Đề thi chọn HSG văn hóa cấp Huyện môn Ngữ văn 9 - Năm học 2018-2019 - PGD Việt Yên (Có đáp án)

docx 5 trang Người đăng Đào Hoa Ngày đăng 19/03/2026 Lượt xem 8Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi chọn HSG văn hóa cấp Huyện môn Ngữ văn 9 - Năm học 2018-2019 - PGD Việt Yên (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN
 VIỆT YÊN NĂM HỌC 2018 - 2019
 MÔN THI: NGỮ VĂN 9
 ĐỀ CHÍNH THỨC Ngày thi: 01/03/2019
 (Đề thi có 01 trang) Thời gian làm bài 120 phút
Câu 1. ( 6.0 điểm)
 Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:
 Quê hương tôi có cây bầu, cây nhị
 Tiếng đàn kêu tích tịch tình tang...
 Có cô Tấm náu mình trong quả thị
 Có người em may túi đúng ba gang.
 (Trích Bài thơ Quê hương, Nguyễn Bính)
 a. Tìm từ tượng thanh có trong đoạn thơ.
 b. Chỉ ra ba truyện cổ tích được gợi mở trong khổ thơ.
 c. Xác định hai biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ.
 d. Từ cảm nhận của Nguyễn Bính, em hãy nêu suy nghĩ của mình về vai trò của quê 
hương đối với mỗi người.
Câu 2. (4.0 điểm)
 Steve Jobs – cựu chủ tịch Apple – trong một bài phát biểu tại lễ trao bằng tốt nghiệp của 
trường đại học danh tiếng Stanford (Mỹ), thay vì chúc các tân cử nhân một sự nghiệp thành 
công, ông lại sử dụng câu nói: Hãy cứ khát khao, hãy luôn dại khờ.
 Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về câu nói trên.
Câu 3. (10.0 điểm)
 Có ý kiến cho rằng: Thơ hay không chỉ làm ta rung động mà còn giúp ta vỡ lẽ ra những 
điều sâu xa. 
 Em hãy giải thích và làm sáng tỏ nhận định trên qua những đoạn thơ dưới đây: 
 Những chiếc xe từ trong bom rơi
 Đã về đây họp thành tiểu đội
 Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
 Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.
 Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
 Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
 Võng mắc chông chênh đường xe chạy
 Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
 (Trích Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật)
 Và 
 Trăng cứ tròn vành vạnh
 kể chi người vô tình
 ánh trăng im phăng phắc
 đủ cho ta giật mình.
 (Trích Ánh trăng, Nguyễn Duy)
 ------ HẾT ------
 Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
 Họ và tên thí sinh: .................................................................Số báo danh:...............................
 Giám thị 1 (Họ tên và ký)..........................................................................................................
 Giám thị 2 (Họ tên và ký).......................................................................................................... PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯỚNG DẪN CHẤM
 VIỆT YÊN THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN
 NĂM HỌC 2018-2019
 MÔN THI: NGỮ VĂN 9
 (Hướng dẫn chấm gồm 04 trang)
Câu Phần Nội dung Điểm
 Về đoạn thơ trích Bài thơ Quê hương của Nguyễn Bính 6.0
 - Mức tối đa: HS xác định đúng từ tượng thanh tích tịch tình 1.0
 a tang.
 - Mức không đạt: Không làm hoặc làm sai. 0
 - Mức tối đa: HS tìm đúng các ba truyện cổ tích: Thạch Sanh, 1.0
 Tấm Cám, Cây khế.
 b - Mức chưa tối đa:
 + HS tìm được đúng 02 truyện cổ tích. 0.5
 - Mức không đạt: Tìm được 01 truyện, không làm hoặc làm sai.
 - Mức tối đa: HS tìm đúng hai biện pháp tu từ: 2.0
 + Điệp ngữ: có (3 lần)
 + Liệt kê: cây bầu, cây nhị; cô Tấm, người em.
 - Mức chưa tối đa:
 + HS tìm được đúng 01 BPTT (có chỉ ra dấu hiệu nhận biết). 1.0
 c + HS tìm đúng 02 BPTT (không chỉ ra dấu hiệu nhận biết). 1.0
 + HS tìm đúng 01 BPTT (không chỉ ra không chỉ ra dấu hiệu 
 nhận biết và không tìm quá hai BPTT) 0.5
 - Mức không đạt: Không làm, làm sai hoặc làm đúng 01 BPTT 
 1
 (không chỉ ra không chỉ ra dấu hiệu nhận biết và tìm quá 02 
 BPTT). 0
 - Mức tối đa: HS chỉ ra được: 2.0
 + Đoạn thơ là tình cảm tự hào, yêu mến, trân trọng của nhà thơ về 
 những giá trị trong những nhạc cụ, những tác phẩm VHDG thời 
 quá khứ. 0.5
 + Đó cũng là niềm tự hào trước những giá trị trị văn hóa tinh thần 
 của dân tộc. 0.5
 + Vai trò của quê hương với mỗi người (HS tự bộc lộ) 1.0
 - Mức chưa tối đa:
 d + HS cảm nhận được tình cảm đối với quê hương của Nguyễn Bính 
 trong đoạn thơ nhưng chưa bộc lộ được suy nghĩ của mình. 1.0
 + HS cảm nhận được tình cảm với quê hương của nhà thơ và bộc 
 lộ được suy nghĩ của bản thân nhưng không đầy đủ và thiếu 1.0
 logic.
 + HS bộc lộ được suy nghĩ của mình với quê hương song không 
 nêu được tình cảm đối với quê hương của tác giả gửi gắm trong 
 đoạn thơ. 0.5
 - Mức không đạt: Không làm hoặc làm sai. 0
 Viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của 
 mình về câu nói: Hãy cứ khát khao, hãy luôn dại khờ (Steve 4.0
 Jobs)
 2 a. Yêu cầu về kỹ năng: 0.5
 - Xác định đúng vấn đề nghị luận.
 - Học sinh biết cách viết đoạn văn nghị luận xã hội, bố cục chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, giàu sức thuyết phục.
 - Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt. 
 b. Yêu cầu về nội dung: Học sinh lựa chọn cách lập luận phù 3.0
 hợp để trình bày vấn đề theo nhiều cách khác nhau. Có thể theo 
 hướng sau:
 - Giải thích ngắn gọn khái niệm 0.5
 + Khát khao: những ước mơ, mong muốn cháy bỏng. 
 + Dại khờ: có hạn chế về năng lực, trí tuệ. Nghĩa cụ thể của văn 
 bản: dại khờ là bỏ qua, không để ý đến những định kiến, khuôn 
 mẫu cứng nhắc. Mục đích là để vượt ra ngoài chuẩn mực, giới 
 hạn an toàn...
 - Bàn luận vấn đề: 1.0
 + Con người cần có những bước đi mạnh mẽ, dũng cảm nếu 
2 thành công thì sẽ thay đổi cái đang có, nếu thất bại sẽ là bài học 
 kinh nghiệm sâu sắc.
 + Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người có ước mơ và dám 
 dũng cảm hiện thực hóa ước mơ dù xung quanh có thể không có 
 sự đồng cảm, sẻ chia.
 - HS dùng dẫn chứng để chứng minh. 0.5
 - Phản đề: phê phán những người sống hèn nhát, tự ti, ngại thay 
 đổi.
 - Mở rộng: Khát khao không đồng nghĩa với ảo tưởng, dại khờ 
 không có nghĩa là bao biện cho sai lầm của chính mình. 0.5
 - Bài học: Hãy là chính mình, hãy làm theo trực giác, tình cảm, 
 suy nghĩ của chính mình. 0.5
 (Bài làm của HS có thể lựa chọn cách tiếp cận khác miễn sao 
 đảm bảo làm nổi bật được vấn đề) 
 c. Sáng tạo: Có ý tưởng sáng tạo trong cách diễn đạt. 0.5
 Bàn luận ý kiến: Thơ hay không chỉ làm ta rung động mà còn 
 giúp ta vỡ lẽ ra những điều sâu xa. Qua những đoạn trích văn 
 10.0
 bản của các tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính 
 (Phạm Tiến Duật) và Ánh trăng (Nguyễn Duy).
 1. Yêu cầu về kỹ năng: 1.0
 - Xác định đúng kiểu bài: Văn nghị luận. 
 - Bài viết đảm bảo bố cục ba phần; biết vận dụng các yếu tố các 
 yếu tố lập luận giải thích, chứng minh, ... vào trong bài văn của 
 mình.
 - Có kĩ năng làm kiểu bài nghị luận văn học dạng bài tổng hợp.
 2. Yêu cầu về kiến thức : Bài làm đảm bảo các ý cơ bản sau: 8.0
3 * Mở bài: 1.0
 - Giới thiệu, dẫn dắt vào hai tác phẩm của hai tác giả.
 - Nêu nội dung, nghệ thuật cơ bản của những đoạn văn bản.
 * Thân bài: 6.0
 a. Giới thiệu chung: 1.0
 - Thơ hay làm ta rung động: Thơ vốn là những rung động của 
 nghệ sĩ. Muốn có sự thấu cảm của người đọc, bài thơ phải có sức 
 lan truyền cảm xúc, tình cảm khiến người đọc đồng điệu với rung 
 động của nghệ sĩ.
 - Nhưng để đọng lại trong trái tim người đọc, tác phẩm phải có 
 khả năng khơi dòng, gợi mở khiến người đọc bừng tỉnh, phát hiện 
 thấy những điều kì diệu, giúp ta vỡ lẽ ra những điều sâu xa mà trước đó chưa biết hoặc biết nhưng còn mơ hồ.
- Người lính lái xe trong đoạn thơ Bài thơ về tiểu đội xe không 
kính của Phạm Tiến Duật đã ca ngợi tình đồng đội gắn bó, có ước 
mơ, lí tưởng cao đẹp.
- Nhân vật trữ tình trong đoạn cuối bài thơ Ánh trăng của Nguyễn 
Duy đã giật mình thức tỉnh thấy được giá trị, ý nghĩa sâu xa của 
đạo lí uống nước nhớ nguồn.
- Tóm lại những đoạn thơ thuộc hai bài thơ đã làm người đọc 
rung động về một thời quá khứ đã qua và vỡ lẽ nhận ra giá trị 
đích thực của cuộc sống.
b. Sự rung động và vỡ lẽ của độc giả khi đọc các đoạn thơ: 4.0
 * Với đoạn thơ trong tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không 
kính của Phạm Tiến Duật: 2.0
- Những chiếc xe đã trải qua thử thách bom đạn của chiến trường 
và những người lính lái những chiếc xe không kính là những 
người gan góc, kiên cường.
- Người lính lái xe phát hiện ra điều thú vị khí lái những chiếc xe 
không kính là có thể bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. 
+ Đây là tình cảm đồng chí, đồng đội của của những người lính 
trẻ cùng chí hướng, lí tưởng, chung khát vọng....
+ Thậm chí chỉ cần ăn chung một bữa cơm họ đã coi nhau như 
anh em một nhà.
- Phút nghỉ ngơi ngắn ngủi qua đi, tiểu đội lại tiếp tục hành quân:
+ Chông chênh là giấc ngủ vội, giấc ngủ, chập chờn, nhưng các 
anh có niềm tin sắt đá vào lí tưởng mình đã chọn vào tương lai 
phía trước.
+ Điệp ngữ lại đi và mở ra trời xanh thêm như thôi thúc các anh 
lên đường vì phía trước là hi vọng, là hòa bình thống nhất đang 
chờ đón.
- Từ sự thấu cảm về tình đồng chí, đồng đội và khát vọng giải 
phóng miền Nam thống nhất đất nước của những người lính lái 
xe, người đọc như được lan tỏa tình yêu thương, sự gắn bó; thấy 
được trách nhiệm của bản thân với những di sản tinh thần của cha 
ông.
- Phạm Tiến Duật đã đưa chất liệu hiện thực sinh động vào trong 
đoạn thơ của mình, ngôn ngữ, giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự 
nhiên khỏe khoắn. 2.0
* Với khổ cuối của bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy:
 - Khái quát nội dung của những khổ thơ trước để gợi cảnh nhân 
vật trữ tình bất ngờ đối diện với vầng trăng khi thình lình đèn 
điện tắt.
 - Khoảnh khắc ấy đã làm dấy lên trong lòng người lính năm xưa 
một sự ăn năn vì dù người vô tình thì trăng vẫn tròn vành vạnh, 
vẫn bao dung. Thái độ im lặng của trăng như một sự nhắc nhở 
nghiêm khắc giúp con người nhận ra cách sống nông nổi, vô tình 
của mình. Từ đó biết sống xứng đáng với nghĩa tình quá khứ.
 - Trong giây phút đối diện với vầng trăng, ánh sáng lặng lẽ của 
trăng chiếu rọi đã giúp con người giật mình bừng tỉnh và vỡ lẽ để 
nhận ra rằng: cuộc sống đô thị có thể đầy đủ tiện nghi nhưng lại 
dễ khiến tâm hồn trở nên vô cảm, ích kỉ. Bài thơ đánh thức ở 
người đọc tình cảm tri ân với quá khứ. - Vần thơ của Nguyễn Duy trong đoạn mộc mạc, nhẹ nhàng mang 
 chiều sâu triết lí đã đánh thức lương tri con người. 1.0
 c. Đánh giá chung:
 - Cả hai tác giả đều là những người lính, là nhà thơ trưởng thành 
 trong kháng chiến chống Mĩ.
 - Dù viết về những điều đang diễn ra hay đã trải qua thời kì gian 
 khổ và oai hùng thì cả hai nhà thơ đều cảm nhận được sự thiêng 
 liêng của hai chữ tổ quốc và giá trị của hòa bình.
 - Tuy nhiên:
 + Mỗi tác giả lại có điều kiện và hoàn cảnh sáng tác khác nhau.
 + Phong cách sáng tác khác nhau: Phạm Tiến Duật có ngôn ngữ 
 trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc; còn Nguyễn Duy lại 
 có những vần thơ nhẹ nhàng mà sâu lắng
 + Thể thơ khác nhau phù hợp với cách thể hiện dụng ý của các 
 tác giả. 1.0
 * Kết bài:
 - Khẳng định nội dung và nghệ thuật theo yêu cầu của đề bài.
 - Nêu bài học bản thân.
 (Bài làm của HS có thể lựa chọn cách tiếp cận khác miễn sao 
 đảm bảo làm nổi bật được vấn đề)
 3. Sáng tạo: Có ý tưởng sáng tạo khi diễn đạt. 0.5
 4. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ 0.5
 nghĩa tiếng Việt.
 Tổng điểm 20. 0
 * Lưu ý khi chấm bài: 
 Do đặc trưng của môn Ngữ văn, bài làm của học sinh cần được đánh giá tổng quát, 
tránh đếm ý cho điểm. Việc chi tiết hóa điểm số các ý (nếu có) phải đảm bảo không sai lệch với 
tổng điểm của mỗi phần và được thống nhất trong Hội đồng chấm.
 - Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu 
đã nêu ở mỗi câu, đồng thời phải chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.
 - Khuyến khích những bài viết sáng tạo, nội dung bài viết có thể không trùng với yêu cầu 
trong đáp án nhưng lập luận thuyết phục, văn phong sáng rõ.
 . Hết 

Tài liệu đính kèm:

  • docxde_thi_chon_hsg_van_hoa_cap_huyen_mon_ngu_van_9_nam_hoc_2018.docx