Giáo án Ngữ văn Lớp 9 - Tuần 15 - Năm học 2020-2021

doc 18 trang Người đăng Hàn Na Ngày đăng 13/12/2025 Lượt xem 8Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Ngữ văn Lớp 9 - Tuần 15 - Năm học 2020-2021", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 Tuần 15 Ngày soạn 08/12/2020 
 Tiết: 80,83,84,85,86,87
 Tiết 80: 
 ÔN TẬP TẬP LÀM VĂN
 I. Mục tiêu:
 1. Kiến thức, kĩ năng, thái độ
 Kiến thức: 
 - Khái niệm văn bản thuyết minh và văn bản tự sự.
 - Sự kết hợp các phương thức biểu đạt trong văn bản thuyết minh và văn bản tự sự.
 - Hệ thống văn bản thuộc kiểu văn bản thuyết minh và văn bản tự sự đã học.
 Kỹ năng:
 - Tạo lập văn bản thuyết minh và văn bản tự sự
 - Vận dụng kiến thức đã học để đọc- hiểu văn bản thuyết minh và văn bản tự sự.
 Thái độ: Có ý thức học tập, ôn tập tốt để chuẩn bị kiểm tra HKI
 2. Phẩm chất năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh:
 - Năng lực tự học, đọc hiểu văn bản.
 - Năng lực nêu và giải quyết vấn đề, sáng tạo.
 II. Chuẩn bị:
 - Giáo viên: Giáo án - Sgk và sgv, chuẩn kiến thức. 
 - Học sinh: Chuẩn bị bài trước.
 III. Tổ chức các hoạt động dạy học:
 1. Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số.
 2. Kiểm tra bài cũ (2 phút): Kiểm tra bài soạn.
 3. Bài mới: 
 Cách thức tổ chức hoạt 
 Sản phẩm của HS Kết luận của giáo viên
 động
Hoạt động 1: Hoạt động tìm hiểu thực tiễn: Khởi động (3 phút)
 Giúp HS tạo tâm thế sẵn sàng để đến với nội dung bài học.
Nội dung: Lời dẫn vào bài mới.
Hoạt động 2: Tìm tòi, tiếp nhận kiến thức: (40 phút)
Mục đích: Khái niệm văn bản thuyết minh và văn bản tự sự. Sự kết hợp các phương thức 
biểu đạt trong văn bản thuyết minh và văn bản tự sự. Hệ thống văn bản thuộc kiểu văn bản 
thuyết minh và văn bản tự sự đã học.
 TIẾT 3
* Kiến thức 8: 8. Sự kết hợp của các phương 
 thức biểu đạt trong văn bản:
Vì sao trong một văn bản có - HS giải thích.
đủ các yếu tố: Miêu tả, nghị – Tên gọi cho một loại văn bản 
luận, biểu cảm mà vẫn gọi là căn cứ vào phương thức biểu đạt 
văn bản tự sự? nào là chính. Bên cạnh phương 
 thức chính bao giờ cũng có các 
 phương thức biểu đạt khác.
 – Trong một văn bản ít có trường hợp một văn bản chỉ vận dụng 
 một phương thức biểu đạt duy 
 nhất.
 - Văn bản tự sự có cả miêu tả, 
 biểu cảm, nghị luận và nếu tự sự 
 là chính thì vẫn là văn bản tự sự: 
 Tự sự sẽ chi phối các yếu tố khác 
 phụ trợ cho nó.
* Kiến thức 10: 10. Học sinh làm bài tập làm 
 văn đảm bảo về bố cục:
Vì sao học sinh làm bài tập - HS thảo luận
làm văn đảm bảo về bố cục? Vì :
 - Học sinh đang tập tạo lập văn 
 bản nên cần phải rèn đúng với 
 chuẩn mực, khuôn mẫu
 - Chỉ sáng tạo khi đã nắm thành 
 thạo các quy chuẩn
* Kiến thức 11: 11. Kiến thức và kĩ năng phần 
 văn bản tự sự của Phần Tập 
Vì sao kiến thức và kĩ năng 
 - HS thảo luận làm văn giúp ích nhiều cho việc 
phần văn bản tự sự của Phần Ví dụ: Khi phân tích 
Tập làm văn giúp ích nhiều học các văn bản tự sự phần văn 
cho việc học các văn bản tự truyện ngắn Lặng lẽ Sa học
sự phần văn học? Pa của Nguyễn Thành + Đi vào nội dung ý nghĩa cũng 
 Long ta thấy được vẻ như vẻ đẹp nghệ thuật của tác 
 đẹp của nhân vật anh phẩm
 thanh niên làm trên đỉnh + Thấy được sự kết hợp giữa kể 
 Yên Sơn . và tả
 + Thấy được cách xây dựng 
 tình huống truyện, tính cách nhân 
 vật 
* Kiến thức 12: 12. Những kiến thức, kĩ năng về 
Vì sao những kiến thức, kĩ tác phẩm tự sự của phần Đọc - 
năng về tác phẩm tự sự của Tìm văn bản kể chuyện 
phần Đọc- hiểu văn bản và theo ngôi thứ nhất, ngôi hiểu văn bản và phần tiếng Việt 
phần tiếng Việt tương ứng thứ ba? tương ứng giúp ích nhiều cho 
giúp ích nhiều cho việc viết việc viết văn tự sự
văn tự sự? Ví dụ: Truyện ngắn Làng của Kim 
 Lân sẽ giúp học sinh có thêm hiểu 
 biết về tình huống truyện, trình tự thời gian, tâm lí nhân vật, ngôn 
 ngữ tự sự, ngôn ngữ nhân vật 
 9. Sự kết hợp của các phương thức biểu đạt:
 Kiểu văn bản Tự Miêu Nghị Biểu Thuyết Điều 
Stt
 chính sự tả luận cảm minh hành
 1 Tự sự X X X X
 2 Miêu tả X X X
 3 Nghị luận X X X
 4 Biểu cảm X X X
 5 Thuyết minh X X
 6 Điều hành
 4. Hướng dẫn về nhà, hoạt động tiếp nối: 5 phút 
 - Học bài, làm bài tập ở nhà.
 - Soạn bài mới: Tra bài kiểm Văn.
 IV. Kiểm tra đánh giá chủ đề, bài học
 - GV dự kiến một số câu hỏi, bài tập và tổ chức cho HS tự đánh giá kết quả học 
 tập của bản thân và của bạn: 
 - GV đánh giá, tổng kết về kết quả giờ học: 
 V. Rút kinh nghiệm:
 ..
 ..
 Tiết: 83,84,85,86,87 ÔN TẬP TỔNG HỢP
 I. Mục tiêu:
 1. Kiến thức, kĩ năng, thái độ
 Kiến thức: Ôn tập kiến thức chuẩn bị kiểm tra HKI.
 Kỹ năng: Rèn kỹ năng làm bài theo đề tổng hợp.
 Thái độ: Trân trọng tác phẩm và nhà thơ. Ý thức làm bài trong phòng thi.
 2. Phẩm chất năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh:
 - Năng lực tự học, đọc hiểu văn bản.
 - Năng lực nêu và giải quyết vấn đề, sáng tạo.
 II. Chuẩn bị:
 - Giáo viên: Giáo án - Sgk và sgv, chuẩn kiến thức. 
 - Học sinh: Chuẩn bị bài trước.
 III. Tổ chức các hoạt động dạy học:
 1. Ổn định lớp (1 phút): Kiểm tra sĩ số.
 2. Kiểm tra bài cũ: Không.
 3. Bài mới: 
Cách thức tổ chức hoạt động Sản phẩm của HS Kết luận của giáo viên
Hoạt động 1: Hoạt động tìm hiểu thực tiễn: Khởi động (2 phút)
 Giúp HS tạo tâm thế sẵn sàng để đến với nội dung bài học.
Nội dung: Lời dẫn vào bài mới.
Hoạt động 2: Tìm tòi, tiếp nhận kiến thức: ( 6 tiết)
Mục đích: Ôn tập kiến thức chuẩn bị kiểm tra HKI.
* Kiến thức 1: HDHS ôn lại * CẤU TRÚC ĐỀ THI HK I
các phần kiến thức - Hs theo dõi và hệ I. Đọc hiểu
* Mục đích: Giúp HS ôn nhớ thống hóa kiến thức. Câu 1: Kiến thức về Phương thức 
 biểu đạt (Tự sự, miêu tả, biểu cảm, 
kiến thức.
 thuyết minh, nghị luận)
LƯU Ý: Đoạn văn là không Câu 2: Kiến thức về Tiếng Việt 
được xuống dòng, không được (Các phương châm hội thoại, Cách 
viết như một bài văn thu nhỏ. dẫn trực tiếp )
 Câu 3: Khái quát chủ đề/nội dung 
 chính/vấn đề chính, mà văn bản 
 đề cập. Hiểu được ý nghĩa nhân vật, 
 sự việc xuất hiện trong đoạn 
 văn/văn bản.
 Câu 4: Rút ra bài học thông điệp 
 cuộc sống từ ngữ liệu văn bản.
 II. Tạo lập VB
 Câu 1: Viết đoạn văn trình bày 
 quan điểm của bản thân về một vấn 
 đề đặt ra trong đoạn văn/văn bản.
 Câu 2: Tự sự kết hợp với yếu tố 
 nghị luận, độc thoại và độc thoại 
 nội tâm. * MỘT SỐ KĨ NĂNG KHÁC 
 (Kèm theo đề cương ôn tập)
 - Viết đoạn văn nghị luận
 LƯU Ý: Đoạn văn là không được 
 xuống dòng, không được viết như 
 một bài văn thu nhỏ.
 MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KỲ I NĂM HỌC 2020-2021
 Môn: Ngữ văn. Lớp: 9. Thời gian làm bài: 90 phút
 Chủ đề/Chuẩn KTKN Cấp độ tư duy 
 (Ghi tên bài hoặc chủ đề và (Chỉ ghi số câu/ số điểm)
 chuẩn kiến thức, kĩ năng kiểm 
 Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Vận dụng cao
 tra đánh giá)
I. Đọc hiểu: 3.0 điểm - Nêu phương thức - Hiểu được ý nghĩa từ - Trình bày quan 
- Ngữ liệu: Văn bản nhật dụng/ biểu đạt ngữ, hình ảnh, biện điểm bản thân về 
văn bản văn học/ văn bản, đoạn - Nhận diện được dấu pháp tu từ, phương một vấn đề đặt ra 
trích ngoài SGK. hiệu hình thức và nội châm hội thoại, xuất trong văn bản và 
- Tiêu chí lựa chọn ngữ liệu: 01 dung văn bản bằng hiện trong văn bản/ đoạn trích.
đoạn trích/ văn bản hoàn chỉnh những kiến thức về đoạn trích - Bài học có ý nghĩa 
(tối đa 200 chữ). Tiếng Việt, Văn bản. - Thông điệp đoạn được rút ra cho bản 
 - Chỉ ra phương châm trích/văn bản. thân.
 hội thoại, cách dẫn 
 trực tiếp và gián tiếp, 
 các biện pháp tu từ, 
Tổng số câu: 4 2 1 1
Tổng số điểm: 3.0 1.0 đ 1.0 đ 1.0 đ
Tỉ lệ: 30% 10 10 10
II. Tạo lập văn bản: 7.0 điểm Viết đoạn văn ngắn Viết bài văn tự 
 trình bày suy nghĩ sự có kết hợp 
 của bản thân về một yếu tố nghị 
 vấn đề xã hội đặt ra luận, độc thoại, 
 trong văn bản ở độc thoại nội 
 phần đọc hiểu. tâm.
Tổng số câu: 2 1 1
Tổng số điểm: 7.0 2.0 đ 5.0 đ
Tỉ lệ: 70% 20 50
 2 câu 1 câu 2 câu 1 câu
Tổng: 10.0 điểm
 1.0 điểm 1.0 điểm 3.0 điểm 5.0 điểm
 4. Hướng dẫn về nhà, hoạt động tiếp nối: 5 phút 
 - Học bài, làm bài tập ở nhà.
 - Soạn bài mới: Kiểm tra cuối kì 1.
 IV. Kiểm tra đánh giá chủ đề, bài học
 - GV dự kiến một số câu hỏi, bài tập và tổ chức cho HS tự đánh giá kết quả học 
 tập của bản thân và của bạn: 
 - GV đánh giá, tổng kết về kết quả giờ học: 
 V. Rút kinh nghiệm:
 ĐỀ CƯƠNG ÔN KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I. 
 NĂM HỌC 2020-2021 MÔN: NGỮ VĂN 9
 A. PHẦN TIẾNG VIỆT
* Yêu cầu:
 - Nhớ khái niệm các phương châm hội thoại;
 - Nhớ những cách phát triển của từ vựng.
 - Hiểu và xác định được: Các phương châm hội thoại, nghĩa chuyển và phương thức 
chuyển nghĩa;
 - Hiểu và xác định được từ vựng trong văn cảnh;
 - Nắm được cách chuyển lời dẫn trực tiếp sang gián tiếp.
 - Phân tích giá trị biểu cảm của phép tu từ từ vựng: So sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân 
hóa 
 * NỘI DUNG KIẾN THỨC CƠ BẢN:
1. CÁC PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI ĐÃ HỌC: 
 - Phương châm về lượng: Khi giao tiếp, cần nói cho có nội dung; nội dung của lời 
nói phải đáp ứng đúng yêu cầu của cuộc giao tiếp, không thiêu, không thừa.
 - Phương châm về chất: Khi giao tiếp, đừng nói những điều mà mình không tin là 
đúng hay không có bằng chứng xác thực.
 - Phương châm cách thức: Khi giao tiếp, cần nói ngắn gọn, rành mạch; tránh nói 
mơ hồ.
 - Phương châm quan hệ: Khi giao tiếp, cần nói đúng vào đề tài giao tiếp, tránh nói 
lạc đề.
 - Phương châm lịch sự: Khi giao tiếp, cần tế nhị và tôn trọng người khác.
2. CÁCH PHÁT TRIỂN CỦA TỪ VỰNG VÀ PHƯƠNG THỨC CHUYỂN NGHĨA
- Phát triển nghĩa của từ trên cơ sở nghĩa gốc của chúng: 
 + Theo phương thức ẩn dụ
 Ví dụ: Rối ren tay bí tay bầu
 Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa.
 + Theo phương thức hoán dụ
 Ví dụ: Cũng nhà hành viện xưa nay
 Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người.
- Phát triển số lượng từ ngữ:
 + Tạo từ ngữ mới
 Ví dụ: Kinh tế thị trường; kinh tế tri thức; thị trường chứng khoán....
 + Vay mượn tiếng nước ngoài
 Ví dụ: Tổ quốc; Quốc kì; Biên phòng...
3. THUẬT NGỮ:
 * Khái niệm: Thuật ngữ là những từ biểu thị khái niệm khoa học, công nghệ, 
thường được dùng trong các văn bản khoa học, công nghệ.
 * Đặc điểm:
 - Mỗi thuật ngữ chỉ biểu thị một khái niệm, và ngược lại, mỗi khái niệm chỉ biểu thị 
một thuật ngữ
 - Thuật ngữ không có tính biếu cảm.
4. CÁCH DẪN TRỰC TIẾP, CÁCH DẪN GIÁN TIẾP – CÁCH DẪN TRỰC TIẾP: là nhắc lại nguyên văn lời nói hay ý nghĩ của người 
 hoặc nhân vật; lời dẫn trực tiếp được đặt trong dấu ngoặc kép.
 Ví dụ: Một tiếng đồng hồ sau, cô nói: “Chị Xiu thân yêu ơi, một ngày nào đó em hi 
 vọng sẽ được vẽ vịnh Na-plơ”. (O Hen-ri)
 – CÁCH DẪN GIÁN TIẾP: là thuật lại lời nói hay ý nghĩ của người hoặc nhân 
 vật, có điều chỉnh cho thích hợp; lời dẫn gián tiếp không đặt trong dấu ngoặc kép.
 Ví dụ: Thầy giáo dặn chúng tôi ngày mai đến sớm 15 phút.
 B. VĂN BẢN
 * Yêu cầu:
 - Xác định phương thức biểu đạt.
 - Khái quát chủ đề hoặc nội dung của đoạn trích/văn bản.
 - Trình bày quan điểm bản thân về một vấn đề đặt ra trong văn bản/đoạn trích.
 - Bài học có ý nghĩa được rút ra cho bản thân.
 PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT
 Phương 
Stt Khái niệm Dấu hiệu nhận biết
 thức
 - Dùng ngôn ngữ để kể lại một hoặc một chuỗi 
 - Có sự kiện, cốt truyện
 các sự kiện, có mở đầu -> kết thúc
 - Có diễn biến câu chuyện
 - Ngoài ra còn dùng để khắc họa nhân vật (tính 
 Tự sự - Có nhân vật
 cách, tâm lí...) hoặc quá trình nhận thức của con 
 1 - Có các câu trần thuật/đối thoại
 người
 - Các câu văn miêu tả
 Dùng ngôn ngữ để tái hiện lại những đặc điểm, 
 Miêu tả - Từ ngữ sử dụng chủ yếu là tính 
 2 tính chất, nội tâm của người, sự vật, hiện tượng
 từ
 - Câu thơ, văn bộc lộ cảm xúc 
 Dùng ngôn ngữ bộc lộ cảm xúc, thái độ về thế của người viết
 Biểu cảm
 3 giới xung quanh - Có các từ ngữ thể hiện cảm 
 xúc: ơi, ôi....
 - Các câu văn miêu tả đặc điểm, 
 Thuyết Trình bày, giới thiệu các thông tin, hiểu biết, đặc tính chất của đối tượng
 minh điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng - Có thể là những số liệu chứng 
 4
 minh
 - Có vấn đề nghị luận và quan 
 Bàn bạc phải trái, đúng sai nhằm bộc lộ rõ chủ điểm của người viết
 kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn - Từ ngữ thường mang tính khái 
 Nghị luận
 dắt, thuyết phục người khác đồng tình với ý kiến quát cao (nêu chân lí, quy luật)
 5 của mình - Sử dụng các thao tác: lập luận, 
 giải thích, chứng minh
 Là phương thức giao tiếp giữa Nhà nước với 
 Hành chính nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, - Hợp đồng, hóa đơn...
 - công vụ giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước - Đơn từ, chứng chỉ...
 6
 khác trên cơ sở pháp lí
 Ví dụ: Đọc kĩ đoạn trích sau và trả lời câu hỏi : “Nhân dịp Tết, một đoàn các chú lái máy bay lên thăm cơ quan cháu ở SaPa. 
Không có cháu ở đấy. Các chú lại cử một chú lên tận đây. Chú ấy nói: nhờ cháu có góp 
phần phát hiện một đám mây khô mà ngày ấy, không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực 
Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Đối với cháu, thật là đột ngột, không ngờ lại là như thế. Chú lái 
máy bay có nhắc đến bố cháu, ôm cháu mà lắc: “Thế là một – hòa nhé!”. Chưa hòa đâu 
bác ạ. Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc.”
 Câu hỏi
a. Đoạn trích trên trích từ văn bản nào? Tác giả là ai? Nêu tình huống truyện.
b. Xác định lời dẫn trực tiếp và gián tiếp có trong đoạn trích. Nêu dấu hiệu nhận biết.
c. Tìm ít nhất bốn từ Hán Việt cấu tạo theo mô hình: không + x (Mẫu: không quân)
 D. TẬP LÀM VĂN
* Yêu cầu:
- Nắm cách viết đoạn văn nghị luận vấn đề xã hội.
- Nắm cách làm bài văn tự sự có kết hợp yếu tố miêu tả, tự sự, độc thoại, độc thoại nội 
tâm
1. CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN: 
 - Mở đoạn: Giới thiệu khái quát được nội dung mà đề yêu cầu. (Phải nêu được về 
vấn nghị luận)
 - Thân đoạn
 + Giải thích các cụm từ khóa, giải thích khái niệm (cần khái quát ngắn gọn).
 + Vận dụng các thao tác nghị luận làm rõ vấn đề (phần chính trong đoạn văn).
 + Mở rộng, bàn bạc vấn đề
 - Kết đoạn: Khái quát vấn đề. Rút ra bài học nhận thức và hành động hoặc cũng có 
thể kết lại bằng một thông điệp, một danh ngôn hay câu nói nổi tiếng,...
MẪU:
Bài tập 1: Viết đoạn văn bàn luận câu tục ngữ: “Lá lành đùm lá rách”.
Đoạn văn tham khảo:
 “Lá lành đùm lá rách” gợi lên hình ảnh những lớp lá, chiếc lá lành, chiếc lá rách 
được xếp đặt cạnh nhau để gói các loại bánh lá. Bài học về những chiếc lá gói bánh gợi lên 
một bài học về đạo lí làm người, về quan hệ giữa con người với nhau. Trong cuộc sống, 
con người cần được sự giúp đỡ chia sẻ của người khác, nhất là khi gặp khó khăn. Sự đùm 
bọc lẫn nhau, sự tương thân tương ái, giúp đỡ nhau trong hoạn nạn đã trở thành đạo lí làm 
người. Đây là thái độ “nhường cơm sẻ áo” giữa những người cùng chung cảnh ngộ, trong 
một cộng đồng, trên cùng một đất nước. Tuy “lành”, “rách” khác nhau nhưng cùng là lá. 
Đây không phải là “bố thí” mà là sự chia sẻ, sự thông cảm khi hoạn nạn khó khăn. Con 
người sống trong xã hội không thể lẻ loi, đơn độc một mình. Trong cuộc sống, mỗi người 
cũngcó những hoàn cảnh, khó khăn riêng cần có sự chia sẻ của người khác.
Bài tập 2: Viết một đoạn văn nêu lên vai trò và tác dụng của sách trong đời sống con 
người.
Đoạn văn tham khảo:
 “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới” ( M. goocki). Câu nói ấy hàm chứa 
một ý nghĩa phong phú và một chân lí, một lời khuyên. Sách là kho tàng chứa đựng những 
hiểu biết của con người đã được khám phá, chọn lọc, thử thách, tổng hợp. Sách là nơi kết 
tinh những tư tưởng tiên tiến nhất của thời đại, những hoài bão mạnh mẽ nhất, những tình 
camt tha thiết nhất của con người. Sách khoa học giúp người đọc khám phá ra vũ trụ vô tận với những quy luật của nó. Sách xã hội học giúp ta hiểu biết về đời sống con người trên 
các vùng đất khác nhau với những đặc điểm về kinh tế, lịch sử, văn hoá, những truyền 
thống, những khát vọng. Sách văn học giúp ta hiểu biết về thế giới bên trong của con người 
với những vui buồn, hạnh phúc và đau khổ, khát vọng và tranh đấu, giúp ta phát hiện ra 
chính mình, Những trang sách hay, có ích không chỉ làm tăng thêm hiểu biết, giá trị và 
sức mạnh của mỗi cá nhân mà nó còn phát huy tác dụng kì diệu, “mở rộng những chân trời 
mới” cho cả nhân loại.
Bài tập 3: Viết một đoạn văn về tác hại của một trong các tệ nạn xã hội mà chúng ta 
cần phải kiên quyết và nhanh chóng bài trừ.
Đoạn văn tham khảo:
 Ngày nay xã hội ngày càng tốt đẹp, cuộc sống con người ngàu càng phát triển hơn. 
Nhưng thật đáng buồn, điều đó lại đồng nghĩa với việc các tệ nạn xã hội ngày càng gia 
tăng, mà điển hình là tệ nạn ma tuý đang hoành hành ghê gớm, đục khoét bao gia đình và 
xã hội. Ma tuý là độc dược, ảnh hưởng xấu tới hệ thần kinh của con người. Hậu quả đầu 
tiên mà ma tuý đem lại chính là cho những người sử dụng ma tuý. Những con nghiện dù 
khoẻ mạnh mấy nhưng chỉ sau vài năm nghiện thì cơ thể sẽ tiều tụy, thậm chí đôi khi phải 
trả giá bằng cả mạng sống của mình khi bị “sốc thuốc”! Nhưng kinh khủng hơn, tiêm chích 
ma tuý là con đường ngắn nhất dẫn tới AIDS- người nghiện sớm muộn rồi sẽ chết. Những 
người mẹ, người vợ cho tới những đứa con và mọi người khác trong gia đình người nghiện 
luôn sống trong sự đau khổ, hạnh phúc tan vỡ, của cải đội nón ra đi. Ma tuý kinh khủng là 
thế nhưng chúng ta vẫn có thể phòng trừ nó. Mỗi chúng ta hãy nói “không” với ma tuý; 
hãy biết tự kiềm chế mình, tránh xa ma tuý, tự biết bảo vệ mình. Hơn thế nữa, chúng ta hãy 
nói với mọi người, với gia đình, bạn bè cần biết rõ tác hại của ma tuý. Kiên quyết bài trừ tệ 
nạn ma tuý là nhiệm vụ của mỗi người, mỗi tập thể, của cả xã hội nhằm xây dựng một môi 
trường sống lành mạnh cho con người.
Bài tập 4: Hãy viết một đoạn văn bàn về vấn đề tự học.
Đoạn văn tham khảo:
 Trong quá trình học tập, người ta sử dụng nhiều cách học nhưng quan trọng nhất 
chính là tự học. Học tập là quá trình thu nhận kiến thức, luyện tập kĩ năng do người khác 
truyền lại. Chữ “tự” trong “tự học” đòi hỏi mỗi học sinh phải chủ động tìm kiếm kiến thức, 
dù cho có thầy giáo dẫn dắt hay không. Vậy tự học là chủ động học tập, bằng cách đọc 
sách, suy ngẫm khám phá và phát hiện, biến kiến thức từ sách vở, của người khác thành 
kiến thức của mình. Phải có phương pháp tự học đúng đắn, hợp lí thì mới rút ngắn thời 
gian và đạt kết quả tốt trong học tập. Bản thân chúng ta phải cố gắng tự rèn luyện nghị lực, 
ý chí phấn đấu vươn lên, để đem lại cho bản thân khả năng hiểu biết.
Bài tập 5: Tục ngữ có câu: “Có chí thì nên”. Em hãy viết một đoạn văn để nói lên suy 
nghĩ của mình về lời khuyên đó của nhân dân ta.
Đoạn văn tham khảo:
 Tục ngữ đúc kết trí tuệ, kinh nghiệm của nhân dân trong mọi lĩnh vực của cuộc 
sống. Mỗi câu tục ngữ là một bài học lớn. “Có chí thì nên” là bài học về sự rèn luyện và 
phấn đấu. “Chí” là ý chí, là sự kiên trì, nhẫn nại và quyết tâm. “ Nên” là sự thành công, là 
kết quả cuối cùng của cả quá trình làm việc. Câu tục ngữ khuyên ta khi làm một việc gì đó 
cần có ý chí, nghiã là cần kiên trì, nhẫn nại và có quyết tâm lớn thì việc gì cũng thành công 
cho dù việc đó có khó khăn, vất vả và gian nan, tưởng chừng như không thể hoàn thành 
được. Trong cuộc sống từ xưa tới nay, có biết bao tấm gương tiêu biểu cho tinh thần “có chí thì nên”. Lời khuyên, bài học của ông cha ta được đúc kết từ ngàn đời truyền lại cho 
con cháu hôm nay và mai sau luôn đúng đắn, thiết thực, và nó sẽ có ỹ nghĩa hơn khi ta thực 
hiện tốt lời dạy đó.
2. CÁCH LÀM BÀI VĂN TỰ SỰ KẾT HỢP VỚI YẾU TỐ NGHỊ LUẬN, ĐỐI 
THOẠI, ĐỘC THOẠI NỘI TÂM.
 - Nhân vật, sự việc trong văn bản tự sự.
 - Ngôi kể trong văn bản tự sự.
 - Dàn bài bài văn tự sự.
 - Các yếu tố nghị luận; hình thức độc thoại, độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự.
 ĐỀ 1: KỂ VỀ THẦY CÔ GIÁO MÀ EM KÍNH MẾN.
 BÀI MẪU SỐ 2: CÔ CHỦ NHIỆM MÀ EM KÍNH YÊU
Ca dao, tục ngữ có câu:
 "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
 Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa"
 Đó chính là những câu thơ nói về nghề giáo, nghề mà luôn được yêu quý, kính 
trọng. Tôi rất yêu mến các thầy cô giáo của mình, nhưng người để lại cho tôi những ấn 
tượng sâu sắc nhất chính là cô Kim Anh- cô giáo chủ nhiệm của chúng tôi.
 Cô có mái tóc rất dài, mượt mà, đen nhánh và luôn phảng phất hương thơm. Đôi 
mắt cô to tròn, đen láy, vô cùng cương nghị nhưng cũng không kém phần dịu dàng. Khi 
chúng tôi đạt thành tích cao trong học tập, cô luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến. 
Còn mỗi khi chúng tôi mắc lỗi, đôi mắt cương nghị của cô lại đượm buồn. Đôi bàn tay cô 
thon dài, luôn viết ra những mạch văn giàu cảm xúc để chuyển tải bài học đến với chúng 
tôi. Cô còn giúp chúng tôi nhớ bài lâu hơn bằng giọng nói của mình. Giọng nói của cô thật 
truyền cảm, khi thì dịu dàng, ấm áp, lúc lại dí dỏm, vui tươi khiến cho chúng tôi luôn tập 
trung vào bài học, quên cả thời gian. Tính cách cô hiền lành, chính trực, cô luôn nghiêm 
túc với công việc của mình. Hàng ngày, cô rất hay vui đùa với chúng tôi nhưng khi đã vào 
tiết học, cô cũng rất nghiêm khắc. Với cô dạy học không chỉ là một nghề, mà còn là một 
niềm đam mê. Cô luôn chuẩn bị rất kỹ cho bài giảng của mình, nhiều khi cô còn sử dụng 
cả những đoạn clip ngắn về bài học, giúp chúng tôi có thể tiếp thu bài nhanh nhất. Dù cô 
đã là một giáo viên nhưng cô vẫn học, đó là sở thích của cô. Cô luôn thức đến ba, bốn giờ 
sáng mới đi ngủ vì sau khi soạn giáo án, cô lại tiếp tục học bài. "Học như một con đò 
ngược dòng vậy, các con ạ!" Lời cô nói thấm thía lòng chúng tôi. Tôi nhớ nhất là khi cô đi 
thăm quan với lớp chúng tôi. Lúc ấy, trên nét mặt cũng như trong đôi mắt của cô thể hiện 
sự lo lắng, bồn chồn không yên. Sau đó, chúng tôi mới vỡ lẽ, ra là hôm ấy, cô có bài thi 
môn triết học nhưng cô đã nghỉ thi để đi cùng với lớp chúng tôi vì cô sợ rằng có vấn đề gì 
không hay với chúng tôi, cô sẽ ân hận cả đời. Một kỉ niệm đáng nhớ khác là khi tôi học hè. 
Khi ấy, tôi khá lo sợ do tôi đã nghỉ mất hai tuần. Tôi bước vào lớp với tâm trạng lo lắng. 
Cô biết là tôi đã nghỉ học, cô bèn giảng lại cho tôi những chỗ tôi chưa biết, chưa hiểu, rồi 
nhờ bạn cho tôi mượn vở để chép bù bài. Lúc đó tôi thấy mình nhẹ nhõm, thầm cảm ơn cô 
và các bạn.
 Quả thật, nghề giáo thật là cao quý, giống như câu ví: "Nghề giáo là người lái đò tri 
thức qua sông". Đó cũng là nghề mà tôi mong ước sau này khi trưởng thành. Nhân ngày 
Nhà giáo Việt Nam 20-11, tôi muốn gửi lời chúc tới cô rằng: "Con chúc cô luôn mạnh 
khỏe! Con yêu cô nhiều lắm!" ĐỀ 2: EM HÃY KỂ LẠI 1 KỶ NIỆM SÂU SẮC NHẤT
 VỀ GIA ĐÌNH, BẠN BÈ, NGƯỜI THÂN, 
 2.1. ĐỀ BÀI: HÃY KỂ VỀ NHỮNG VIỆC LÀM, NHỮNG LỜI DẠY BẢO GIẢN DỊ 
 MÀ SÂU SẮC CỦA NGƯỜI BÀ KÍNH YÊU LÀM CHO EM CẢM ĐỘNG.
 Bà em năm nay đã già, mắt bà đã mờ và đôi chân yếu đi rất nhiều. Với em, bà là 
người thầy lớn, dạy em những điều hay lẽ phải trong cuộc đời. Mỗi lần trở về quê hương, 
em hạnh phúc khi nắm bàn tay hao gầy nhưng tràn đầy hơi ấm của bà, lắng nghe những 
câu chuyện bà kể. Những câu chuyện của bà đều giúp em trưởng thành hơn trong cuộc 
sống. Bài học khiến em nhớ nhất đó là tấm lòng nhân ái và biết sẻ chia với mọi người mà 
bà đã dạy. 
 Từ thuở bé, em thích nhất khi được trở về khu vườn của bà nơi đầy ắp những trái 
cây ngon nhưng bà chẳng bao giờ bán mà thường để dành khi chín, chia cho những đứa trẻ 
quanh nhà. Em thắc mắc tại sao bà không bán lấy tiền, bà cười hiền hậu và nói: "Những 
đứa trẻ đó nhà chúng nghèo lắm cháu à, nhà nghèo nên chúng chẳng được ăn những trái 
cây ngon bao giờ. Chia sẻ với người khác là nhân thêm niềm vui cho mình. Trong cuộc 
sống, ai cũng có những lúc khó khăn, hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau". Không những 
vậy, bà còn dạy chữ cho những đứa trẻ nghèo quanh xóm vì chúng không được đến lớp. 
Ngôi nhà nhỏ của bà vì vậy lúc nào cũng rộn tiếng cười nói trẻ thơ. Em nghe theo lời bà 
dạy, đã xin những bộ sách cũ của những người bạn học từ thành phố về để chia cho những 
người bạn nơi làng quê. Các bạn nhỏ ở quê vì thế mà cũng trở nên thân thiết, còn rất quý 
em và thường rủ em đi chơi quanh làng sau những buổi chiều tan học. Và chính từ tấm 
lòng nhân ái của bà mà mọi người trong xóm dường như xích lại gần nhau hơn, mọi người 
chia sẻ cho nhau từ những điều giản di, đôi khi là củ khoai, củ sắn trồng được hay giúp đỡ 
nhau mỗi khi gia đình nhà ai có chuyện khó khăn. Mọi người sống với nhau như những 
người họ hàng thận thiết và em thấy được giá trị của lòng nhân ái qua hành động nhỏ của 
bà. Vào những đêm trăng sáng, bà còn thường kể em nghe những câu chuyện cổ tích về sự 
tham lam của người anh trong truyện "Cây khế trả vàng" đã phải trả giá bằng tính mạng 
của mình, hay về lão phú ông trong truyện cổ tích "Cây tre trăm đốt" chỉ biết làm giàu cho 
mình từ sức lao động của anh Khoai nên cuối cùng mới bị anh Khoai trả đủa.
 Lòng nhân ái, biết sẻ chia của con người sẽ khiến cuộc sống bớt đi những khổ đau, 
khiến mọi người gần lại với nhau hơn và chan chứa tinh người. Bài học từ thuở bé nhưng 
mãi là hành trang theo em bước vào đời em luôn ghi nhớ lời dạy sêu sắc bà day để đối xử 
với mọi người quanh mình để nhận lại được những nụ cười và hạnh phúc đây ấm ấp. 
Người với người sống để yêu nhau, bởi "sống là cho đi đâu chỉ nhận riêng mình".
 2.2. EM HÃY KỂ MỘT KỈ NIỆM KHÓ QUÊN VỀ TÌNH BẠN
 Từ khi sinh ra em luôn được bố mẹ dạy bảo những lời hay lẽ phải. Khi đi học, bố 
mẹ dặn em phải cố gắng học tập thật tốt để tiếp thu được nhiều kiến thức, phải biết yêu 
thương mọi người, trân trọng những người bên cạnh. Nhất là hãy luôn nhớ bạn bè như 
chính người anh, em của mình. Và nhờ thế, em đã có một người bạn khiến em không bao 
giờ quên.
 Hôm đó là một ngày thứ hai đầu tuần như bao ngày bình thường khác. Em vui vẻ 
cất bước đến trường thật sớm, ngồi vào bàn học và tận hưởng ngày mới bắt đầu. Khi tiếng 
trống vang lên, cô giáo bước vào lớp, đi theo sau cô là một bạn mới, cô giáo giới thiệu bạn 
ấy tên là Ánh ở lớp 5B chuyển sang. Bạn ấy là một người rất hiền và dễ thương. Cô giáo đã xếp bạn ấy ngồi cạnh em và nhắc nhở em giúp đỡ bạn ấy làm quen với môi trường mới. 
Hai tiết học trôi qua thật vui vẻ, tiếng trống vang lên báo hiệu giờ ra chơi đã đến, cả lớp em 
đổ ào ra như ong vỡ tổ. Hôm nay, em ngồi yên trong lớp đọc nốt quyển truyện tranh mới 
mua. Em tình cờ nhìn sang bên cạnh Ánh, và thấy Ánh đang chăm chú nhìn em, em thấy 
vậy quay sang mỉm cười. Ánh nói “Đó là quyển truyện tớ rất muốn đọc, cậu có thể cho tớ 
xem cùng được không?”. Thì ra đây là quyển truyện mà Ánh thích, thế là em và Ánh cùng 
đọc. Chúng em chụm đầu vào đọc một cách chăm chú, lâu lâu lại cười phá lên vì những 
tình tiết quá gây hài. Thật là vui, từ lúc đó chúng em không còn ngần ngại như lúc trước, 
chúng em nói chuyện với nhau nhiều hơn, kể cho nhau nghe về bản thân cho đến khi tiết 
học tiếp theo bắt đầu. Hết tiết học cuối, em chào Ánh ra về, mà tâm trạng cảm thấy rất vui 
sướng vì có thêm một người bạn cùng sở thích với mình. Ngày hôm sau khi đến lớp, em đã 
thấy Ánh ngồi tại đó, em vừa bước vào Ánh đã vẫy tay chào mừng em, chúng em tranh thủ 
trò chuyện với nhau rất nhiều, Ánh có kể qua về gia đình bạn ấy, em cảm thấy rất thương 
Ánh khi nghe những lời tâm sự đó. Em vỗ vai an ủi, cổ vũ bạn ấy, và hứa sẽ luôn là những 
người bạn thật sự của nhau. Chúng em giúp đỡ nhau rất nhiều trong học tập, em yếu môn 
Văn nên Ánh đã hướng dẫn em cách lập dàn ý, cách viết bài và trau chuốt cho từng câu 
chữ. Ánh hơi kém môn Toán, em đã chỉ bạn ấy cách phân tích bài toán, đưa ra hướng giải 
một cách nhanh nhất. Ánh và em cũng thường qua nhà nhau chơi, cùng nhau làm việc nhà, 
cùng nhau chăm heo, cho vịt ăn. Em còn được nghe bà của Ánh kể rất nhiều câu chuyện 
thú vị hồi xưa, hai đứa ngồi nghe cứ cười thích thú.
 Ánh là một người bạn rất tốt mà em vô cùng quý mến. Từ ngày có Ánh là bạn em 
không ngồi một mình trong lớp nữa, em bắt đầu tham gia nhiều trò chơi hơn, và cũng trở 
nên vui vẻ hơn rất nhiều. Ánh đã cho em cuộc sống thú vị hơn. Trong cuộc sống ai cũng có 
một người bạn thân, một tình bạn tri kỉ. Em luôn trân trọng tình bạn ấy. Em thầm cảm ơn 
Ánh đã trở thành người bạn thân thiết và ở bên cạnh sẻ chia vui buồn cùng em. Hãy mãi 
mãi là những người bạn tốt nhé Ánh.
 ĐỀ 3: DỰA VÀO TRUYỆN NGẮN LÀNG HÃY ĐÓNG VAI ÔNG HAI KỂ LẠI 
 ĐOẠN TRUYỆN TẢ DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA ÔNG HAI 
 KHI NGHE TIN LÀNG CHỢ DẦU THEO GIẶC
 Tôi là ông Hai trong câu chuyện “Làng” tôi yêu cái làng Chợ Dầu của tôi – cái làng 
mà tôi đã sinh ra và lớn lên, cái làng mà tôi đã sinh ra và lớn lên, cái làng đã nuôi dưỡng 
tâm hồn tôi từ thủa nào. Giờ đây xa làng ở nơi tản cư tôi nhớ làng da diết - nhớ những ngày 
tham gia kháng chiến, và có lẽ tình yêu làng càng được trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng tôi 
nếu như không có một ngày 
 Nghe theo chính sách của Đảng, gia đình tôi phải đi tản cư, phải xa ngôi làng thân 
yêu, xa quê tôi tích cực lao động vỡ vạt đất rậm ngoài suối để trồng thêm vài gốc sắn. Nằm 
giường tôi nghĩ về cái làng và nghĩ về những ngày cùng làm việc với anh em, ồ sao độ ấy 
vui thế, tôi thấy mình như trẻ ra và cảm thấy náo nức vô cùng, tôi lại muốn về làng, muốn 
được cùng anh em đào đường đắp u, xẻ hào, khuôn đá tôi tự hỏi lòng mình không biết 
cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm bí mật chắc còn khướt 
lắm! Chao ôi! tôi nhớ làng nhớ cái làng quá.
 Bên ngoài, ánh nắng rọi xuống mặt đất, có tiếng gà trưa cất lên.
 Theo thói quen, việc đầu tiên tôi vào phòng thông tin nghe đọc báo, tôi tuy biết mặt 
chữ nhưng chữ in khó đọc khiến tôi khổ tâm hết sức, tôi ghét thậm những anh cậy ta lắm 
chữ đọc báo lại cứ đọc thầm một mình, không đọc ra thành tiếng cho người khác nghe nhờ mấy. May sao hôm nay vớ được anh dân quân đọc rất to, dõng dạc, rành rọt từng chữ, tôi 
sung sướng khi nghe bao nhiêu là tin hay về tinh thần kháng chiến của dân ta. Tai nghe mà 
ruột gan tôi cảm tưởng như đang múa cả lên, vui quá! Tôi náo nức bước khỏi phòng thông 
tin, rẽ vào quán dặn vội mấy việc rồi đi thẳng ra lối huyện cũ, tôi ngồi vào một cái quán 
nước. Ngờ đâu cái vui vẻ ấy chỉ là một ngày lặng gió trước khi giông tố nổi lên. Bước ra 
khỏi phòng thông tin, tôi rẽ vào dặn vợ vài việc rồi theo lối huyện cũ mà đi. Tôi tạt qua 
quán nước ngồi. Ở đây, những tốp người tản cư dưới xuôi lên đứng ngồi lố nhố. Nghe một 
người đàn bà nói bọn Tây nó vào làng Chợ Dầu, nó khủng bố, tôi lo lắng, quay phắt lại lắp 
bắp hỏi:
 - Nó... Nó vào làng Dầu hở bác? Thế ta giết được bao nhiêu thằng?
 - Có giết được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây còn giết gì nữa!
 Giọng người đàn bà the thé, đầy mùi căm giận. Nó như gáo nước lạnh tạt thẳng vào 
mặt tôi. Tôi bàng hoàng. Cổ họng nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, tưởng như đến không 
thở được. Khóe mắt cứ giật giật, các dây thần kinh như tê liệt. Một lúc lâu sau, tôi mới rặn 
è è, nuốt cái gì vương vướng ở cổ, hỏi lại, giọng lạc hẳn đi:
 - Liệu có thật không hở bác? Hay lại chỉ...
 - Thì chúng tôi vừa ở dưới đấy lên đây mà lại...
 Tôi chưa dứt lời thì người ta đã nói. Dứt khoát. Chắc như đinh đóng cột. Tôi đờ 
người. Hai tai ù ù. Chẳng còn nghe thấy gì cả. Giọng người kia như lẫn vào trong gió. Tôi 
trả tiền nước, lảo đảo đứng dậy, chèm chẹp miệng, cười nhạt một tiếng:
 - Hà, nắng gớm, về nào...
 Tôi nói với mình mà như chẳng nói với ai. Tôi tự trấn an mình. Lảng ra một chỗ rồi 
bước hẳn, không dám quay đầu lại nhìn. Tôi cúi gằm mặt xuống mà đi, như mình vừa làm 
điều gì đó tội lỗi lắm. Về đến nhà, tôi nằm vật ra giường. Tay chân như nhũn hẳn ra, không 
còn sức. Tôi thở dốc. Mấy đứa nhỏ len lét đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau.
Nhìn lũ con, chẳng hiểu sao nước mắt tôi cứ dàn ra. Mắt mờ đi, nhạt nhòa. Mấy đứa nhở... 
Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi 
đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu... Tôi nắm chặt hai tay, móng đâm vào da thịt, đau 
nhói. Tôi rít lên như một con thú bị thương, đau đớn đến tột cùng. Đêm xuống yên ắng đến 
lạ. Đêm đen như mực, như chỉ trực đợi tôi nhắm mắt là sẽ ôm trọn tâm hồn tôi. Tôi vẫn 
trằn trọc không sao ngủ được. Hết trở mình bên này lại trở mình bên kia, thở dài. Chợt lặng 
hẳn đi, tôi nghe có tiếng léo xéo ở gian trên.
 Từ ngày hôm ấy, tôi chỉ ru rú một góc nhà, đến cả nhà bác Thứ cũng không dám 
sang. Tủi hổ lắm! Tôi còn mặt mũi nào mà nhìn người ta nữa?... Ruột gan tôi lúc nào cũng 
như lửa đốt. Cứ một đám đông túm lại tôi cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa cũng 
nơm nớp lo sợ, thoáng nghe thấy mấy tiếng Tây, Việt gian... là lại chột dạ. Lủi thủi trong 
nhà, nin thin thít. Thôi lại chuyện ấy rồi! Các cụ đã nói "Ghét của nào trời trao của ấy". 
Đúng như những gì tôi lo sợ, mụ chủ đã đến, ý tứ đuổi khéo chúng tôi. Phải rồi! Ai người 
ta dại mà đi chứa lũ bán nước cơ chứ? Tất cả đang quay lưng lại với tôi. Thật đáng sợ! 
Thật là tuyệt đường sống! Biết đem nhau đi đâu bây giờ? Biết đâu người ta chứa gia đình 
tôi? Cứ nghĩ, nghĩ và nghĩ mãi. Những ý nghĩ đen tối, ghê rợn cứ theo đó mà len lỏi vào 
tâm chí tôi. Từng bước, từng bước một, chúng thống lĩnh suy nghĩ của tôi... Hay là quay về 
làng?...
 Nước mắt tôi cứ dàn ra. Mặn chát. Về làng ư? Không... Không... Về làng tức là bỏ 
kháng chiến, bỏ cụ Hồ. Về làng đồng nghĩa với việc chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây. Không thể được! Làng thì yêu. Yêu thật! Nhưng làng theo Tây mất rồi. Làng đã phản bội 
lại ta thì phải thù.
 Tôi thủ thỉ với thằng bé. Tôi khắc sâu vào lòng thằng bé mà cũng như tự nhủ với 
lòng mình, tự minh oan cho chính mình. Cái lòng bố con tôi như thế đấy, có bao giờ dám 
đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai.
 Cứ như vậy cho đến ngày hôm ấy. Tôi nhận được tin cải chính. Như trút được gánh 
nặng trong lòng, tôi mua quà cho lũ trẻ. Rồi lật đật đi khoe với hàng xóm láng giềng. Phải! 
Phải! Phải cho mọi người cùng biết cái tin ấy chứ. Tay chân tôi cứ múa hết cả lên. Đi đến 
đâu tôi cũng hô thật to: - Tây nó đốt làng tôi rồi. Nhà tôi bây giờ chỉ còn lại một đống tro 
đen sì. Ông chủ tịch làng tôi vừa lên cải chính,,, cải chính cái tin làng Chợ Dầu chúng tôi 
Việt gian theo giặc ấy mà. Ra láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn sai sự mục đích cả! Tôi 
thật sự sung sướng vì ngôi làng của mình vẫn còn theo cách mạng, theo cụ Hồ. Nhà cửa 
mất có thể xây dựng lại chứ nếu danh dự của làng bị mất thì vết nhơ ngàn năm không thể 
xóa nhòa.
 ĐỀ 4: DỰA VÀO ĐOẠN TRÍCH “CHIẾC LƯỢC NGÀ” CỦA NGUYỄN 
 QUANG SÁNG, HÃY ĐÓNG VAI NHÂN VẬT BÉ THU KỂ LẠI CUỘC GẶP GỠ 
 VỚI CHA SAU TÁM NĂM XA CÁCH. QUA ĐÓ, BÀY TỎ NIỀM ÂN HẬN VÌ ĐÃ 
 ĐỐI XỬ KHÔNG TỐT VỚI BA TRONG NHỮNG NGÀY BA NGHỈ PHÉP.
 Hạnh phúc – đó là thứ mà con người ta bấy lâu nay luôn kiếm tìm, nhưng ít ai hiểu 
được 1 chân lý giản đơn mà sâu sắc: Hạnh phúc ở ngay trước mắt ta. Bản thân tôi – Bé Thu 
– cũng vậy, ngay từ thuở mới lọt lòng cho đến tận bây giờ vẫn luôn khát khao gặp lại hình 
bóng ba thân thương, đó là hạnh phúc lớn nhất đời tôi. Song, như cái chân lý ấy, hạnh phúc 
ngay trước mặt tôi – người ba thân yêu đứng ngay trước mắt tôi nhưng sao tôi chả nhận 
ra để giờ đây chỉ còn biết hối hận muộn màng. Hạnh phúc ấy bây giờ chỉ còn là hư vô bởi: 
Ba tôi đã đi về 1 nơi rất xa rồi Ký ức về cuộc gặp mặt và chia tay ba Sáu mãi mãi sẽ là 
hồi ức theo tôi đến cuối đời. Chuyện là thế này 
 Theo lời kể của má, khi tôi vừa tròn 1 tuổi ba đã phải ra chiến trận vì tiếng gọi 
thiêng liêng của Đảng, của Bác Hồ, lúc ấy tôi còn quá bé nhỏ để khắc ghi hình bóng ba. 
Suốt tám năm ròng tôi sống trong sự che chở, dưỡng dục của má. Song, như thế đối với tôi 
vẫn chưa đủ, tôi vẫn cần lắm tình thương bao la của ba như bao đứa trẻ cùng trang lứa 
khác. Tôi vẫn thường nghe má kể về chuyện của ba nơi chiến trường, tôi tự hào về ba 
nhiều lắm – người hùng của con. Năm tôi lên tám, 1 phép màu đã xảy ra: Ba trở về. Khi 
nghe mẹ báo tin động trời ấy, lòng tôi nôn nao như lửa đốt, tôi chạy vội ra trước cửa nhà 
ngóng trông ba. Thấp thoáng đằng xa, tôi thấy 1 người đàn ông mặc áo lính cao to nhưng 
trên mặt ông ta lại có 1 vết thẹo to trông rất dễ sợ. Ông ta chạy đến, nói to: "Ba đây con!". 
Quá đỗi ngỡ ngàng, tôi vụt chạy vào nhà kêu má. Lạ lùng thay, má tôi lại vui sướng ôm 
người đàn ông đó. Ba đi chưa được bao lâu mà lại vui cười với người khác, người lớn là 
thế sao? Trong tâm tưởng tôi gợi lên những suy nghĩ kì lạ, mang chút vẻ trưởng thành của 
người lớn. Ông kia cùng với 1 người nữa ở lại nhà tôi. Thời gian ấy, má tôi lúc nào dọa 
đánh bảo tôi gọi ba, nhưng người dữ tợn kia sao là ba tôi được chớ, muốn tôi nhận người 
dưng là ba à, đừng hòng!.
 Tôi chạnh lòng nhìn bức ảnh ba má chụp chung, tôi chỉ có duy nhất 1 người ba thôi, 
bây giờ là vậy, mãi mãi cũng là vậy. Suốt ba ngày, ông ba "giả" kia cứ quanh quẩn làm 
phiền tôi mãi, tôi bực mình lắm nhưng chẳng dám thốt ra. Tôi không coi trọng ông ta nên 
luôn cư xử xấc xược bằng cách nói trổng, chối từ mọi sự quan tâm của ông ta, muốn dụ dỗ tôi à, không dễ đâu! Có 1 hôm, tôi hất văng cái trứng cá ông ta và thế là bị ông ta đánh 1 
cái rõ đau vào mông còn lớn tiếng mắng chửi: "Sao mày cứng đầu quá vậy hả?". Tôi uất 
lắm nhưng tôi không phải là 1 con bé nhõng nhẽo chỉ biết khóc nhè, tôi cúi gầm mặt, gắp 
cái trứng bỏ vào chén rồi bỏ sang nhà ngoại. Nghe má kể khi đó ba tôi hoảng lắm, mặt tái 
nhợt đi lại thêm vết thâm đỏ ửng trông tội lắm. Giờ nghĩ lại tôi thấy hận mình, thấy thương 
ba nhiều quá. Ba chỉ muốn đứa con gái nhỏ gọi 1 tiếng "Ba" thôi mà lại khó khăn thế Ôi, 
sao mà tôi ngu ngốc quá, ngốc nên mới không nhận ra những điệu cười ẩn ý, những cái lắc 
đầu đầy suy tư và cả đôi mắt ngấn lệ của ba tôi. Ba buồn vì đứa con quá ương ngạnh, 
bướng bỉnh. Đến đây, tôi đã thấy nhói đau nơi con tim lắm rồi nhưng tất cả giờ đây đâu 
còn nghĩa lý gì 
 Tiếp tục câu chuyện là khi tôi về nhà ngoại, bà kể lại cho tôi nghe về những cái 
khốc liệt, tàn nhẫn của chiến tranh, những tội ác tày đình của thằng Tây đã làm chia ly 
hạnh phúc của biết bao gia đình, trong đó có nhà tôi. Tại chúng mà khuôn mặt đôn hậu của 
ba tôi bị biến dạng Tôi căm hận chiến tranh hơn bao giờ. Suốt đêm ấy, tôi trằn trọc chả 
ngủ được, mong trời sáng mau mau để tôi còn về tiễn cha. Hôm sau, tôi theo ngoại về nhà. 
Tôi chỉ biết đứng trong góc nhà mà nhìn ba tôi nói cười với người khác. Tôi như bị bỏ rơi, 
lạc lõng, bơ vơ. Những tưởng ba còn giận nên không quan tâm đến đứa con gái hư hỏng 
nữa, nhưng ba đã nhìn tôi bằng 1 đôi mắt trĩu nặng u buồn cùng lời nói cất lên khe khẽ: 
"Thôi, ba đi nghe con!" Trong khoảnh khắc ấy, tình phụ tử trong tôi bỗng trỗi dậy, tôi thốt 
lên 1 tiếng: "Ba!" Tiếng gọi thiêng liêng bấy lâu nay tôi giấu nơi tim mình. Mỗi tiếng gọi 
như làm thời gian ngưng đọng, tất cả mọi người đều sửng sờ. Nhanh như sóc, tôi chạy đến 
ôm ấp hình hài ba tôi mong nhớ bao lâu nay và hôn khắp người ba. Đau đớn thay, giây 
phút ba con tôi đoàn tụ cũng lại là phút chia ly, ba lại phải lên đường đi tập kết. Tôi không 
muốn ba đi 1 chút nào, chỉ ước sao thời gian ngừng lại để tôi được tận hưởng nỗi khao khát 
tình cha 8 năm qua Nhờ mọi người khuyên răn tôi mới để ba đi cùng lời hứa mang chiếc 
lược ngà tặng tôi vào lần thăm sau. Trong tâm trí non nớt của 1 đứa bé 8 tuổi, tôi không hề 
nghĩ đây lại là lần gặp mặt cuối cùng của cha con tôi. Ba tôi đã đi và không bao giờ trở 
lại Đau đớn làm sao 
 Giờ đây tôi đã khôn lớn, trưởng thành không còn trẻ nít, bướng bỉnh như xưa nữa 
mà biết suy nghĩ, biết giúp ích cho đời. Trong tim tôi vẫn tôn thờ hình bóng ba kính yêu và 
dành 1 khoảng trống để chất chứa tình yêu thương dạt dào ấy, 1 khoảng trống khác tôi 
dành cho Tổ quốc thân yêu. Tiếp bước cha tôi đi theo con đường cách mạng, tôi đã trở 
thành cô giao liên dũng cảm, kiên cường. Tôi không đơn độc, lẻ loi bởi ba luôn có ba bên 
cạnh, ba là nguồn sáng soi sáng đường tôi đi, là ánh lửa sưởi ấm cái giá lạnh ở rừng 
núi Có ba, tôi có niềm hạnh phúc lớn nhất đời mình 
 D. GỢI Ý ÔN TẬP MỘT SỐ ĐỀ ĐỌC, HIỂU
Đề 1:
I. Đọc, hiểu:
 Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu: Có hai hạt giống nằm cạnh nhau trên một mảnh đất màu mỡ. Hạt giống thứ nhất 
nói: “Tôi muốn lớn lên thật nhanh. Tôi muốn bén rễ sâu xuống lòng đất và đâm chồi nảy 
lộc xuyên qua lớp đất cứng phía trên ”.
 Tôi muốn nở ra những cánh hoa dịu dàng như dấu hiệu chào đón mùa xuân Tôi 
muốn cảm nhận sự ấm áp của ánh mặt trời và thưởng thức những giọt sương mai đọng 
trên cành lá.
 Và hạt giống thứ nhất được lớn lên như đúng ý nguyện.
 Hạt giống thứ hai bảo: “Tôi sợ lắm! Nếu bén những nhánh rễ vào lòng đất sâu bên 
dưới, tôi không biết sẽ gặp phải điểu gì ở nơi tối tăm đó. Và nếu như những chồi non của 
tôi có mọc ra, đám côn trùng sẽ kéo đến và nuốt ngay lấy chúng. Một ngày nào đó, nếu 
những bông hoa của tôi có thể nở ra được thì bọn trẻ con củng sẽ vặt lấy mà đùa nghịch 
thôi. Không, tốt hơn hết là tôi nên nằm ở đây cho đến khi cảm thấy thật an toàn đã.
 Và rồi hạt giống thứ hai cứ nằm im và chờ đợi.
 Một ngày nọ, một chú gà đi loanh quanh trong vườn tìm thức ăn, thấy hạt giống 
nằm lạc lõng trên mặt đất bèn mổ ngay lập tức.
 (Theo ạt giống tâm hồn)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
Câu 2. (0,5 điểm)Tìm trong đoạn trích, câu văn nêu lên ý nguyện của hạt giống thứ 
nhất.
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ có trong câu văn: 
 Hạt giống thứ nhất nói: “Tôi muốn lớn lên thật nhanh. Tôi muốn bén rễ sâu xuống 
lòng đất và đâm chồi nảy lộc xuyên qua lớp đất cứng phía trên ”.
Câu 4. (1,0 điểm) Nếu được lựa chọn lựa, em sẽ chọn làm hạt giống nào? Giải thích lí 
do sự lựa chọn đó.
II. Tạo lập văn bản:
Câu 1: (2,0 điểm) Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về vấn đề đặt ra trong 
phần đọc, hiểu trên?
ĐỀ 2
Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
 Người và chim sáo
 Một hôm, người trồng nho bắt gặp trong vườn mình con sáo nhỏ đang rỉa những quả 
nho chín mọng trên cành. Ông bèn lớn tiếng nhiếc móc con chim kia là đồ trộm cắp đáng 
khinh. Chim bèn hỏi lại:
 - Thế nếu không có tôi bắt sâu bọ suốt mùa qua thì liệu có vườn quả hôm nay 
không?
 - Mi ăn sâu bọ như người ta ăn thịt trứng. Ta không đòi hỏi trả tiền thì thôi, lại còn 
kể công sao?
 - Một vài quả nho mà đổi được vườn nho, sao ông lại tiếc?
 - Ta không cần mi, hãy cút đi, đồ ăn hại.
 Người trồng nho giận dữ ném đất đánh đuổi chim đi.
 Mùa sau, chim đi biệt không trở lại. Sâu bọ phá hết vườn nho không còn một lá. 
Bấy giờ, người trồng nho mới cất tiếng than: "Ôi, ta tiếc vài chùm nho nhỏ để làm mất cả 
vườn nho!".
 (Trích: Truyện ngụ ngôn)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên. Câu 2. (0,5 điểm) Hãy cho biết lời của người trồng nho trong câu chuyện sau vi phạm 
phương châm hội thoại nào?
Đề 3
 “Ngày xưa, có một ngọn núi lớn, bên sườn núi có một tổ chim đại bàng. Trong tổ có 
bốn quả trứng lớn. Một trận động đất xảy ra làm rung chuyển ngọn núi, một quả trứng đại 
bàng lăn xuống và rơi vào một trại gà dưới chân núi. Một con gà mái tình nguyện ấp quả 
trứng lớn ấy.
 Một ngày kia, trứng nở ra một chú đại bàng con xinh đẹp, nhưng buồn thay chú 
chim nhỏ được nuôi lớn như một con gà. Chẳng bao lâu sau, đại bàng cũng tin nó chỉ là 
một con gà không hơn không kém. Đại bàng yêu gia đình và ngôi nhà đang sống, nhưng 
tâm hồn nó vẫn khao khát một điều gì đó cao xa hơn. Cho đến một ngày, trong khi đang 
chơi đùa trong sân, đại bàng nhìn lên trời và thấy những chú chim đại bàng đang sải cánh 
bay cao giữa bầu trời.
 "Ồ - đại bàng kêu lên - Ước gì tôi có thể bay như những con chim đó".
 Bầy gà cười ầm lên: "Anh không thể bay với những con chim đó được. Anh là một 
con gà và gà không biết bay cao".
 Đại bàng tiếp tục ngước nhìn gia đình thật sự của nó, mơ ước có thể bay cao cùng 
họ. Mỗi lần đại bàng nói ra mơ ước của mình, bầy gà lại bảo nó điều đó không thể xảy ra. 
Cuối cùng đại bàng cũng tin điều đó là thật. Rồi đại bàng không mơ ước nữa và tiếp tục 
sống như một con gà. Cuối cùng, sau một thời gian dài sống làm gà, đại bàng chết.”
Câu 1. (0,5 điểm) Phương thức biểu đạt chính nào được sử dụng ở đoạn trích trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Theo em, điều gì đã khiến đại bàng từ bỏ đi ước mơ có thể bay cao 
của mình.
Câu 3. (1,0 điểm) Các phép tu từ nào được sử dụng trong câu văn sau. Cho biết ý 
nghĩa của việc sử dụng các phép tu từ đó? “Rồi đại bàng không mơ ước nữa và tiếp tục 
sống như một con gà”.
Câu 4. (1,0 điểm) 
 Em rút ra bài học thông điệp cuộc sống nào từ đoạn trích sau:
 “Đại bàng tiếp tục ngước nhìn gia đình thật sự của nó, mơ ước có thể bay cao cùng 
họ. Mỗi lần đại bàng nói ra mơ ước của mình, bầy gà lại bảo nó điều đó không thể xảy ra. 
Cuối cùng đại bàng cũng tin điều đó là thật. Rồi đại bàng không mơ ước nữa và tiếp tục 
sống như một con gà. Cuối cùng, sau một thời gian dài sống làm gà, đại bàng chết.”
Gợi ý:
 - Hãy thay đổi suy nghĩ, vượt qua giới hạn của chính bản thân để cho mình cơ hội 
được thay đổi.
 - Chúng ta sẵn sàng tiếp thu và học hỏi từ những lời góp ý và nhận xét của người 
khác tuy nhiên hãy tự nhìn nhận khả năng của chính mình.
 - Cuộc sống này ai cũng mong mình thành công, vì thành công luôn mang lại hạnh 
phúc. Nhưng để đạt được điều đó hãy tự mình vượt qua những thử thách mà trước hết là 
vượt qua giới hạn của chính bản thân mình.
II. Tạo lập văn bản:
Câu 1: (2,0 điểm)
 Từ ngữ liệu phần đọc, hiểu hày viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về vai 
trò ý nghĩa của niềm tin trong cuộc sống.
* Gợi ý: Tại sao một số người có thể đạt được rất nhiều thành công vượt bậc trong cuộc 
sống? Tại sao một số người có thể đạt được những thành quả phi thường vượt xa những 
gì được mong đợi? Có phải đó là vì họ tài năng, nhạy bén và có năng lực hơn người? Có 
phải họ có nhiều điều kiện tốt hơn so với người khác? Câu trả lời không phải vậy. Điểm 
khác biệt của những người thành công hơn so với người bình thường là họ có niềm tin 
mãnh liệt vào việc mình làm. Niềm tin này đã mang lại sức mạnh giúp họ “chiến đấu” kiên 
cường, và cuối cùng “chiến thắng” bất cứ gian lao trắc trở nào. Mỗi người cần phải có 
niềm tin trong cuộc sống để vượt qua những khó khăn và thử thách đang giăng lấp. Niềm 
tin thực sự cũng sẽ đưa con người từ vực thẳm tối tăm tiến lên phía trước. Đồng thời nó 
cũng có thể cứu họ từ gục ngã mà vươn lên trong những khó khăn. Helen Keller có nói: 
"Lạc quan là niềm tin dẫn tới thành tựu. Bạn chẳng thể làm được điều gì mà thiếu đi hy 
vọng và sự tự tin".
 Tổ kí duyệt 
 Tuần 15, Ngày 09/12/2020
 ND:
 PP
 Đinh Thu Trang

Tài liệu đính kèm:

  • docgiao_an_ngu_van_lop_9_tuan_15_nam_hoc_2020_2021.doc