhỏ- Thanh Hải)
- Thuyết minh: “Theo các nhà khoa học, bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá trình 
sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến hiện 
tượng xói mòn ở các vùng đồi núi. Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn 
nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa. Sự tắc nghẽn của hệ thống 
cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết 
các sinh vật khi chúng nuốt phải ”
- Nghị luận: “Muốn xây dựng một đất nước giàu mạnh thì phải có nhiều người tài giỏi. 
Muốn có nhiều người tài giỏi thì học sinh phải ra sức học tập văn hóa và rèn luyện thân thể, 
 1 bởi vì chỉ có học tập và rèn luyện thì các em mới có thể trở thành những người tài giỏi trong 
tương lai”. (Tài liệu hướng dẫn đội viên)
2. Tiếng Việt:
a. Các phương châm hội thoại: Có 5 phương châm hội thoại đã học:
 - Phương châm về lượng: Khi giao tiếp, cần nói cho có nội dung; nội dung của lời nói phải 
đáp ứng đúng yêu cầu của cuộc giao tiếp, không thiếu, không thừa.
 - Phương châm về chất: Khi giao tiếp, đừng nói những điều mà mình không tin là đúng 
hay không có bằng chứng xác thực.
 - Phương châm quan hệ: Khi giao tiếp, cần nói đúng vào đề tài giao tiếp, tránh nói lạc đề.
 - Phương cliâm cách thức: Khi giao tiếp, cần chú ý nói mạch lạc, ngắn gọn, tránh cách nói 
mơ hồ.
 - Phương châm lịch sự: Khi giao tiếp cần tế nhị và thể hiện sự tôn trọng người khác.
b. Xưng hô trong hội thoại:
 Trong tiếng Việt, xưng hô thường tuân theo phương châm “xưng khiêm, hô tôn”: nghĩa là 
khi xưng hô, người nói tự xưng mình một cách khiêm nhường và gọi người đối diện một 
cách tôn kính.
c. Thuật ngữ: là những từ ngữ biểu thị khái niệm khoa học, công nghệ, thường được dùng 
trong các văn bản khoa học, công nghệ.
d. Trau dồi vốn từ: Muốn sử dụng tốt tiếng Việt, trước hết cần trau dồi vốn từ:
 - Rèn luyện để nắm được đầy đủ và chính xác nghĩa của từ và cách dùng từ là việc rất quan 
trọng để trau dồi vốn từ. 
 - Rèn luyện để biết thêm những từ chưa biết, làm tăng vốn từ là việc thường xuyên phải làm 
để trau dồi vốn từ. 
e. Sự biến đổi và phát triển nghĩa của từ ngữ:
 Nghĩa của từ không phải bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian. Có những nghĩa cũ mất 
đi và nghĩa mới được hình thành. 
 - Có 2 phương thức phát triển nghĩa của từ trên cơ sở nghĩa gốc: 
 + Phương thức ẩn dụ: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng/ Thấy một mặt trời trong lăng 
rất đỏ”.
 + Phương thức hoán dụ: “Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau”.
- Phát triển số lượng từ ngữ:
 + Tạo từ ngữ mới:
 + Mượn từ ngữ của tiếng nước ngoài:
g. Khởi ngữ: Khởi ngữ là thành phần câu đứng trước chủ ngữ để nêu lên đề tài được nói 
đến trong câu. 
h. Các thành phần biệt lập.
- Thành phần biệt lập tình thái: Được dùng để thể hiện thái độ của người nói đối với sự việc 
được nói đến trong câu.
- Thành phần biệt lập cảm thán: Dùng để bộc lộ hiện tượng tâm lí của người nói 
- Thành phần biệt lập gọi đáp: Dùng để tạo lập hoặc duy trì cuộc hội thoại.
- Thành phần biệt lập phụ chú: Thường dùng trong những trường hợp:
i. Liên kết câu và liên kết đoạn văn
Các đoạn văn trong một văn bản cũng như các câu trong một đoạn văn phải liên kết chặt chẽ 
với nhau về nội dung và hình thức.
 - Về nội dung: Các đoạn văn phải phục vụ chủ đề chung của văn bản, các câu phải phục vụ 
chủ đề của đoạn văn (liên kết chủ đề). Các đoạn văn và các câu phải sắp xếp theo một trình 
 2 tự hợp lí (liên kết lôgic)
 - Về hình thức: các câu và các đoạn văn có thể được liên kết với nhau bằng một sồ biện 
pháp chính như sau: Phép lặp; Phép đồng nghĩa, trái nghĩa và liên tưởng; Phép thế; Phép nối
k. Nghĩa tường minh và hàm ý
 + Nghĩa tường minh là phần thông báo được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu.
 + Hàm ý : Là phần thông báo tuy không được diễn đạt trực tiếp bằng những từ ngữ trong 
câu, nhưng có thể suy ra từ những từ ngữ ấy.
l. So sánh: so sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương 
đồng.
m. Nhân hóa: Là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật bằng những từ vốn dùng để gọi hoặc tả 
người nhằm làm cho đồ vật, cây cối trở nên gần gũi với con người, biểu thị được suy nghĩ 
của con người.
n. Ẩn dụ: Ẩn dụ là phương thức biểu đạt gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện 
tượng khác có nét tương đồng với nó.
o. Hoán dụ: Là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên sự vật, 
hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi.
p. Nói quá: Là biện pháp tu từ phóng đại quy mô, mức độ, tính chất của sự vật, hiện tượng.
q. Nói giảm nói tránh: Là biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển.
h. Điệp ngữ: Là biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ.
k. Chơi chữ: Là biện pháp tu từ sử dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ.
II. Bài tập thực hành
Câu 1: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
 Bác sống như trời đất của ta
 Yêu từng ngọn cỏ, mỗi cành hoa
 Tự do cho mỗi đời nô lệ
 Sữa để em thơ, lụa tặng già
 ( Bác ơi, Tố Hữu)
 a. Xác định thể thơ, phương thức biểu đạt chính cho đoạn thơ.
 b. Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên và phân tích tác dụng của biện 
pháp tu từ đó?
 c. Cho biết nội dung chính của đoạn thơ trên.
 d. Em hiểu ý tác giả biểu đạt trong câu thơ: “Bác sống như trời đất của ta” là gì?
Câu 2: §äc ®o¹n th¬ sau vµ thùc hiÖn c¸c yªu cÇu ë d­íi:
 .... “Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu 
 Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy 
 Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy 
 Bầy chim non bơi lội trên sông 
 Tôi giơ tay ôm nước vào lòng 
 Sông mở nước ôm tôi vào dạ ...” 
 (“Nhớ con sông quê hương” Tế Hanh)
 a. Xác định thể thơ, phương thức biểu đạt chính cho đoạn thơ.
 b. Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên và phân tích tác dụng của biện 
pháp tu từ đó?
 c. Nêu nội dung chính của đoạn trích.
Câu 3: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
 ĐÔI TAI CỦA TÂM HỒN
 3 Một cô bé vừa gầy vừa thấp bị thầy giáo loại khỏi dàn đồng ca. Cũng chỉ tại cô bé ấy lúc nào cũng 
chỉ mặc mỗi bộ quần áo vừa bẩn, vừa cũ lại vừa rộng nữa. Cô bé buồn tủi ngồi khóc một mình trong 
công viên. Cô bé nghĩ: Tại sao mình lại không được hát? Chẳng lẽ mình hát tồi đến thế sao? Cô bé 
nghĩ mãi rồi cô cất giọng hát khe khẽ. Cô bé cứ hát hết bài này đến bài khác cho đến khi mệt lả mới 
thôi.
 - Cháu hát hay quá, một giọng nói vang lên: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ, cháu đã cho ta cả một 
buổi chiều thật vui vẻ”. Cô bé ngẩn người. Người vừa khen cô bé là một ông cụ tóc bạc trắng. Ông 
cụ nói xong liền chậm rãi bước đi.
 Hôm sau, khi cô bé tới công viên đã thấy ông già ngồi ở chiếc ghế đá hôm trước. Khuôn mặt hiền 
từ mỉm cười chào cô bé. Cô lại hát, cụ già vẫn chăm chú lắng nghe. Ông vỗ tay lớn: “Cảm ơn cháu, 
cháu gái bé nhỏ của ta, cháu hát hay quá!” Nói xong cụ già lại một mình chậm rãi bước đi. Như vậy, 
nhiều năm trôi qua, cô bé giờ đây đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng. Cô gái vẫn không quên cụ già 
ngồi tựa lưng vào thành ghế đá trong công viên nghe cô hát. Một buổi chiều mùa đông, cô đến công 
viên tìm cụ nhưng ở đó chỉ còn lại chiếc ghế đá trống không. Cô hỏi mọi người trong công viên về 
ông cụ:
 - Ông cụ bị điếc ấy ư? Ông ấy đã qua đời rồi, một người trong công viên nói với cô.
 Cô gái sững người, bật khóc. Hóa ra, bao nhiêu năm nay, tiếng hát của cô luôn được khích lệ bởi 
một đôi tai đặc biệt: đôi tai của tâm hồn.
Câu hỏi:
 a. Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?
 b. Truyện được kể theo ngôi thứ mấy?
 c. Tình huống bất ngờ trong câu chuyện là sự việc nào?
 d. Ý nghĩa mà câu chuyện gửi tới chúng ta là gì?
 e. Trình bày ngắn gọn một bài học kinh nghiệm về cuộc sống được rút ra từ đoạn văn 
trên.
Câu 4: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
 Thời gian là vàng
 Ngạn ngữ có câu: “Thời gian là vàng”. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian thì không 
mua được. Thế mới biết vàng có giá trị mà thời gian thì vô giá.
 Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời 
chữa chạy thì sống, để chậm thì chết.
 Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, biết nắm thời cơ, 
đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất cơ hội là thất bại.
 Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hóa đúng lúc là lãi, không đúng lúc là lỗ.
 Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, 
bữa cái, thiếu kiên trì thì học mấy cũng không giỏi được.
 Thế mới biết, tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và xã hội. Bỏ phí 
thời gian thì có hại và về sau có hối cũng không kịp.
﴿Theo Phương Liên﴾ 
Câu hỏi:
 a. Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?
 b. Văn bản nghị luận về vấn đề gì? Chỉ ra luận điểm chính của nó?
 c. Phép lập luận chủ yếu trong văn bản này là gì? Cách lập luận trong bài có sức thuyết phục 
như thế nào?
 d. Chỉ ra lời dẫn trực tiếp có sử dụng trong văn bản?
 e. Từ ngữ liệu đoạn trích trên, em rút ra được bài học gì cho cuộc sống của bản thân.
Câu 5: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
 4 “Có lẽ chỉ những giấc mơ trở về tuổi thơ mới đem lại cho tôi những cảm giác ấm áp, bình yên đến 
thế Trong mơ Tôi thấy một tôi rơm rớm nước mắt trong buổi chia tay. 
 Xung quanh, bạn bè tôi đều tâm trạng cả. Đứa khóc thút thít, đứa cười đỏ hoe mắt, đứa bịn rịn lặng 
thinh... Tất cả nắm tay tôi thật chặt, ôm tôi thật lâu...Giấc mơ tuổi học trò du dương như một bản 
nhạc Ballad - bản nhạc nhẹ nhàng mà da diết khôn nguôi. Bản nhạc đó mỗi lần kết thúc lại dấy lên 
trong tôi những bâng khuâng, tiếc nuối. Nhưng, tôi vẫn thích nghe, thích cảm nhận niềm hạnh phúc 
hân hoan khi được trở về những năm tháng tuổi thơ, bên mái trường, bên thầy cô, bên bạn bè và 
những gì thân thương nhất. Dù biết rằng đó chỉ là một giấc mơ...”
 (“Có những giấc mơ về lại tuổi học trò” - Đăng Tâm)
Câu hỏi:
 a. Cho biết các phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên.
 b. Tìm và chỉ ra các phép liên kết câu được dùng trong đoạn văn. 
 c. Câu văn “Xung quanh, bạn bè tôi đều tâm trạng cả ” mang hàm ý gì ? Tác dụng ?
 d. Hãy tìm và phân tích tác dụng nghệ thuật của các biện pháp tu từ được Đăng Tâm sử 
dụng trong đoạn văn. 
B. TẠO LẬP VĂN BẢN:
 I. Nghị luận xã hội:
 1. Lý thuyết:
 - Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là quá trình kết hợp những thao tác lập luận để làm rõ 
những vấn đề tư tưởng đạo lí trong cuộc sống. 
 - Nghị luận về một hiện tượng đời sống là kiểu bài lấy một hiện tượng xảy ra trong đời 
sống để bàn bạc. Từ hiện tượng này, người nghị luận phải phân tích để tìm ra ý nghĩa xã hội 
về tư tưởng, đạo đức mà bàn bạc, đánh giá. 
 - Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chữ viết hoa lùi đầu dòng, kết 
thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn 
thường có nhiều câu tạo thành.
 - Cách trình bày đoạn văn:
 Viết theo lối diễn dịch 
 Diễn dịch tức là luận điểm, câu chủ đề sẽ được đặt ở đầu đoạn văn. Nó giống như mở bài 
trong một bài văn vậy, tức là giới thiệu, nêu khái quát vấn đề sẽ được trình bày trong đoạn. 
Những câu còn lại của đoạn văn sẽ có nhiệm vụ giải thích, chứng minh, trình bày để làm rõ 
nội dung của của luận điểm ấy.
 Viết theo lối quy nạp
 Cách viết này trái ngược hoàn toàn với diễn dịch, câu chủ đề sẽ được đặt ở cuối đoạn văn. 
Nó giống như kết bài, tức là tóm gọn lại vấn đề, cho biết nội dung chính vừa trình bày là gì. 
Những câu còn lại cũng có nhiệm vụ làm sáng rõ luận điểm của đoạn.
 Viết theo lối song hành 
 Tất cả các câu trong đoạn đều có vai trò và nội dung ngang nhau. Không có luận điểm đầu 
đoạn. cũng không có câu chủ đề cuối đoạn, các câu văn đều viết về một vấn đề chung và 
không câu nào quan trọng hơn câu nào cả.
 Viết theo lối tổng – phân – hợp 
 Chỉ nghe tên cũng đã có thể hình dung ra cách viết này. Tổng tức là tổng quát, nêu khái 
quát vấn đề ở ngay đầu đoạn văn. Phân tức là phân tích, những câu trong đoạn sẽ làm nhiệm 
vụ triển khai luận điểm, chứng minh vấn đề. Hợp tức là tổng hợp, sau khi đã trình bày hết 
nội dung của đoạn, phải tóm gọn lại vấn đề bằng một câu chốt ở cuối đoạn. Với lối viết này, 
 5 đoạn văn cũng giống như một bài văn thu nhỏ, có mở bài, thân bài, kết bài đầy đủ. Đây là lối 
viết khó nhưng rất chặt chẽ và có hiệu quả cao.
 - Cấu trúc đoạn văn:
 Mở đoạn: câu mở đoạn phải có cái nhìn tổng quát, khái quát được nội dung mà đề thi 
yêu cầu. Phải hiểu được đề thi bàn về vấn đề gì? Câu mở đoạn có thể dùng 1-2 câu.
 Thân đoạn:
 + Giải thích các cụm từ khóa, giải thích cả câu (cần ngắn gọn, đơn giản).
 + Đặt ra các câu hỏi vì sao, tại sao. Sau đó bình luận, chứng minh từng ý lớn, ý nhỏ, 
sắp xếp luận cứ một cách rõ ràng. Đưa ra dẫn chứng phù hợp, ngắn gọn, chính xác (tuyệt đối 
không kể chuyện rông dài, tán gẫu, sáo rỗng)
 + Đưa ra phản đề – mở rộng vấn đề – đồng tình, không đồng tình.
 + Rút ra bài học nhận thức và hành động.
 Kết đoạn:
 Khái quát hoặc mở rộng vấn đề, có thể kết lại bằng một danh ngôn hay câu nói nổi tiếng.
LƯU Ý: Đoạn văn là không được xuống dòng, không được viết như một bài văn thu nhỏ.
 2. Bài tập: Triển khai từng luận điểm sau thành đoạn văn khoảng 200 từ
a. Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua 
được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá.
b. Phải chăng chỉ có những điều ngọt ngào mới làm nên yêu thương?
c. Suy nghĩ về lòng biết ơn thầy cô.
d. Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều 
thứ quý giá nữa.
đ. Tự học của học sinh hiện nay.
e. Nghiện game – căn bệnh gây hại khôn lường cho giới trẻ.
f. Xả rác bừa bãi – Một vấn đề đáng lo ngại.
II. NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
1. Yêu cầu
 a. Thơ
 - Học thuộc các bài thơ đã học.
 - Nắm được tác giả, tác phầm, hoàn cảnh sáng tác,.. của mỗi bài thơ.
 - Nắm được nội dung của cả bài thơ, các ý lớn trong bài.
 - Nắm được những nét đặc sắc nghệ thuật của mỗi bài: kết cấu, thể thơ, ngôn ngữ, giọng 
điệu, vần, nhịp thơ,..
 b. Truyện
 - Nắm được tác giả, tác phầm, hoàn cảnh sáng tác,.. của mỗi truyện đã học.
 - Nắm được nội dung, nhân vật, cốt truyện, diễn biến sự việc, ngôi kể, tình huống, ngôn 
ngữ, đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm nhân vật,.. trong mỗi truyện đã học.
2. Dàn ý 
 a. Dàn ý chung cho dạng đề nghị luận về bài thơ, đoạn thơ
 * Mở bài:
- Giới thiệu ngắn gọn tác giả và bài thơ, đoạn thơ cần phân tích (chép nguyên văn đoạn thơ 
trong đề bài, nếu là đoạn thơ dài thì chỉ cần chép hai câu đầu, chấm chấm, rồi chép câu cuối).
- Giới thiệu ý kiến bàn về bài thơ (nếu đề bài yêu cầu nghị luận về ý kiến) hoặc giới thiệu 
vấn đề nghị luận.
- Nếu là dạng đề so sánh hai bài thơ, hai đoạn thơ thì mở bài phải giới thiệu cả hai tác giả
và hai bài thơ.
 6 * Thân bài:
- Khái quát về phong cách tác giả, hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính, của bài thơ
- Nêu vị trí đoạn thơ, thể thơ, chú ý âm điệu, giọng điệu,..
- Phân tích cụ thể:
+ Có thể phân tích ngang: phân tích từng khổ, từng dòng, từng cặp câu,..
+ Có thể phân tích dọc bài thơ: Phân tích theo hình tượng, theo nội dung xuyên suốt bài thơ. 
Đưa các nội dung chính của bài thơ, đoạn thơ thành các luận điểm lớn, nếu đề yêu cầu cảm 
nhận đoạn thơ, câu thơ, thì các em chia nhỏ các nội dung có trong đoạn, trong câu, biến 
chúng thành các luận điểm lớn để đi sâu cảm nhận.
+ Chú ý những hình ảnh biểu tượng, những lối nói ví von so sánh, những biện pháp nghệ 
thuật tiêu biểu. Khi phân tích thì thao tác giảng giải, cắt nghĩa là quan trọng nhất, nhằm 
giúp cho người đọc hiểu được ý nghĩa của các hình ảnh biểu tượng, ý nghĩa của từ ngữ, 
câu thơ, đoạn thơ.
* Kết bài: khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ.
b. Dàn ý chung cho dạng đề nghị luận về tác phẩm truyện, đoạn trích
* Mở bài: Giới thiệu tác phẩm (tuỳ theo yêu cầu cụ thể của đề bài) và nêu ý kiến đánh giá sơ 
bộ của mình.
* Thân bài: Nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, có phân tích, 
chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu và xác thực. (Trong quá trình triển khai các luận 
điểm, luận cứ, cần thể hiện sự cảm thụ và ý kiến riêng của người viết về tác phẩm. Giữa các 
phần, các đoạn của bài văn cần có sự liên kết hợp lí tự nhiên.)
* Kết bài: Nêu nhận định, đánh giá chung của mình về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích).
3. Một số đề luyện tập
ĐỀ 1: Hình tượng người chiến sĩ lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm 
Tiến Duật.
a. Mở bài: Giới thiệu về tác giả Phạm Tiến Duật, tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không 
kính gắn với cuộc kháng chiến chống Mỹ gian khổ ác liệt.
b. Thân bài: Phân tích bài thơ
* Hình ảnh những chiếc xe không kính
- Hình ảnh những chiếc xe không kính được tác giả miêu tả trần trụi, chân thực bị máy bay 
Mĩ bắn phá, kính xe vỡ hết.
- Phản ánh mức độ khốc liệt của chiếc tranh.
* Hình ảnh người lính lái xe
- Tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan tích cực, coi thường hiểm nguy
- Tâm hồn sôi nổi của tuổi trẻ, của tình đồng chí, đồng đội sâu sắc
- Ý chí chiến đấu vì miền Nam, thống nhất đất nước
c. Kết bài
- Khái quát giá trị của bài thơ: là tác phẩm đậm chất trữ tình cách mạng. Nhà thơ đã khắc hoạ 
hình ảnh các chiến sĩ lái xe Trường Sơn bằng tình cảm mến yêu và cảm phục chân thành.
- Vẻ đẹp của người lính lái xe chính là phẩm chất cao đẹp của thế hệ trẻ trong kháng chiến 
chống Mỹ. Liên hệ 
ĐỀ 2: Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn kết trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu:
 Đêm nay rừng hoang sương muối
 Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
 Đầu súng trăng treo.
 7 a. Mở bài: Giới thiệu tác giả Chính Hữu, tác phẩm Đồng chí, vị trí đoạn trích trong tác 
phẩm, vấn đề nghị luận. 
b. Thân bài:
 Ba câu cuối cùng kết thúc bài thơ là một hình ảnh thật đẹp:
 Đêm nay rừng hoang sương muối
 Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
 Đầu súng trăng treo.
 - Đó là tình đồng chí sát cánh bên nhau trong chiến đấu. Họ đã bên nhau giữa cái giá rét của 
núi đêm khuya, giữa cái căng thẳng của những giây phút "chờ giặc tới". Tình đồng chí đã 
sưởi ấm lòng họ, giúp họ vượt lên tất cả...
 - Câu thơ cuối thật đặc sắc: "Đầu súng trăng treo" là một hình ảnh thật mà bản thân Chính 
Hữu đã nhận ra trong những đêm phục kích giữa rừng khuya nhưng nó còn là một hình ảnh 
thơ độc đáo, có sức gợi nhiều liên tưởng phong phú sâu xa.
 + "Súng" biểu tượng cho chiến tranh, cho hiện thực khốc liệt. "Trăng" biểu tượng cho vẻ 
đẹp yên bình, mơ mộng và lãng mạn.
 + Hai hình ảnh "súng" và "trăng" kết hợp tạo biểu tượng đẹp về cuộc đời người lính: thực 
tại mà mơ mộng. Hình ảnh ấy mang được cả đặc điểm của thơ ca kháng chiến - một nền thơ 
giàu chất hiện thực và giàu cảm hứng lãng mạn.
 + Vì vậy, câu thơ này đã được Chính Hữu lấy làm nhan đề cho cả một tập thơ - tập "Đầu 
súng trăng treo".
 => Đoạn kết bài thơ là một bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính.
c. Kết bài
- Tóm tắt các ý đã phân tích. Liên hệ bản thân.
ĐỀ 3: Những đặc sắc trong bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương.
a. Mở bài
- Giới thiệu về tác giả Viễn Phương và bài Viếng lăng Bác
- Bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động của nhà thơ khi vào lăng viếng Bác.
b. Thân bài
* Cảm xúc khi đứng trước lăng (Khổ thơ 1)
- Tình cảm chân thành giản dị, chân thành của người con miền Nam ra viếng Bác 
- Hình ảnh hàng tre là hình ảnh ẩn dụ đa nghĩa
* Sự thương nhớ của tác giả khi hòa cùng dòng người vào lăng viếng Bác
- Hình ảnh thực và ẩn dụ song đôi: mặt trời thiên nhiên rực rỡ và hình ảnh mặt trời trong 
lăng
- Hình ảnh ẩn dụ thể hiện sự kết tinh đẹp đẽ “kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”
- Niềm biết ơn thành kính dần chuyển sang sự xúc động nghẹn ngào khi tác giả nhìn thấy 
Bác
- Nhà thơ xúc động, đau xót trước sự ra đi mãi mãi của Người
* Cảm xúc khi rời lăng của nhà thơ
- Cuộc chia lia lưu luyến bịn rịn, thấm đẫm nước mắt của tác giả
- Hình ảnh cây tre kết thúc bài thơ như một cách kết thúc khéo léo, hình ảnh cây tre trung 
hiếu được nhân hóa mang phẩm chất trung hiếu như con người
c. Kết bài
Khái quát giá trị bài thơ: là bài thơ đẹp, gây xúc động trong lòng người đọc. Thể hiện qua 
giọng điệu trang trọng và tha thiết, hình ảnh ẩn dụ, gợi cảm..
 8 ĐỀ 4: Cảm nhận của em về đoạn trích truyện Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng.
a. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đánh giá sơ bộ vài nét về nội dung và nghệ thuật.
b. Thân bài
* Nhan đề:
- Nó là mơ ước của bé Thu và nó cũng tượng trưng cho tình cảm cha con sâu nặng của ông 
Sáu với cô bé Thu từ lúc ông còn sống cho đến cả lúc hy sinh.
- Là kỷ vật cuối cùng mà ông Sáu để lại cho con, đồng thời cũng khắc sâu nỗi đau đớn mà 
chiến tranh đã để lại trong mỗi gia đình, sự mất mát, đau thương, chia cắt.
* Nhân vật bé Thu:
- Trước lúc nhận cha:
+ Từ chối tất cả mọi tình cảm sự chăm sóc mà ông Sáu dành cho cô bé (nêu dẫn chứng). 
+ Thể hiện những nét tính cách đặc sắc của bé Thu, hồn nhiên, bướng bỉnh, cá tính và yêu 
thương cha vô cùng sâu nặng, thắm thiết.
- Khi nhận cha:
- Ôm hôn cha thắm thiết, tiếng gọi ba như xé cả không gian xé cả lòng người
- Mong muốn ông Sáu ở nhà không đi 
* Nhân vật ông Sáu:
- Khi trở về thăm nhà:
+ Vô cùng đau khổ khi con gái không nhận cha (nêu dẫn chứng).
+ Lỡ tay trách phạt con, hối hận kéo dài mãi.
+ Hứa mua chiếc lược tặng con.
- Khi ở chiến trường:
+ Luôn nhớ con, hối hận, buồn bã vì một lần đánh con.
+ Dồn hết tâm sức vào làm chiếc lược ngà, đã làm cho ông Sáu nguôi ngoai nỗi hối hận day 
dứt. + Ngày hy sinh ông vẫn chỉ tiếc nuối là chưa kịp trao tận tay chiếc lược ngà cho con gái.
=> Tình yêu thương con vô bờ bến đồng thời phản ánh một cách vô cùng sâu sắc những nỗi 
đau, những bi kịch mà chiến tranh để lại trong cuộc đời người lính.
c. Kết bài: Nêu cảm nghĩ.
ĐỀ 5: Cảm nhận của em về truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân.
a. Mở bài: Giới thiệu về tg Kim Lân, tác phẩm Làng, nhân vật ông Hai và tình yêu của ông 
đối với làng quê, đất nước, lòng căm thù giặc. 
b. Thân bài
* Tình yêu làng của nhân vật ông Hai
- Niềm tự hào, sự kiêu hãnh về làng của mình: Dù đã rời làng nhưng ông luôn nghĩ về làng 
của mình, lo lắng và lúc nào cũng nhớ đến làng. 
- Tâm trạng khi nghe tin làng Chợ Dầu đi theo giặc
 + Quá đột ngột khiến ông sững sờ..
 + Tin dữ ấy đã xâm chiếm hết tâm trí ông, nó trờ thành nỗi ám ảnh, day dứt, đau đớn, tủi 
hổ, xót xa thường trực trong tâm hồn ông 
 + Bị đẩy vào tình thế bế tắc, tuyệt vọng khi mụ chủ nhà muốn đuổi gia đình ông đi.. 
- Tâm trạng ông Hai sau khi nghe tin làng được cải chính
+ Thay đổi hoàn toàn: vô cùng sung sướng, mặt tươi vui, rạng rỡ...
+ Mua quà cho con, chạy đi khoe khắp xóm, khoe cả cái nhà mình bị Tây đốt.
+ Lại kể chuyện làng của mình.
=> Tình cảm chất phát, thật thà, yêu ghét rõ ràng..
* Tình yêu nước mạnh mẽ trong nhân vật ông Hai
 9 - Tình yêu làng là cơ sở cho tình yêu nước: Mâu thuẫn, xung đột nội tâm ở ông giữa tình yêu 
làng và yêu nước và sự lựa chọn dứt khoát.
- Tình yêu nước, yêu cách mạng đã rộng lớn hơn, bao trùm lên tình cảm với làng quê Tình 
cảm của người nông dân thời kì đầu kháng chiến chống Pháp.
c. Kết bài
- Khái quát về giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm
- Liên hệ tới lòng yêu làng quê, yêu đất nước hôm nay
C. MỘT SỐ ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10
ĐỀ 1
 * Đề thi Văn vào lớp 10 năm 2019 Bạc Liêu
 Thời gian làm bài là 120 phút. 
I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (7,0 điểm)
Đọc ngữ liệu và trả lời các câu hỏi:
 ĐIỀU GÌ LÀ QUAN TRỌNG?
 Chuyện xảy ra tại một trường trung học.
 Thầy giáo giơ cao một tờ giấy trắng, trên đó có một vệt đen dài và đặt câu hỏi với học 
sinh:
 - Các em có thấy gì không?
 Cả phòng vang lên câu trả lời:
 - Đó là một vệt đen. 
 Thầy giáo nhận xét:
 - Các em trả lời không sai. Nhưng không ai nhận ra đây là một tờ giấy trắng ư?
 Và thấy kết luận:
 - Có người thường chủ tâm đến những lỗi lầm nhỏ nhất của người khác mà quên đi 
những phẩm chất tốt đẹp của họ. Khi phải đánh giá về một sự việc hay một con người, thầy 
mong các em đừng chú trọng vào vệt đen mà hãy nhìn ra tờ giấy trăng với nhiều mảng sạch 
mà ta có thể viết lên đỏ những điều có ích cho đời,
 (Trích Quà tặng cuộc sống - Dẫn theo 
Câu 1: (3,0 điểm)
a) Xác định phương thức biểu đạt chính. (1,0 điểm)
b) Cho biết cách trích dẫn ở phần in đậm? (1,0 điểm)
c) Chỉ ra và gọi tên phép liên kết hình thức ở phần in đậm. (1,0 điểm)
Câu 2: (2,0 điểm)
Em hiểu thế nào về câu nói: "Có người thường chú tâm đến những lỗi lầm nhỏ nhặt của 
người khác mà quên đi những phẩm chất tốt đẹp của họ"?
Câu 3: (2,0 điểm)
Từ ngữ liệu trên, em rút ra bài học gì?
II. PHẦN LÀM VĂN: (13,0 điểm).
Câu 1: (5,0 điểm)
 Từ ngữ liệu ở phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày 
suy nghĩ về lời khuyên của thầy giáo " Khi phải đánh giá về một sự việc hay một con người, 
thầy mong các em đừng chú trọng vào vệt đen mà hãy nhìn ra tờ giấy trăng với nhiều mảng 
sạch mà ta có thể viết lên đỏ những điều có ích cho đời,"
Câu 2: (8,0 điểm)
 Cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật anh thanh niên trong truyện 
ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long.
 10 * Lời giải đề thi Văn vào lớp 10 2019 Bạc Liêu được biên soạn mang mục đích tham khảo:
I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (7,0 điểm)
Câu 1: (3,0 điểm)
a) Xác định phương thức biểu đạt chính: Tự sự
b) Cho biết cách trích dẫn ở phần in đậm: Cách dẫn trực tiếp
c) Phép liên kết hình thức chủ yếu ở phần in đậm:
 + Phép nối: "Nhưng".
Câu 2: (2,0 điểm)
 Việc chỉ “chú tâm đến những lỗi lầm nhỏ nhặt của người khác mà quên đi những 
phẩm chất tốt đẹp của họ” thể hiện một cách đánh giá con người chủ quan, phiến diện, thiếu 
đi sự độ lượng, bao dung cần thiết để nhìn nhận, đánh giá người khác một cách toàn diện.
Câu 3: (2,0 điểm)
Các em có thể tùy theo suy nghĩ của mình:
Gợi ý: - Đừng đánh giá người khác qua sai lầm, thiếu sót, hạn chế của họ.
 - Đừng bao giờ phán xét người khác một cách dễ dàng.
II. PHẦN LÀM VĂN: (13,0 điểm).
Câu 1: (5,0 điểm)
Giới thiệu vấn đề:
 - Có một lời khuyên của thầy giáo nói với học sinh " Khi phải đánh giá về một sự việc hay 
một con người, thầy mong các em đừng chú trọng vào vệt đen mà hãy nhìn ra tờ giấy trăng 
với nhiều mảng sạch mà ta có thể viết lên đỏ những điều có ích cho đời."
 - Khẳng định điều này là vô cùng đúng đắn.
* Bàn luận vấn đề:
 Giải thích từ cách nhìn: cách nhìn là sự quan sát, đánh giá, quan niệm của mỗi người về hiện 
tượng, sự vật, con người, cuộc sống 
 - “Vệt đen”: những lỗi lầm những điều chưa tốt, chưa hoàn hảo ở một con người
 - “Tờ giấy trắng” những điều tốt, những khoảng trống trong tâm hồn một người có thể tạo 
dựng vun đắp để tạo nên những điều tốt đẹp
 => Ý kiến của thầy giáo là một lời khuyên vô cùng đúng đắn: Khi đánh giá một con người 
không nên quá chú ý vào những sai lầm thiếu sót mà cần biết trân trọng những điều tốt đẹp, 
biết nhìn thấy trong tâm hồn mỗi người đều có những khoảng trống để từ đó có thể tạo dựng, 
vun đắp, hoàn thiện nhân cách.
Bình luận về ý nghĩa gợi ra từ câu chuyện:
 + Cuộc sống muôn hình vạn trạng , cùng một sự việc xảy ra, cùng một vấn đề nhưng mỗi 
người lại có cách đánh giá khác nhau, phụ thuộc vào cách nhìn nhận chủ quan của bản thân.
 + Trong cuộc sống có những cách đánh giá, nhìn nhận vấn đề đánh mất cơ hội, sự tự tin, lạc 
quan của con người. Cách nhìn này kìm hãm sự nỗ lực hành động vươn lên của con người. 
Nhưng trong cuộc sống cũng có những cách đánh giá, nhìn nhận vấn đề tạo cơ hội, niềm tin, 
lạc quan của con người. Đó là cách nhìn tạo động lực giúp con người nỗ lực hành động để 
tạo ra những thành quả có ý nghĩa cho bản thân và xã hội.
 + Để có được cách nhìn đúng đắn, tích cực con người cần có sự tinh nhạy, sắc bén, sâu sắc 
khi quan sát và suy xét thấu đáo vấn đề trước khi đưa ra kết luận. Và quan trọng hơn là phải 
có niềm tin đối với đối tượng được nhìn nhận, đánh giá.
 + Phản đề : Phê phán những người có cái nhìn hời hợt, có cách đánh giá chủ quan theo cảm 
tính. Phê phán cái nhìn bi quan, thiếu tự tin, 
* Liên hệ và rút ra bài học:
 11 + Cuộc sống vốn muôn màu, muôn sắc nên khi nhìn nhận vấn đề không được vội vàng, hấp 
tấp chỉ nhìn hời hợt bên ngoài hiện tượng mà phải suy nghĩ kĩ lưỡng trước khi đưa ra kết 
luận. Và phải có trách nhiệm trước sự đánh giá của bản thân.
 + Cần có cách nhìn lạc quan để phát hiện mặt tốt, mặt tích cực của sự vật, hiện tượng, con 
người . Từ đó luôn biết vượt qua những khó khăn, thử thách để tạo cơ hội hướng tới mục 
đích cao cả.
Văn mẫu: Suy nghĩ về hậu quả của việc phán xét người khác một cách dễ dàng
Câu 2: (8,0 điểm)
I. Mở bài
 Giới thiệu tác giả Nguyễn Thành Long và tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa.
Ví dụ: Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của tác giả Nguyễn Thành Long lấy cảm hứng từ chuyến 
đi thực tế ở Lào Cai và nhân vật anh thanh niên đang làm nhiệm vụ khí tượng chính là hình 
ảnh trung tâm, ca ngợi những đóng góp thầm lặng của những người lao động trong công 
cuộc xây dựng đất nước.
II. Thân bài: Cảm nhận về vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên
Khái quát về hoàn cảnh sống và làm việc của anh thanh niên
 + Làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 m, quanh năm 
sống với hoa cỏ
 + Công việc của anh: đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dựa vào 
công việc dự báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất và chiến đấu
 + Công việc đòi hỏi tỉ mỉ, chính xác cũng như tinh thần trách nhiệm cao (nửa đêm đi ốp dù 
trời mưa tuyết, giá lạnh)
 - Điều gian khổ nhất chính là vượt qua nỗi cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt tháng chỉ sống 
trên đỉnh núi một mình.
* Vẻ đẹp của anh thanh niên trong cách sống, suy nghĩ, hành động và quan hệ tình cảm 
với mọi người
 - Vượt lên hoàn cảnh sống khắc nghiệt, anh có suy nghĩ rất đẹp:
 + Với công việc khắc nghiệt gian khổ, anh luôn yêu và mong muốn được làm việc ở điều 
kiện lý tưởng (đỉnh cao 3000 m)
 + Anh có những suy nghĩ đúng đắn, sâu sắc về cuộc sống con người: “khi ta làm việc, ta với 
công việc là một, sao lại gọi là một mình được”
 + Anh thấu hiểu nỗi vất vả của đồng nghiệp
 + Quan niệm về hạnh phúc của anh thật đơn giản và tốt đẹp
- Hành động, việc làm đẹp
+ Mặc dù chỉ có một mình không ai giám sát nhưng anh luôn tự giác hoàn thành nhiệm vụ 
với tinh thần trách nhiệm cao (nửa đêm đúng giờ ốp dù mưa gió thế nào anh cũng trở dậy ra 
ngoài trời làm việc một cách đều đặn và chính xác 4 lần trong một ngày)
- Anh thanh niên có phong cách sống cao đẹp
 + Anh có nếp sống đẹp khi tự sắp xếp công việc, cuộc sống của mình ở trạm một cách ngăn 
nắp: có vườn rau xanh, có đàn gà đẻ trứng, có vườn hoa rực
 + Đó là sự cởi mở chân thành với khách, quý trọng tình cảm của mọi người
 + Anh còn là người khiêm tốn, thành thực cảm thấy công việc của mình có những đóng góp 
chỉ là nhỏ bé
→ Chỉ bằng những chi tiết và chỉ xuất hiện trong một khoảnh khắc của truyện, tác giả phác 
họa được chân dung nhân vật chính với vẻ đẹp tinh thần, tình cảm, cách sống và những suy 
nghĩ về cuộc sống, về ý nghĩa công việc.
 12 - Anh thanh niên đại diện cho người lao động
 + Anh thanh niên là đại diện chung cho những người lao động nhiệt huyết, sống đẹp, cống 
hiến vì Tổ quốc một cách thầm lặng, vô tư.
 + Những con người khiêm tốn, giản dị, trung thực, âm thầm thực hiện công việc nhiệm vụ 
được giao.
III. Kết bài
 - Nêu cảm nhận hình tượng anh thanh niên: Hình tượng nhân vật anh thanh niên miệt mài, 
hăng say lao động vì lợi ích đất nước, có sức lan tỏa tới những người xung quanh.
 - Tác giả rất thành công khi xây dựng hình tượng nhân vật anh thanh niên cùng những người 
đồng nghiệp thầm lặng cống hiến sức trẻ, thanh xuân cho đất nước, dân tộc.
ĐỀ 2
 Đề thi vào lớp 10 môn Văn 2019 của tỉnh Cà Mau 
 Thời gian làm bài là 90 phút
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4
 Khi tôi còn bé, tôi hầu như hết thuốc chữa với môn Toán, ba tôi đã kiên nhẫn ngồi 
xuống giảng cho tôi từ bài này đến bài kia cho đến khi tôi làm đúng. Khi nào ba cảm giác 
rằng tôi sắp đầu hàng, ba nói với tôi “Nếu con nghĩ con không làm được, con sẽ không bao 
giờ làm được". Giờ đây khi tôi sắp bỏ cuộc, tôi lại nhớ đến bài tập toán hồi đó.
 Khi tôi bắt đầu đi làm, tôi gặp rất nhiều khó khăn trong công việc, đồng nghiệp của 
tôi hay nói những lời khiến tôi khó chịu, khi ấy, tôi lại nhớ đến lời ba tôi từng khuyên: 
“Đừng bao giờ để cho ai nói rằng con không đủ giỏi”. Bất cứ khi nào tôi cảm thấy kiệt sức, 
tôi luôn nhớ đến những lời này, nó giúp tôi lên tinh thần, thậm chí khi xung quanh mọi thứ 
đang hỗn loạn và người khác sắp từ bỏ.
 Ba tôi đã dạy tôi rằng “Con sẽ không trở thành con của ngày hôm nay nếu chỉ nghỉ 
ngơi và không làm việc. Con phải làm việc thật siêng năng để đạt được một chỗ đứng trong 
cuộc sống”.
 (Trích Quà tặng cuộc sống - Nhã Nam biên soạn, NXB Thanh niên, 2018)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên? (0,5 điểm)
Câu 2. Hãy đặt nhan đề thích hợp cho văn bản. (0,5 điểm)
Câu 3. Em hiểu thế nào về lời dạy của người cha: “Đừng bao giờ để cho ai nói rằng con 
không đủ giỏi"? (1,0 điểm)
Câu 4. Em có đồng tình với quan điểm của người cha: “Nếu con nghĩ con không làm được, 
con sẽ không bao giờ làm được"? Lí giải rõ vì sao. (1,0 điểm)
II. LÀM VĂN (7,0 điểm) 
Câu 1. (2,0 điểm) Người cha trong văn bản trên đã tặng cho con mình một món quà vô giá. 
Theo em đó là món quà gi? Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về món quà ấy.
Câu 2. (5,0 điểm) Cảm nhận của em về vẻ đẹp của đoạn thơ sau:
 Mọc giữa dòng sông xanh 
 Một bông hoa tím biếc 
 Ôi con chim chiền chiện
 Hót chi mà vang trời 
 Từng giọt long lanh rơi 
 Tôi đưa tay tôi hứng.
 Mùa xuân người cầm súng 
 Lộc giắt đầy quanh lưng 
 13 Mùa xuân người ra đồng 
 Lộc trải dài nương mạ 
 Tất cả như hối hả
 Tất cả như xôn xao 
 (Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải - SGK Ngữ văn 9, NXB Giáo dục 2008)
ĐỀ 4:
 Đề thi vào lớp 10 môn Văn 2019 của tỉnh Sóc Trăng 
 Thời gian làm bài là 120 phút.
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
 Câu chuyện chú Dê
 Buổi sớm nọ, một chú Dê đừng lảng vảng ngoài vườn rau, chú ta muốn ăn cải trong 
vườn nhưng vì bỏ rào cao nên không thể vào được.
 Lúc ấy, trời vờn tối, mặt trời vừa ló dạng ở đằng đông, Chú Dê nhìn thấy cái bóng của 
mình dài thật di. Chú ta chợt nghĩ “Ôi, mình cao thế này ư? Thế thì mình có thể ăn quả trên 
cây rồi, cần gì phải ăn những cây cải dưới đất nữa".
 Ở đằng xa có một vườn táo. Các cây táo trĩu nặng những quả táo ửng hồng. Chú Dê 
 hăm hở chạy đến đó.
 Khi đến nơi thì trời đã trưa, lúc này mặt trời lên đến đỉnh đầu. Bóng chú Dê trở thành 
một cái bóng nhỏ sát chân chú.
 "Ôi, thì ra mình bể nhỏ đến thế làm sao mình ăn quả trên cây được, thôi đành trở về 
ăn cải trong vườn thôi". Chú ta buồn bã quay lại nơi vườn cải.
 Khi đến nơi, mặt trời đã xuống phía tây, cái bóng của chủ lại trải dài thật dài.
 "Sao mình lại trở về đây làm gì nhỉ? Mình cao thế này thì ăn những quả táo trên cây 
đâu thành vấn đề?" - Chú ta phiền não, lẩm bẩm.
 (Nguồn 
Câu 1 (0,5 điểm). Văn bản trên thuộc kiểu văn bản gì (tự sự, thuyết minh, nghị luận)?
Câu 2 (0,5 điểm). Em hãy chỉ ra những hành động của chú Dê trong câu chuyện trên. 
Câu 3 (1,0 điểm). Vì sao cuối câu chuyện, chú ta phiền não, lầm bầm?
Câu 4 (1,0 điểm). Bài học rút ra từ câu chuyện trên. 
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Từ nội dung gợi ra ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 
200 chữ) bàn về việc mỗi người cần xác định mục tiêu trong cuộc sống của mình. 
Câu 2 (5,0 điểm): Trong bài thơ Khoảng trời, hố bom, Lâm Thị Mỹ Dạ có đoạn viết:
 Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường 
 Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương 
 Cho đoàn xe kịp giờ ra trận 
 Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
 (Theo Văn chương một thời để nhớ, NXB Văn học, 2006) 
 Hình ảnh cô gái thanh niên xung phong mở đường một lần nữa được Lê Minh Khuê 
khắc họa trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi (Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục, 
2006). Em hãy phân tích để làm nổi bật vẻ đẹp của các nhân vật trong truyện ngắn đó.
ĐỀ 4:
 Đề thi vào lớp 10 môn Văn 2019 của Thành phố Cần Thơ
 Thời gian làm bài là 120 phút
 14 I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
 "Có gì đâu, có gì đâu
 Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều
 Rễ siêng không ngại đất nghèo
 Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
 Vươn mình trong gió tre đu
 Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
 Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
 Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm
 Bão bùng thân bọc lấy thân
 Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm."
(Trích Tre Việt Nam - Nguyễn Duy, tập Cát trắng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn thơ trên.
Câu 2. Chỉ ra các từ láy trong đoạn thơ trên.
Câu 3. Nêu tác dụng của 01 biện pháp tu từ đặc sắc được sử dụng trong hai câu thơ:
 "Bão bùng thân bọc lấy thân
 Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm"
Câu 4. Theo em, hình ảnh cây tre đã gợi lên những phẩm chất cao quý nào của dân tộc Việt 
Nam?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
 Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) 
trình bày suy nghĩ về sự cần thiết của tinh thần lạc quan trong cuộc sống.
Câu 2 (5,0 điểm)
 Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long có đoạn: "... Nhân dịp Tết một 
đoàn các chú lái máy bay lên thăm cơ quan cháu ở Sa Pa. Không có cháu ở đây. Các chú lại 
cử một chú lên tận đây. Chú ấy nói: nhờ cháu có góp phần phát hiện một đám mây khô mà 
ngày ấy tháng ấy, không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Đối với 
cháu, thật là đột ngột, không ngờ lại là như thế (...)
 Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc. Ơ bác vẽ cháu đấy ư? Không, không 
đừng vẽ cháu! Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn."
 (Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr 185).
 Và tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê Có đoạn: "Quen rồi. Một ngày 
chúng tôi phá bom đến năm lần, Ngày nào ít ba lần. Tôi có nghĩ đến cái chết. Nhưng một cái 
chết mờ nhạt, không cụ thể. Còn cái chính: liệu mìn có nổ, bom có nổ không? Không thì làm 
cách nào để châm mìn lần thứ hai? Tôi nghĩ thế, nghĩ thêm: đứng cẩn thận, mảnh bom ghim 
vào cánh tay thì khá phiền. Và mồ hôi thấm vào môi tôi mằn mặn, cát lạo xạo trong miệng."
 (Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr 118)
 Cảm nhận của em về hai đoạn trích trên. Từ đó, hãy nhận xét ngắn gọn về vẻ đẹp của 
tuổi trẻ Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
 15

Tài liệu đính kèm:

  • docde_cuong_on_tap_ngu_van_lop_9_nam_hoc_2019_2020.doc