Giáo án Nâng cao Ngữ văn 9 - Tuần 20 - Năm học 2020-2021

doc 19 trang Người đăng Hàn Na Ngày đăng 13/12/2025 Lượt xem 11Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Nâng cao Ngữ văn 9 - Tuần 20 - Năm học 2020-2021", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 Tuần: 20
 Ngày soạn: 3-1-2021
 Tiết: 55, 56, 57 Một số nhà thơ trong phong trào Thơ mới Việt Nam 1932-1945 
I. MỤC TIÊU :
1. Kiến thức
- Bước đầu nắm được khái niệm về thơ mới, đồng thời có sự so sánh, đối chiếu với các thể 
thơ cũ, đặc biệt là thơ Đường luật.
- HS có sự hiểu biết về các nhà thơ mới trên những phương diện: cuộc đời, sự nghiệp, đặc 
biệt là nét phong cách nổi bật.
- Biết cảm nhận phân tích những giá trị nội dung và nghệ thuật của một số bài thơ tiêu 
biểu.
 2. Kĩ năng
 - Biết cách đọc hiểu, cảm nhận nội dung và nghệ thuật của các bài thơ mới đã học.
- Bước đầu rèn luyện kĩ năng sáng tác thơ tự do.
- Rèn luyện kỹ năng so sánh, đối chiếu.
3. Thái độ: 
- Bồi đắp tinh thần yêu nước, từ đó có ý thức xây dựng quê hương.
- Phát huy vẻ đẹp vốn có của thơ hiện đại. 
 II. CHUẨN BỊ :
 - Thầy : giáo án, SGK, đọc tư liệu tham khảo, chuẩn KTKN, tìm hiểu về các nhà 
thơ trong phong trào thơ mới
 - Trò : ôn lại các bài thơ- tác giả trong phong trào thơ mới.
III. CÁC BƯỚC LÊN LỚP :
 1. Ổn định lớp :
 2. Kiểm tra bài cũ :
 3.Nội dung bài mới :
 Hoạt động của thầy Hoạt động Nội dung cơ bản
 của trò
 Hoạt động 1: Khái niệm- I. Những nét chung về phong trào Thơ 
 Hoàn cảnh lịch sử xã hội. mới.
 1/ Khái niệm về thơ mới:
 Thơ mới là một cuộc cách mạng thơ ca 
 Giai cấp tư sản bị bọn đế quốc trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc ở 
 thế kỷ 20. Sự xuất hiện của Thơ mới gắn 
 chèn ép nên sớm bị phá sản và 
 liền với sự ra đời của Phong trào thơ mới 
 phân hóa, một bộ phận đi theo 
 Việt Nam 1932-1945. Phong trào thơ mới 
 chủ nghĩa cải lương. So với 
 đã mở ra “một thời đại trong thi ca”, mở 
 giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư đầu cho sự phát triển thơ ca Việt Nam 
 sản giàu tinh thần dân tộc và hiện đại. 
 yêu nước hơn. Tuy không tham 2- Hoàn cảnh lịch sử xã hội.
 gia chống Pháp và không đi 
 theo con đường cách mạng 
 nhưng họ sáng tác văn chương 
 cũng là cách để giữ vững nhân 3- Các thời kỳ phát triển của Phong 
 cách của mình. trào thơ mới .
 Cùng với sự ra đời của hai giai Có thể phân chia các thời kỳ phát cấp trên là sự xuất hiện tầng triển của Phong trào thơ mới thành ba giai 
lớp trí thức Tây học Có thể phân đọan2:
 chia các thời 
 - Giai đoạn 1932-1935:
 kỳ phát triển 
 của Phong - Giai đoạn 1936-1939:
 trào thơ mới - Giai đoạn 1940-1945:
 thành ba giai 
 đọan: 4- Những mặt tích cực, tiến bộ của 
Hoạt động 2 - Những mặt Phong trào thơ mới
tích cực, tiến bộ của Phong 
 - Tinh thần dân tộc sâu sắc
trào thơ mới
 Nhà thơ Thế Lữ luôn mơ ước 
 Thơ mới luôn ấp ủ một tinh thần dân 
được “tung hoành hống hách 
 tộc, một lòng khao khát tự do
những ngày xưa” (Nhớ rừng)
 Nhà thơ Thế Tinh thần dân tộc của các nhà thơ mới 
 Nghe tiếng ru của mẹ, nhà thơ Lữ luôn mơ 
 gửi gắm vào lòng yêu tiếng Việt. 
Huy Cận cảm nhận được “hồn ước được 
thiêng đất nước” trong từng “tung hoành Ở giai đoạn cuối, tinh thần dân tộc chỉ 
câu ca: hống hách còn phảng phất với nỗi buồn đau của 
 những ngày ngưòi nghệ sĩ không được tự do 
“Nằm trong tiếng nói yêu 
 xưa” (Nhớ 
thương
 rừng) - Tâm sự yêu nước thiết tha
Nằm trong tiếng Việt vấn Nguyễn Nhược Pháp (Em đi Chùa 
vương một đời”. Hương); hình ảnh làng sơn cước vùng 
 Hương Sơn Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận 
 (Độc hành ca, Chiều mưa xứ 
 (Đẹp xưa); hình ảnh làng chài nơi cửa 
Bắc của Trần Huyền 
 biển quê hương trong thơ Tế Hanh (Quê 
Trân, Tống biệt hành
 hương) v.v Các thi sĩ đã mang đến cho 
 thơ cái hương vị đậm đà của làng quê, cái 
 không khí mộc mạc quen thuộc của ca 
 dao: Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng 
 Bá Lân, Anh Thơ, Hình ảnh thôn 
 Đoài, thôn Đông, mái đình, gốc đa, bến 
 nước, giậu mồng tơi, cổng làng nắng mai, 
 mái nhà tranh đã gợi lên sắc màu quê 
 hương bình dị, đáng yêu trong tâm hồn 
 mỗi người Việt Nam yêu nước.
Hoạt động 2: Đặc điểm nổi bật 5- Đặc điểm nổi bật của Phong trào thơ 
của Phong trào thơ mới mới
 - Sự khẳng định cái Tôi
 - Nỗi buồn cô đơn
 Trong bài “Về cái buồn trong Thơ mới”, 
 Hoài Chân cho rằng “Đúng là Thơ mới 
 buồn, buồn nhiều”, “Cái buồn của Thơ 
Đến Phong trào thơ mới, cái mới không phải là cái buồn ủy mị, bạc 
Tôi ra đời đòi được giải phóng nhược mà là cái buồn của những người có 
cá nhân, thoát khỏi luân lí lễ tâm huyết, đau buồn vì bị bế tắc chưa tìm giáo phong kiến chính là sự thấy lối ra”.
tiếp nối và đề cao cái bản ngã - Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu
đã được khẳng định trước đó. Đây là cảnh mưa xuân trong thơ Nguyễn 
 Bính:
 “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Với Chế Lan Viên đó là “Nỗi Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”.
buồn thương nhớ tiếc dân Hời” Và đây là hình ảnh buổi trưa hè:
(tức dân Chàm): “Buổi trưa hè nhè nhẹ trong ca dao
 Có cu gáy và bướm vàng nữa chứ”
“Đường về thu trước xa xăm (Huy Cận).
lắm Trong thơ Chế Lan Viên có không ít 
Mà kẻ đi về chỉ một tôi” những hình ảnh như:
 “Bướm vàng nhè nhẹ bay ngang bóng
Nghe một tiếng gà gáy bên Những khóm tre cao rủ trước thành”
sông, Lưu Trọng Lư cảm nhận tất cả gợi lên hình ảnh quê hương bình dị, 
được nỗi buồn “Xao xác gà thân thuộc với mỗi người Việt Nam.
trưa gáy não nùng” còn Xuân Đây là cảnh Những cung bậc của tình yêu đã làm 
Diệu lại thấy “Tiếng gà gáy mưa xuân thăng hoa cảm xúc các nhà thơ mới. “Ông 
buồn nghe như máu ứa”. Về trong thơ hoàng của thơ tình” Xuân Diệu bộc bạch 
điều này, Hoài Chân cho rằng Nguyễn một cách hồn nhiên:
“Xuân Diệu phải là người buồn Bính: “Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá
nhiều, đau buồn nhiều mới viết Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”.
được những câu thơ nhức Chu Văn Sơn cho rằng “Xuân Diệu coi 
xương như: “Thà một phút huy tình yêu như một tôn giáo” nhưng là một 
hoàng rồi chợt tối /Còn hơn “thứ tôn giáo lãng mạn, tôn giáo nghệ sĩ”.
buồn le lói suốt trăm năm”. Trong thơ Khác với Xuân Diệu, nhà thơ Chế Lan 
 Chế Lan Viên cảm nhận thân phận bằng nỗi cô đơn 
 Viên có sầu não:
 không ít “Với tôi tất cả như vô nghĩa
 những hình Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”.
 ảnh như: 5. Một số đặc sắc về nghệ thuật
 Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách 
 một cách phóng túng nhưng dần dần trở 
 về với các thể thơ truyền thống quen 
 thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ 
 lục bát. 
 Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong 
 phú, ít sử dụng một vần (độc vận) mà 
 dùng nhiều vần như trong thơ cổ phong 
 trường thiên: vần ôm, vần lưng, vần chân, 
 vần liên tiếp, vần gián cách hoặc không 
 theo một trật tự nhất định:
 Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo 
 Đọc thơ nên cho Thơ mới một nhạc điệu riêng. 
 Xuân Diệu Ngoài việc sử dụng âm nhạc, Thơ mới 
 còn vận dụng cách ngắt nhịp một cách 
“Thu lạnh / càng thêm nguyệt 
 linh hoạt:
tỏ ngời
 Đàn ghê như nước / lạnh / trời 
 Ở một phương diện khác, cuộc cách tân 
ơi!” (Xuân Diệu)
 về ngôn ngữ Thơ mới diễn ra khá rầm rộ. 
 Thoát khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ 
 thống ước lệ dày đặc của “Thơ cũ”, Thơ 
 mới mang đến cho người đọc một thế giới 
 nghệ thuật giàu giá trị tạo hình và gợi 
 cảm sâu sắc:
 Sự phong phú về thể loại, vần và nhạc 
“Trong làn nắng ửng, khói mơ 
 điệu cùng với tính hình tượng, cảm xúc 
tan
 của ngôn ngữ đã tạo nên một phong cách 
 Đôi mái nhà tranh lấm tấm 
 diễn đạt tinh tế, bằng cảm giác, bằng màu 
vàng
 sắc hội họa của thơ mới. Đây là bức tranh 
 Sột soạt gió trêu tà áo biếc
 “Mùa xuân chín” được Hàn Mặc Tử cảm 
Trên dàn thiên lý. Bóng xuân 
 nhận qua màu sắc và âm thanh:
sang”.
Hoạt động 3: HD tìm hiểu nhà II- Những nét phong cách nổi bật:
thơ Thế Lữ 1- Thế Lữ
 a- Cuộc đời- sự nghiệp
 Nhà thơ Thế Lữ sinh năm 1907 mất năm 
 Thứ Lễ- 1989, tên khai sinh là Nguyễn Thứ Lễ, 
 quán trọ sinh tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Quê quán: 
Giởi thiệu cuộc đời, sự nghiệp? làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là 
 Tiên Sơn), tỉnh Bắc Ninh.
 Thuở nhỏ, Thế Lữ học ở Hải Phòng. 
 Năm 1929, học xong bậc Thành chung, 
 ông vào học Trường Cao đẳng Mĩ thuật 
 Đông Dương, sau đó một năm (1930), 
GV giởi thiệu hình ảnh về cuộc ông bỏ học. Năm 1932, Thế Lữ bắt đầu 
đời Thế Lữ. tham gia Tự lực văn đoàn và là một trong 
 những cây bút chủ lực của báo Phong 
 hoá, Ngày nay. Năm 1937, ông bắt đầu 
Giới thiệu các tập thơ? hoạt động sân khấu, làm diễn viên, đạo 
Tác giả đã xuất bản: Mấy vần diễn, lưu diễn tại các tỉnh miền Trung... 
thơ (thơ, 1935); Vàng và máu và có hoài bão xây dựng nền sân khâu 
(truyện, 1934); Bên đường dân tộc. Cách mạng tháng Tám, ông hào 
Thiên lôi (truyện, 1936),... hứng chào đón cách mạng, và lên Việt 
Ngoài ra Thế Lữ viết nhiều Bắc tham gia kháng chiến.
 Tác giả đã xuất bản: Mấy vần thơ (thơ, 
kịch bản: Cụ Đạo sư ông (kịch, 
 1935); Vàng và máu (truyện, 1934); Bên 
1946); Đoàn biệt động (1947); 
 đường Thiên lôi (truyện, 1936),... Ngoài 
Đợi chờ (1949); Tin chiến 
 ra Thế Lữ viết nhiều kịch bản: Cụ Đạo sư 
thắng Nghĩa Lộ (1952); Thế ông (kịch, 1946); Đoàn biệt động (1947); 
Lữ cũng là dịch giả của nhiều Đợi chờ (1949); Tin chiến thắng Nghĩa vở kịch của sếch-xpia, Gơ-tơ, Lộ (1952); Thế Lữ cũng là dịch giả của 
 Sin-le và Pô-gô-đin,... nhiều vở kịch của sếch-xpia, Gơ-tơ, Sin-
 le và Pô-gô-đin,...
 Thế Lữ là một trong những nhà thơ hàng 
 Giới thiệu phong cách thơ của đầu của phong trào Thơ mới. Bài Nhớ 
 Thế Lữ? rừng đă gắn liền với tên tuổi của ông. Nói 
 đến Thế Lữ không thể không nói đến Nhớ 
 Đối chiếu với thơ Bác: rừng.
 Trên đường (Lộ thượng), bản 
 dịch: b- Phong cách thơ:
 - Khuynh hướng đi tìm cái đẹp từ cõi 
 Mặc dù bị trói chân tay mộng hơn là cõi thực đã đem lại cho Thế 
 Chim ca rộn núi, hương bay Lữ một phong cách riêng, một gương mặt 
 ngát rừng riêng.
 - Ông không phản ánh hiện thực, ông chỉ 
 Vui say ai cấm ta dừng phản ánh tâm hồn mình. Mà cái cõi tâm 
 Đường xa âu cũng bớt chừng hồn ấy lúc nào cũng cứ phải liên hệ chằng 
 quạnh hiu. chằng với hiện thực, như bóng với hình.
 - Thế Lữ khai phá thơ lãng mạn Việt 
 Chân tay bị trói thì hãy tìm chỗ Nam
 kẻ thù không trói được (ở đây 
 là thính giác, khứu giác, ở chủ 
 nghĩa lãng mạn là mơ mộng) 
 mà hưởng thụ tinh hoa cuộc 
 sống, mà tự diệt khổ. Thơ Cụ 
 Hồ ở bài này là cổ điển nhưng 
 lại ca ngợi chủ nghĩa lãng mạn 
 trong cuộc sống, coi nó như 
 một cánh cửa mở vào tự do.
4. Củng cố: Đọc diễn cảm
5. Hướng dẫn học sinh tự học, làm bài tập, soạn bài mới:
 Sưu tầm thơ mới
IV. Rút kinh nghiệm:
 Kí duyệt tuần 20 ngày 6.1.2021
 Tổ trưởng
 ND, HT:
 PP: 
 Nguyễn Thị Đinh Thế Lữ- Người khai sáng phong trào Thơ mới
Thế Lữ trước sau vẫn được coi là người cách tân số một của thơ Việt Nam thế kỷ XX. Có 
ông, thơ Việt yên tâm khép lại cổ điển mà mở vào lãng mạn.
Tròn trăm năm tính từ năm 1907, đầu năm (20-1) Tú Xương tạ thế (theo ngày âm là rằm 
tháng chạp Bính Ngọ, Thành Thái thứ 18) và gần cuối năm (6-10) Thế Lữ ra đời. Lúc ấy 
không ai nghĩ rằng hai con người có năm mất năm sinh kế nhau ấy lại là mối giao nhau 
tiêu biểu của hai thời đại thơ ca dân tộc. (Khoảng giữa bài thơ cuối của Tú Xương và bài 
thơ đầu của Thế Lữ có thể kể đến các bài thơ của Tản Đà. Tản Đà có 18 năm thở chung khí 
quyển với Tú Xương và 32 năm chung với thế Lữ).
Thế Lữ (1907-1989) tên thật là Nguyễn Thứ Lễ. Thứ Lễ đọc lái đi thì thành Thế Lữ và có 
nghĩa là cái quán trọ của đời người (coi đời người như quán trọ?). Sinh ra ở Hà Nội, trải 
qua tuổi thơ ở Lạng Sơn, nơi cho ông những ấn tượng thâm u của truyện đường rừng và 
của thơ nhớ rừng sau này. 9 tuổi về Hải Phòng học trung học. Năm 23 tuổi thi vào trường 
Mỹ thuật nhưng thôi học ngay năm đầu. Sau đó viết truyện và làm thơ. Truyện của ông 
hấp dẫn vì tính chất bí ẩn và suy luận trinh thám. Từ năm 1942 ông sang kịch và ở lại đó 
cho đến khi mất. Đóng góp của ông cho sân khấu kịch nói là tư cách khai sáng cho bộ môn 
này.
Về thơ, trong khoảng 7 năm sáng tác (1933-1941) chỉ in có hai tập, đúng ra là một 
tập, Mấy vần thơ (1935) sau bổ sung thành Mấy vần thơ Tập mới (1941) nhưng lại có ý 
nghĩa khai sinh một chặng phát triển mới cho cả nền thơ Việt. Ông là người khởi xướng 
thành công phong trào Thơ Mới. Đầu những năm 30, thơ cũ theo luật Đường không còn đủ 
sức phô diễn những tình cảm mới. Ngay Tản Đà cũng đã phải có những yếu tố cách tân. 
Đến năm 1932 thì một loạt thi sĩ mang vào thơ những thay đổi cả vể nội dung lẫn hình 
thức. Những cuộc tranh luận giữa mới cũ diễn ra sôi nổi. Thế Lữ không tham gia tranh 
luận mà lặng lẽ làm thơ theo lối mới. Khi tập Mấy vần thơcủa ông ra đời thì phái thơ cũ 
không còn lý lẽ để công kích thơ mới nữa. Với Thế Lữ, lần đầu công chúng thơ được nếm 
một thi vị hoàn toàn mới mẻ, một dạng xúc động mới, một chất tâm hồn mới. Ngôi thứ đầu 
bảng của Thế Lữ đã được công nhận ngay từ những năm ấy và thể hiện khá rõ khi nhìn lại 
trình tự xuất hiện các tập thơ tiêu biểu:
- Năm 1935: Mấy vần thơ của Thế Lữ
- Năm 1937: Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Điêu tàn của Chế Lan Viên và bốn bài của 
TTKh trên Tiểu thuyết thứ bảy
- Năm 1938: Thơ thơ của Xuân Diệu
- Năm 1940: Lửa thiêng của Huy Cận và Thơ say của Vũ Hoàng Chương
Điều có ý nghĩa với hôm nay, khi thơ đương thời cũng đang có nhu cầu đổi mới, đổi mới 
trong nội dung và cả cách làm ra nội dung ấy, là thấy rõ hơn cái khoảng cảm xúc mà Thế 
Lữ đã mở ra, cái cách ông nới rộng thêm hồn thơ và từ đó mà thay đổi bút pháp. Cảm hứng của thơ cổ điển, tạm lấy cụ thể một Tú Xương khi ấy, thường phát sinh từ những chuyện 
đời, việc người của cuộc sống vật chất cụ thể bao quanh tác giả. Một cảnh “Bức sốt mà 
mình vẫn áo bông”, một nỗi lòng thương vợ dội lên từ tình cảnh “Quanh năm buôn bán ở 
mom sông” Ngay với những đề tài tưởng đã là tâm trạng lắm, hư ảo lắm như tiếng gọi 
đò ban đêm bên con sông đã lấp thì vẫn cứ tựa vào sự kiện thực là con sông Lấp và rộng 
hơn, là một cõi lòng công dân vừa mất nước. Thơ cứ phải “Có tích mới dịch nên tuồng”. 
Và từ tích nên tuồng, thơ hình thành qua một hệ thống thao tác tư duy hợp lôgíc, hợp quy 
luật tâm lý, hướng tới ý tưởng toàn cục, giữ tính nhất quán trên dưới, cân đối trước sau. 
Tính quy phạm của bút pháp dù tự nhiên, hồn nhiên vẫn luôn luôn được tôn trọng. Mà đấy 
chính là tài năng của các nhà thơ cổ điển. Tú Xương dù đã là một cá tính phóng túng, một 
tính cách đã gần lắm với người thị thành hiện đại, thế mà ngay cả trong những bài thơ bỡn 
cợt, hóm hỉnh ví dụ như bài Ngày xuân bỡn làng thơ:
Ngày ba tháng tám thấy đâu mà
Sao đến ngày xuân lắm thế a
Ý hẳn thịt xôi lèn chặt dạ
Cho nên con tự mới thòi ra
vẫn giữ đầy đủ những quy luật của tư duy thơ quy phạm với cách biểu hiện tung hứng 
nhân quả, đối ứng tề chỉnh.
Cảm hứng thơ Thế Lữ không còn như thế nữa. Ông không phản ánh hiện thực, ông chỉ 
phản ánh tâm hồn mình. Mà cái cõi tâm hồn ấy không phải lúc nào cũng cứ phải liên hệ 
chằng chằng với hiện thực, như bóng với hình. Nó có những so le, những trái khoáy rất 
không quy luật với cái hiện thực cụ thể của khoảnh khắc ấy như thuộc tính vốn có của tâm 
hồn con người. Bài thơ cất lên tự một cõi riêng, nhiều khi không dính trực tiếp một - một 
với thời sự cơm áo gạo tiền, hay với cõi rộng xa vận nước. Mối liên hệ của tâm và sự trong 
Thế Lữ, nếu có cũng cách bức hơn nhiều, biện chứng phức tạp hơn nhiều. Nhiều lúc ngỡ 
như chuyện trên giời, xa đời, xa mặt đất, bất ngờ và đầy biến hoá. Do vậy ở vào thời kỳ 
nhu cầu dùng thơ làm nhiệm vụ thông tin, cổ động, tổ chức công chúng thành cấp bách, thì 
người đời không ưa lắm, thậm chí chế giễu tính vô dụng của thứ thơ lơ mơ này. Xin đơn 
cử một ví dụ ngẫu nhiên, bài Tiếng trúc tuyệt vời. Nghe tiếng sáo trúc tác giả cảm nhận 
“như khua động nỗi nhớ nhung, thương tiếc”. Thơ phát triển đến đây thì cả cổ điển lẫn 
lãng mạn như nhau. Nhưng khi tác giả “buộc” nỗi nhớ nhung thương tiếc vào cái cô vu vơ 
nào đứng bên hồ kia, ông đoán chắc cô đang nghĩ ngày vui sẽ mất, sắc đẹp sẽ tàn phai. Rồi 
cô man mác, cô bâng khuâng, cô tê tái, cô thổn thức. Ông tác giả lại muốn nâng “tấm khăn 
hồng lau mắt lệ” cho cô. Lau mắt lệ mà không chỉ vì nước mắt, mà chính “vì ta sợ má đào 
kia phai” thì đa sự quá, chiếu vào đời thực thì nó là hành động của anh dở người. Nó phi 
thực. Đặc điểm chủ yếu của chủ nghĩa lãng mạn chính là phi thực, phóng túng theo cơn 
tưởng tượng của tình cảm, không còn lý trí kiểm tra. Nghe tiếng sáo, thấy buồn thì khóc, 
thấy người đẹp khóc thì phải xông vào mà lau nước mắt cho người ta mà khăn tay cứ phải 
màu hồng (“Khóc như em mấy khăn hồng chả phai” - Nguyễn Bính). Lau nước mắt cho 
người rồi mình cũng mưa gió khóc theo. Những tâm hồn kiểu ấy trước Thế Lữ không có 
trong thơ Việt. Thế sao bây giờ lại xuất hiện? Ai đặt hàng những mẫu tâm hồn ấy mà thơ 
lại chế tác ra và được xã hội tiếp nhận?
Tiếng súng xâm lược đầu tiên bắn vào Đà Nẵng 1858. Thành Hà Nội thất thủ lần thứ hai 
1883. Hoà ước mất nước, triều đình Huế kí năm 1884. Kẻ xâm lược bắt tay vào giai đoạn khai thác. Ở thành thị, phố chợ, nhịp sống tao loạn chuyển dần sang cuộc sống đời thường 
lo ăn lo làm, phát triển, lo thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người. Để cải 
thiện cuộc sống tinh thần của chính mình, con người tìm mọi cách. Có tôn giáo và có cả 
mê tín. Có nghệ thuật và đặc biệt là nghệ thuật mơ mộng. Hình thành nhu cầu mơ mộng để 
chí ít hưởng thụ trong cõi tinh thần. Đó cũng là kinh nghiệm của nhân loại. Xã hội Việt 
Nam ta lúc đó, hình thành lớp người có nhu cầu đó thì kinh nghiệm đó nhập vào, tự phát 
lẫn tự giác nhập vào mà hình thành chủ nghĩa lãng mạn cho thơ. Tác động của hiện thực 
tới thơ là tác động qua tâm trạng và đấy là tác động qua tâm trạng và đấy chính là cái cách 
đê thơ trở nên nhân văn hơn, thương xót con người hơn.
Thưởng thức Thế Lữ và cũng để thấy những khai phá của Thế Lữ trong thơ lãng mạn Việt 
Nam, chúng ta nên hình dung lại những đòi hỏi tinh thần của lớp người có học trong các 
nơi đô hội thời ấy. Một đòi hỏi mơ hồ nhưng bức thiết. Trong tình cảnh ấy, sự đáp ứng của 
chủ nghĩa lãng mạn là có ý nghĩa. Nó có sức giải toả những ngột ngạt bức bách, nó nâng 
cấp tâm hồn con người. Không nên coi lãng mạn là bài ca đánh lừa, ru ngủ cơn đói cơn 
đau. Lãng mạn làm người ta bớt đau và mở rộng lòng yêu. Yêu cái đẹp của thiên nhiên, đất 
nước, lòng người. Cụ Hồ Chí Minh năm 1942-1943 trên đường tội tù xiềng xích cũng đã 
vận dụng chủ nghĩa lãng mạn để tự vui đời, bài Trên đường (Lộ thượng), bản dịch:
Mặc dù bị trói chân tay
Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng
Vui say ai cấm ta dừng
Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu.
Chân tay bị trói thì hãy tìm chỗ kẻ thù không trói được (ở đây là thính giác, khứu giác, ở 
chủ nghĩa lãng mạn là mơ mộng) mà hưởng thụ tinh hoa cuộc sống, mà tự diệt khổ. Thơ 
Cụ Hồ ở bài này là cổ điển nhưng lại ca ngợi chủ nghĩa lãng mạn trong cuộc sống, coi nó 
như một cánh cửa mở vào tự do.
Thế Lữ đã có cách lắng nghe kỳ diệu những tiếng vọng mơ hồ đầy gợi cảm trong tâm hồn 
lớp người tuổi trẻ, những tiếng vọng hình thành từ những đổi thay của lối sống, của lối 
nghĩ, cách vui buồn. Mà những đổi thay này bắt nguồn từ những đổi thay của thời thế, 
không cưỡng được. Thế Lữ đã phát hiện và diễn tả được cái tâm trạng bâng khuâng man 
mác (cụm từ này xuất hiện trong nhiều câu thơ của Thế Lữ và Xuân Diệu đã tách nó ra để 
chỉ thuộc tính của thơ Thế Lữ) của những người vừa tách ra khỏi cái tập thể chung chung 
mù mờ cảm giác của chế độ phong kiến già nua để tìm lại cá tính thiên nhiên, tìm lại cảm 
xúc riêng tư của con người. Tâm trạng phổ biến của những con người ấy là nỗi bâng 
khuâng khi đối diện mình với khoảng xa rộng của không gian, của đời người, của hạnh 
phúc lứa đôi. Đó là đòi quyền tồn tại của cái cá thể dưới mặt trời. Thế Lữ thường kí thác 
niềm bâng khuâng mơ hồ ấy vào cuộc sống trôi dạt một khách chinh phu “mũ lợt bốn trời 
sương nắng gội”, hoặc vào đời một nghệ sĩ “tìm mộng vàng trên cảnh lộng trời mây” cao 
quý và đói khổ. Đừng tìm nguyên nhân những đau khổ trong thơ lãng mạn trực tiếp từ xã 
hội. Đau khổ sầu muộn sinh ra từ tâm trạng và nương tựa vào những nhân tố rất vu vơ bất 
ngờ, không quy luật: “Hay đâu cơn gió lạ đâu đâu/ Thổi lại cho em những mối sầu”. Sự 
lắng nghe những gợn nhỏ bé của tâm trạng ấy chính là dấu hiệu to lớn của một thời đại thi 
ca mới.
Thế Lữ đắm say trong những cảm xúc lãng mạn, ông tạo dựng bồng lai và tự kinh ngạc trước vẻ đẹp thần thoại do chính hồn mình tạo dựng:
Trời cao xanh ngắt - Ô kìa!
Hai con hạc trắng bay về bồng lai.
 (Tiếng sáo Thiên Thai)
Và:
Ái ân bờ cỏ ôm chân trúc
Sau trúc, ô kìa! Xiêm áo ai?
 (Vẻ đẹp thoáng qua)
Trời xanh hạc trắng ấy là phi thực. Xiêm áo trút sau tre ấy cũng chỉ trong cõi mộng. Hãy 
lấy mơ và mộng, càng hư ảo càng dễ cảm thụ cõi tinh vi huyền diệu của thơ Thế Lữ. Thói 
quen cảm nhận phẩm chất thơ quá câu nệ vào hiện thực, có thể dẫn đến những suy diễn 
lệch lạc về thơ Thế Lữ. Tôi xin phép mạnh dạn thú nhận một băn khoăn của riêng mình về 
cách hiểu bài thơ vào loại hay nhất của Thế Lữ, bài Nhớ rừng.
Bài thơ mượn lời con hổ ở vườn Bách thú “gặm một khối căm hờn trong cũi sắt” nằm nhớ 
cảnh rừng xưa, thuở hổ tự do tung hoành giữa cõi “sơn lâm bóng cả cây già/ Với tiếng gió 
gào ngàn, với giọng nguồn hét núi”. Hình bóng chúa sơn lâm được đặc tả, đẹp và oai, rất 
tạo hình, bắt đầu là bàn chân chắc nặng móng vuốt dũng mãnh, sau là tấm thân sóng cuộn 
đường hoàng. Cảnh sống oai hùng và thơ mộng của chúa sơn lâm đầy chi tiết tráng lệ, phi 
thường trong hơi thơ anh hùng ca âm vang hào sảng. Nghệ thuật của thi pháp Thơ mới như 
ở đoạn giữa bài thơ này thì không một tài năng cổ điển nào bài xích nổi. Say đắm thơ, say 
đắm tâm hồn yêu tự do của loài hổ, không ít nhà nghiên cứu khẳng định mối tương quan 
của thân phận con hổ trong chuồng sắt với thân phận mất độc lập tự do của dân tộc ta: 
“Vận vào những cái “Thời oanh liệt” đầy những chiến công chói lọi của Lý Thường Kiệt, 
Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung thì lại càng thấy hùng tráng và tự hào. Càng nhớ 
đến “thời oanh liệt” càng thấy uất ức phải bị tù hãm, xung quanh toàn là những cái tầm 
thường nhỏ nhen ngang trái của người dân mất nước, và nhiều nhà nghiên cứu đã có lí khi 
xếp nó (tức bài Nhớ rừng- VQP) vào xu hướng lãng mạn cách mạng rất hiếm hoi trước 
Cách mạng tháng Tám”.
Hãy đọc bài thơ, nếu con hổ nhớ rừng là biểu hiện khát vọng tự do của dân ta trong cảnh bị 
người đô hộ, thì giải thích ra sao tính thống nhất của hình tượng, khi chính con hổ ấy lại 
đầy tham vọng thống trị khắc nghiệt tàn bạo cả muôn loài:
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi
Ta biết ta chúa tể cả muôn loài.
Bài Nhớ rừng thực chất là một tuyên ngôn của chủ nghĩa lãng mạn, không chấp nhận cái 
tầm thường (“Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng/ Dải nước đen giả suối chẳng thông 
dòng/ Len dưới nách những mô gò thấp kém...”) để đòi cái phi thường, phi thực (“Với tiếng 
gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi” hoặc với “những đêm vàng bên bờ suối/ Ta say 
mồi đứng uống ánh trăng tan” và “những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn/ Ta lặng 
ngắm giang san ta đổi mới” ). Thế giới lãng mạn của Thế Lữ gần với tiên cảnh, gần với 
Thiên Thai, với “Tiên nga xoã tóc bên nguồn”, với “Ngọc nữ uốn mình trong không”. Tạng lãng mạn của ông là vậy. Người đọc nên nhập gia tuỳ tục, đừng ép ông phải chặt 
cánh phóng túng của cơn mơ để vừa với cái khuôn thực dụng của thời mình.
Trong cách kết cấu bài thơ, cách làm câu, Thế Lữ xuất phát từ nhiều điệu thơ dân tộc lăn 
lóc trong văn học dân gian, kết hợp với kỹ thuật thơ Pháp mà dấu tích khá rõ trong lối thơ 
vắt dòng để tạo nên thể thơ uyển chuyển biến hoá không cùng theo tâm trạng, đáp ứng 
được mong ước của Tản Đà hồi nào “phá cách vứt điệu luật”.
Nghệ thuật ngôn ngữ, âm điệu, hình ảnh ở Thế Lữ đã đạt tới độ tinh xảo đủ để chuyên 
chở cái cõi mộng của hồn ông. Hơn hai phần ba thế kỷ đi qua, nay đọc lại vẫn còn nguyên 
mới mẻ.
Tả âm thanh:
Êm như hơi gió thoảng cung tiên
Cao như thông vút, buồn như liễu
Nước lặng, mây ngừng, ta đứng yên
 (Tiếng gọi bên sông)
Lưu khoảnh khắc:
Mây hồng ngừng lại sau đèo
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi
 (Tiếng sáo Thiên Thai)
Thế Lữ không đi tận cùng với thơ. Những nhà thơ xuất hiện sau ông, được ông giới thiệu, 
nâng đỡ đã có những thành tựu vượt qua ông. Xuân Diệu mơ mộng, say đắm nhưng không 
cần lên tiên, cứ gắn vào mặt đất mà nồng nàn, càng nồng. Huy Cận vừa thâm trầm vừa 
rộng xa, từ hoa đại lãng mạn mà nhập vào triết học, lấy cảm xúc đo kích thước của hư 
vô Nhưng Thế Lữ trước sau vẫn được coi là người cách tân số một của thơ Việt Nam thế 
kỷ XX. Có ông, thơ Việt yên tâm khép lại cổ điển mà mở vào lãng mạn. Kinh nghiệm cách 
tân thành công của ông xuất phát từ đáp ứng yêu cầu đích thực của tâm hồn con người thời 
ông và kết thúc bằng sức thuyết phục của tài năng ông. PHONG TRÀO THƠ MỚI (1932 – 1945)
 Trong những năm đầu thập kỷ thứ ba của thế kỷ trước xuất hiện một dòng thơ ca thuộc 
khuynh hướng lãng mạn. Đó là Thơ mới (hay còn gọi là Thơ mới lãng mạn). Thơ mới là 
một cuộc cách mạng thơ ca trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc ở thế kỷ 20. Sự xuất 
hiện của Thơ mới gắn liền với sự ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945. Phong trào 
thơ mới đã mở ra “một thời đại trong thi ca” 1, mở đầu cho sự phát triển của thơ ca Việt 
Nam hiện đại.
I- Hoàn cảnh lịch sử xã hội.
Một trào lưu văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất định của lịch sử xã 
hội. Bởi nó là tiếng nói, là nhu cầu thẩm mỹ của một giai cấp, tầng lớp người trong xã hội. 
Thơ mới là tiếng nói của giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Sự xuất hiện của hai giai cấp này 
với những tư tưởng tình cảm mới, những thị hiếu thẩm mỹ mới cùng với sự giao lưu văn 
học Đông Tây là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945.
Giai cấp tư sản đã tỏ ra hèn yếu ngay từ khi ra đời. Vừa mới hình thành, các nhà tư sản dân 
tộc bị bọn đế quốc chèn ép nên sớm bị phá sản và phân hóa, một bộ phận đi theo chủ nghĩa cải lương. So với giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản giàu tinh thần dân tộc và yêu nước 
hơn. Tuy không tham gia chống Pháp và không đi theo con đường cách mạng nhưng họ 
sáng tác văn chương cũng là cách để giữ vững nhân cách của mình.
Cùng với sự ra đời của hai giai cấp trên là sự xuất hiện tầng lớp trí thức Tây học. Đây là 
nhân vật trung tâm trong đời sống văn học lúc bấy giờ. Thông qua tầng lớp này mà sự ảnh 
hưởng của các luồng tư tưởng văn hoá, văn học phương Tây càng thấm sâu vào ý thức của 
người sáng tác.
II- Các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới .
Thơ mới được thai nghén từ trước 1932 và thi sĩ Tản Đà chính là người dạo bản nhạc đầu 
tiên trong bản hòa tấu của Phong trào thơ mới. Tản Đà chính là “gạch nối” của hai thời đại 
thơ ca Việt Nam, được Hoài Thanh – Hoài Chân xếp đầu tiên trong số 46 tên tuổi lớn của 
Phong trào thơ mới. Và đến ngày 10-3-1932 khi Phan Khôi cho đăng bài thơ “Tình già” 
trên Phụ nữ tân văn số 22 cùng với bài tự giới thiệu “Một lối thơ mới trình chánh giữa 
làng thơ” thì phát súng lệnh của Phong trào thơ mới chính thức bắt đầu.
 Có thể phân chia các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới thành ba giai đọan2:
1- Giai đoạn 1932-1935:
Đây là giai đoạn diễn ra cuộc đấu tranh giữa Thơ mới và “Thơ cũ”. Sau bài khởi xướng 
của Phan Khôi, một loạt các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đình 
Liên liên tiếp công kích thơ Đường luật, hô hào bỏ niêm, luật, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ 
 Trong bài “Một cuộc cải cách về thơ ca” Lưu Trọng Lư kêu gọi các nhà thơ mau chóng 
“đem những ý tưởng mới, những tình cảm mới thay vào những ý tưởng cũ, những tình cảm 
cũ”. Cuộc đấu tranh này diễn ra khá gay gắt bởi phía đại diện cho “Thơ cũ” cũng tỏ ra 
không thua kém. Các nhà thơ Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Duy Từ, Nguyễn Văn 
Hanh phản đối chống lại Thơ mới một cách quyết liệt. Cho đến cuối năm 1935, cuộc đấu 
tranh này tạm lắng và sự thắng thế nghiêng về phía Thơ mới.
Ở giai đoạn đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào thơ mới với tập Mấy vần 
thơ (1935). Ngoài ra còn có sự góp mặt các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, 
Vũ Đình Liên 
2- Giai đoạn 1936-1939:
Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ưu thế tuyệt đối so với “Thơ cũ” trên nhiều bình diện, 
nhất là về mặt thể loại. Giai đọan này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn như Xuân Diệu (tập Thơ 
thơ -1938), Hàn Mặc Tử (Gái quê -1936, Đau thương -1937), Chế Lan Viên (Điêu tàn – 
1937), Bích Khuê (Tinh huyết – 1939), Đặc biệt sự góp mặt của Xuân Diệu, nhà thơ 
“mới nhất trong các nhà thơ mới”, vừa mới bước vào làng thơ “đã được người ta dành 
cho một chỗ ngồi yên ổn”3 . Xuân Diệu chính là nhà thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn này.
Vào cuối giai đoạn xuất hiện sự phân hóa và hình thành một số khuynh hướng sáng tác 
khác nhau. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này được giải thích bằng sự khẳng định của 
cái Tôi. Cái Tôi mang màu sắc cá nhân đậm nét đã mang đến những phong cách nghệ 
thuật khác nhau cả về thi pháp lẫn tư duy nghệ thuật. Và khi cái Tôi rút đến sợi tơ cuối 
cùng thì cũng là lúc các nhà thơ mới đã chọn cho mình một cách thoát ly riêng. 3- Giai đoạn 1940-1945:
Từ năm 1940 trở đi xuất hiện nhiều khuynh hướng, tiêu biểu là nhóm Dạ Đài gồm Vũ 
Hoàng Chương, Trần Dần, Đinh Hùng ; nhóm Xuân Thu Nhã Tập có Nguyễn Xuân 
Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung ; nhóm Trường thơ Loạn có Chế Lan Viên, Hàn 
Mặc Tử, Bích Khê, 
Có thể nói các khuynh hướng thoát ly ở giai đọan này đã chi phối sâu sắc cảm hứng thẩm 
mỹ và tư duy nghệ thuật trong sáng tác của các nhà thơ mới. Giai cấp tiểu tư sản thành thị 
và một bộ phận trí thức đã không giữ được tư tưởng độc lập đã tự phát chạy theo giai cấp 
tư sản. Với thân phận của người dân mất nước và bị chế độ xã hội thực dân o ép, họ như 
kẻ đứng ngã ba đường, sẵn sàng đón nhận những luồng gió khác nhau thổi tới. Bên cạnh 
đó, một bộ phận các nhà thơ mới mất phương hướng, rơi vào bế tắc, không lối thoát.
III- Những mặt tích cực, tiến bộ của Phong trào thơ mới
Đánh giá Phong trào thơ mới, nhà thơ Xuân Diệu nhận địnhh “Thơ mới là một hiện tượng 
văn học đã có những đóng góp vào văn mạch của dân tộc” “ Trong phần tốt của nó, 
Thơ mới có một lòng yêu đời, yêu thiên nhiên đất nước, yêu tiếng nói của dân tộc”. Nhà 
thơ Huy Cận cũng cho rằng “Dòng chủ lưu của Thơ mới vẫn là nhân bản chủ nghĩa” 
“Các nhà thơ mới đều giàu lòng yêu nước, yêu quê hương đất nước Việt Nam. Đất nước 
và con người được tái hiện trong Thơ mới một cách đậm đà đằm thắm”4.
1- Tinh thần dân tộc sâu sắc
Thơ mới luôn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do. Ở thời kỳ đầu, tinh 
thần dân tộc ấy là tiếng vọng lại xa xôi của phong trào cách mạng từ 1925-1931 (mà chủ 
yếu là phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu và cuộc khởi nghĩa Yên Bái). Nhà thơ Thế 
Lữ luôn mơ ước được “tung hoành hống hách những ngày xưa” (Nhớ rừng); Huy Thông 
thì khát khao:
“Muốn uống vào trong buồng phổi vô cùng
Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng”.
Tinh thần dân tộc của các nhà thơ mới gửi gắm vào lòng yêu tiếng Việt. Nghe tiếng ru của 
mẹ, nhà thơ Huy Cận cảm nhận được “hồn thiêng đất nước” trong từng câu ca:
“Nằm trong tiếng nói yêu thương
Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời”.
Có thể nói, các nhà thơ mới đã có nhiều đóng góp, làm cho tiếng Việt không ngày càng 
trong sáng và giàu có hơn.
Ở giai đoạn cuối, tinh thần dân tộc chỉ còn phảng phất với nỗi buồn đau của ngưòi nghệ sĩ 
không được tự do (Độc hành ca, Chiều mưa xứ Bắc của Trần Huyền Trân, Tống biệt hành, 
Can trường hành của Thâm Tâm) 
2- Tâm sự yêu nước thiết tha
Có thể nói, tinh thần dân tộc là một động lực tinh thần để giúp các nhà thơ mới ấp ủ lòng 
yêu nước. Quê hương đất nước thân thương đã trở thành cảm hứng trong nhiều bài thơ. Đó là hình ảnh Chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp (Em đi Chùa Hương); hình ảnh 
làng sơn cước vùng Hương Sơn Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận (Đẹp xưa); hình ảnh làng chài 
nơi cửa biển quê hương trong thơ Tế Hanh (Quê hương) v.v Các thi sĩ đã mang đến cho 
thơ cái hương vị đậm đà của làng quê, cái không khí mộc mạc quen thuộc của ca dao: 
Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông, 
mái đình, gốc đa, bến nước, giậu mồng tơi, cổng làng nắng mai, mái nhà tranh đã gợi lên 
sắc màu quê hương bình dị, đáng yêu trong tâm hồn mỗi người Việt Nam yêu nước.
Bên cạnh những mặt tích cực và tiến bộ nói trên, Phong trào thơ mới còn bộc lộ một vài 
hạn chế. Một số khuynh hướng ở thời kỳ cuối rơi vào bế tắc, không tìm được lối ra, thậm 
chí thoát ly một cách tiêu cực. Điều đó đã tác động không tốt đến một bộ phận các nhà thơ 
mới trong quá trình “nhận đường” những năm đầu sau cách mạng tháng Tám.
IV- Đặc điểm nổi bật của Phong trào thơ mới
 1. Sự khẳng định cái Tôi
Nền văn học trung đại trong khuôn khổ chế độ phong kiến chủ yếu là một nền văn học phi 
ngã. Sự cựa quậy, bứt phá tìm đến bản ngã đã ít nhiều xuất hiện trong thơ Hồ Xuân 
Hương, Nguyễn Công Trứ, Đến Phong trào thơ mới, cái Tôi ra đời đòi được giải phóng 
cá nhân, thoát khỏi luân lí lễ giáo phong kiến chính là sự tiếp nối và đề cao cái bản ngã đã 
được khẳng định trước đó. Đó là một sự lựa chọn khuynh hướng thẩm mỹ và tư duy nghệ 
thuật mới của các nhà thơ mới.
Ý thức về cái Tôi đã đem đến một sự đa dạng phong phú trong cách biểu hiện. Cái Tôi với 
tư cách là một bản thể, một đối tượng nhận thức và phản ánh của thơ ca đã xuất hiện như 
một tất yếu văn học. Đó là con người cá tính, con người bản năng chứ không phải con 
người ý thức nghĩa vụ, giờ đây nó đàng hoàng bước ra “trình làng” (chữ dùng của Phan 
Khôi). Xuân Diệu, nhà thơ tiêu biểu của Phong trào thơ mới lên tiếng trước:
 • “Tôi là con chim đến từ núi lạ ”,
 • “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới” 
Có khi đại từ nhân xưng “tôi” chuyển thành “anh”:
“Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh
 Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!”
 Thoảng hoặc có khi lại là “Ta”:
“Ta là Một, là Riêng là Thứ Nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng ta”.
 “ Thơ mới là thơ của cái Tôi”5. Thơ mới đề cao cái Tôi như một sự cố gắng cuối cùng để 
khẳng định bản ngã của mình và mong được đóng góp vào “văn mạch dân tộc”, mở đường 
cho sự phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại.
2 . Nỗi buồn cô đơn Trong bài “Về cái buồn trong Thơ mới”, Hoài Chân cho rằng “Đúng là Thơ mới buồn, 
buồn nhiều”, “Cái buồn của Thơ mới không phải là cái buồn ủy mị, bạc nhược mà là cái 
buồn của những người có tâm huyết, đau buồn vì bị bế tắc chưa tìm thấy lối ra”6.
Cái Tôi trong Thơ mới trốn vào nhiều nẻo đường khác nhau, ở đâu cũng thấy buồn và cô 
đơn. Nỗi buồn cô đơn tràn ngập trong cảm thức về Tiếng thu với hình ảnh:
“Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô”.
 (Lưu Trọng Lư ).
Với Chế Lan Viên đó là “Nỗi buồn thương nhớ tiếc dân Hời” (tức dân Chàm):
“Đường về thu trước xa xăm lắm
Mà kẻ đi về chỉ một tôi”
Nghe một tiếng gà gáy bên sông, Lưu Trọng Lư cảm nhận được nỗi buồn “Xao xác gà trưa 
gáy não nùng” còn Xuân Diệu lại thấy “Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa”. Về điều 
này, Hoài Chân cho rằng “Xuân Diệu phải là người buồn nhiều, đau buồn nhiều mới viết 
được những câu thơ nhức xương như: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối /Còn hơn 
buồn le lói suốt trăm năm”.
Nỗi buồn cô đơn là cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn. Với các nhà thơ mới, nỗi buồn ấy 
còn là cách giải thoát tâm hồn, là niềm mong ước được trải lòng với đời và với chính 
mình.
 3. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu
Ngay từ khi ra đời, “Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc mới trước cuộc 
đời và trước thiên nhiên, vũ trụ”7. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu đã tạo nên bộ mặt 
riêng cho Thơ mới. Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương sắc, âm thanh, tràn trề sự sống.
Đây là cảnh mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính:
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”.
Và đây là hình ảnh buổi trưa hè:
“Buổi trưa hè nhè nhẹ trong ca dao
Có cu gáy và bướm vàng nữa chứ”
(Huy Cận).
Trong thơ Chế Lan Viên có không ít những hình ảnh như:
“Bướm vàng nhè nhẹ bay ngang bóng
Những khóm tre cao rủ trước thành”
tất cả gợi lên hình ảnh quê hương bình dị, thân thuộc với mỗi người Việt Nam. Những cung bậc của tình yêu đã làm thăng hoa cảm xúc các nhà thơ mới. “Ông hoàng của 
thơ tình” Xuân Diệu bộc bạch một cách hồn nhiên:
“Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá
Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”.
 Chu Văn Sơn cho rằng “Xuân Diệu coi tình yêu như một tôn giáo” nhưng là một “thứ tôn 
giáo lãng mạn, tôn giáo nghệ sĩ”8.
Khác với Xuân Diệu, nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận thân phận bằng nỗi cô đơn sầu não:
 “Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”.
Cảm xúc ấy không phải là một ngoại lệ. Nhà thơ Huy Cận cho rằng “Cái đẹp bao giờ cũng 
buồn” (Kinh cầu tự) và cảm nhận được sự tận cùng của nỗi buồn cô đơn “sầu chi lắm, trời 
ơi, chiều tận thế”. Nhà thơ triết lý về điều này một cách sâu sắc:
“Chân hết đường thì lòng cũng hết yêu”.
 4. Một số đặc sắc về nghệ thuật
Thơ mới là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước 
nhà những năm đầu thế kỉ XX với những cuộc cách tân nghệ thuật sâu sắc.
Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách một cách phóng túng nhưng dần dần trở về với 
các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ lục bát. Các bài thơ 
ngũ ngôn có Tiếng thu (Lưu Trọng Lư), Ông Đồ (Vũ Đình Liên), Em đi chùa 
Hương (Nguyễn Nhược Pháp) Các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, 
T.T.KH chủ yếu viết theo thể thơ thất ngôn, còn Nguyễn Bính, Thế Lữ lại dùng thể thơ lục 
bát v.v 
Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần (độc vận) mà dùng nhiều 
vần như trong thơ cổ phong trường thiên: vần ôm, vần lưng, vần chân, vần liên tiếp, vần 
gián cách hoặc không theo một trật tự nhất định:
“Tiếng địch thổi đâu đây
Cớ sao nghe réo rắt
Lơ lửng cao đưa tận chân trời xanh ngắt
Mây bay gió quyến, mây bay
Tiếng vi cút như khoan như dìu dặt
Như hắt hiu cùng hơi gió heo may”
 (Thế Lữ).
Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo nên cho Thơ mới một nhạc điệu riêng. Đây là những 
câu thơ toàn thanh bằng:
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”
 (Xuân Diệu)
 hay
 “Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng
 Vàng rơi!
 Vàng rơi!
 Thu mênh mông”
 (Bích Khê)
Ngoài việc sử dụng âm nhạc, Thơ mới còn vận dụng cách ngắt nhịp một cách linh hoạt:
 “Thu lạnh / càng thêm nguyệt tỏ ngời
 Đàn ghê như nước / lạnh / trời ơi!” (Xuân Diệu)
Ở một phương diện khác, cuộc cách tân về ngôn ngữ Thơ mới diễn ra khá rầm rộ. Thoát 
khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của “Thơ cũ”, Thơ mới mang đến 
cho người đọc một thế giới nghệ thuật giàu giá trị tạo hình và gợi cảm sâu sắc:
 “Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu
 Lả lả cành hoang nắng trở chiều”
 (Xuân Diệu)
 hay
 “Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng
 Đò biếng lười nằm mặc dưới sông trôi”
 (Anh Thơ)
Sự phong phú về thể loại, vần và nhạc điệu cùng với tính hình tượng, cảm xúc của ngôn 
ngữ đã tạo nên một phong cách diễn đạt tinh tế, bằng cảm giác, bằng màu sắc hội họa của 
thơ mới. Đây là bức tranh “Mùa xuân chín” được Hàn Mặc Tử cảm nhận qua màu sắc và 
âm thanh:
 “Trong làn nắng ửng, khói mơ tan
 Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
 Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên dàn thiên lý. Bóng xuân sang”.
 5. Sự ảnh hưởng của thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp.
Thơ mới ảnh hưởng thơ Đường khá đậm nét. Sự gặp gỡ giữa thơ Đường và Thơ mới chủ 
yếu ở thi tài, thi đề. Các nhà thơ mới chỉ tiếp thu và giữ lại những mặt tích cực, tiến bộ của thơ Đường trong các sáng tác của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Trong bài Tràng 
giang, Huy Cận mượn tứ thơ của Thôi Hiệu để bày tỏ lòng yêu nước:
“Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.
Nếu sự ảnh hưởng thơ Đường làm cho thơ tiếng Việt càng phong phú giàu có thêm, tinh tế 
hơn thì sự ảnh hưởng thơ ca lãng mạn Pháp góp phần cho Thơ mới sáng tạo về thi hứng, 
bút pháp và cách diễn đạt mới lạ, độc đáo. Một trong những nhà thơ đầu tiên chịu ảnh 
hưởng sâu sắc thơ Pháp là Thế Lữ, Huy Thông, về sau là Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Hầu 
hết các nhà thơ mới chịu ảnh hưởng khá sâu sắc chủ nghĩa tượng trưng của thơ ca lãng 
mạn Pháp mà đại biểu là Budelaire, Verlaine, Rimbaud. Sự ảnh hưởng ấy diễn ra trên 
nhiều bình diện: từ cách gieo vần, ngắt nhịp đến cách diễn đạt. Ta có thể tìm thấy điều này 
ở các bài Nguyệt Cầm, Đây mùa thu tới (Xuân Diệu), Đi giữa đường thơm (Huy 
Cận), Màu thời gian (Đoàn Phú Tứ). Một số bài thơ trong tập Tinh huyết (Bích Khê), Thơ 
điên (Hàn Mặc Tử), Thơ say (Vũ Hoàng Chương) chịu ảnh hưởng sâu sắc trường phái suy 
đồi của thơ ca Pháp (các bài thơ Những nguyên âmcủa Rimbaud, Tương hợp của Budelaire 
 ).
Trong bài “Thơ mới-cuộc nổi loạn ngôn từ” Đỗ Đức Hiểu nêu nhận xét về hệ thống ngôn 
từ Thơ mới “Thơ mới là bản hòa âm của hai nền văn hóa xa nhau vời vợi, là bản giao 
hưởng cổ và hiện đại”9. Đó là sự giao thoa tiếng Việt với thơ Đường và thơ ca lãng mạn 
Pháp thế kỷ XIX. Sự ảnh hưởng thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp đối với Phong trào 
thơ mới không tách rời nhau. Điều này cho thấy tác động và ảnh hưởng từ nhiều phía đối 
với Thơ mới là một tất yếu trong quá trình hiện đại hóa thơ ca. Chính sự kết hợp Đông -
Tây nói trên đã tạo nên bản sắc dân tộc và sức hấp dẫn riêng của Thơ mới.
Sau 75 năm, kể từ khi ra đời cho đến nay, Phong trào thơ mới đã có chỗ đứng vững chắc 
trong đời sống văn học dân tộc. Qua thời gian, những giá trị tốt đẹp của Phong trào thơ 
mới Việt Nam 1932-1945 càng được thử thách và có sức sống lâu bền trong lòng các thế 
hệ người đọc.
CHÚ THÍCH:
 • Một thời đại trong thi ca (Thi nhân Việt Nam, Hòai Thanh-Hoài Chân, NXB Giáo 
 dục, Hà Nội, 1993, trang 15)
 • Trong cuốn Văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 (NXB Giáo dục, 2002), Phan 
 Cự Đệ chia làm 2 giai đoạn: 1932-1939 và 1940-1945
 • Thi nhân Việt Nam (Sđd, trang 106)
 • Về Thơ mới (Huy Cận, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, 
 Hà Nội, 2003, trang 12) • Thơ mới, những bước thăng trầm (Lê Đình Kỵ, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1993, trang 
 46)
• Về cái buồn trong Thơ mới (Hoài Chân, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, 
 NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 23)
• Về Thơ mới (Huy Cận, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, 
 Hà Nội, 2003, trang 9)
• Ba đỉnh cao Thơ mới (Chu Văn Sơn- NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 24).
• Thơ mới, cuộc nổi loạn của ngôn từ (Đỗ Đức Hiểu, Nhìn lại một cuộc cách mạng 
 trong thơ ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 142).

Tài liệu đính kèm:

  • docgiao_an_nang_cao_ngu_van_9_tiet_20_nam_hoc_2020_2021.doc