RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 9 I. ĐẶT VẤN ĐỀ Văn là người. Học văn, rèn luyện viết văn có vai trò quan trọng góp phần hình thành nhân cách của học sinh. Việc cảm thụ tác phẩm văn chương giúp HS thể hiện được cách nhìn nhận, đánh giá của bản thân đồng thời góp phần bồi đắp tâm hồn trong sáng, lành mạnh cho HS, giúp các em có cách nhìn, suy nghĩ và có hành động tích cực, bồi dưỡng tâm hồn trong sáng của các em thành con người có nhân cách, giàu tình cảm, cảm xúc, giàu lòng nhân ái, có ích cho xã hội, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, yêu thích môn Văn. Đặc biệt trong thời kì bùng nổ thông tin thanh thiếu niên có xu hướng dần xa các giá trị truyền thống. Nghị luận văn học là một nội dung kiến thức quan trọng trong chương trình Ngữ văn 9, tập 2. Kiến thức và những kĩ năng làm văn nghị luận văn học còn là hành trang để HS lớp 9 tiếp tục học tốt môn Ngữ văn ở chương trình THPT và thi vào Đại học. Đặc biệt, ở cấp THCS, nghị luận văn học trở thành nội dung không thể thiếu của một cuộc thi lớn dành riêng cho những HS có năng khiếu “Học sinh giỏi môn Ngữ văn”. Thực tế hiện nay kĩ năng viết văn nghị luận văn học của HS còn nhiều yếu kém nên hiệu quả chưa cao. II. NỘI DUNG Sáng kiến gồm 2 nội dung cơ bản: thực trạng và giải pháp thực hiện. Trong đó: phần thực trạng nêu lên những thuận lợi và khó khăn; phần giải pháp thực hiện trình bày cụ thể về hai vấn đề: Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Cụ thể như sau: 1. Thực trạng a. Thuận lợi - Được sự quan tâm, chỉ đạo và tạo mọi điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường: có máy chiếu, có máy tính được nối mạng Internet, có sử dụng wifi - Thư viện nhà trường có các loại sách văn học khá phong phú. - Hiện nay các phương tiện thông tin đại chúng phát triển rộng khắp, HS có điều kiện tiếp cận thông tin khá dễ dàng, thuận lợi. - Được sự quan tâm, ủng hộ của phụ huynh học sinh. - HS có ý thức học tập khá tốt, có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, tìm tòi, có tính sáng tạo. Yêu cái đẹp, yêu thích văn thơ... - Một số em tự trang bị sách tham khảo. b. Khó khăn 2 - Năng lực nhận thức, cảm thụ và kĩ năng làm văn nghị luận văn học còn hạn chế. - Chưa biết cách bổ sung kiến thức và làm giàu vốn sống cho bản thân. - Thư viện chưa đáp ứng đủ nhu cầu tham khảo của GV và HS. 2. Giải pháp thực hiện Ở chương trình Ngữ văn lớp 9 đề cập hai kiểu bài nghị luận văn học là nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Văn nghị luận văn học là một nội dung nằm trong chương trình dạy học, vì vậy để nội dung đó đạt được hiệu quả tôi đã lồng ghép, mở rộng thêm một số kiến thức và kĩ năng về nội dung này ngay trong các tiết học có liên quan (dạy bài mới, tiết luyện tập, tiết luyện nói, tiết tự chọn, tiết trả bài ). Cụ thể: a. Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) * Thế nào là nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)? Trong nghị luận văn học có một kiểu bài khá quen thuộc: nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích). Đối tượng nghị luận trong kiểu bài này là các tác phẩm văn học tự sự (có thể là một tác phẩm trọn vẹn hoặc đoạn trích) Khi nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích), người viết thường trình bày những suy nghĩ, nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của tác phẩm cụ thể đó. Chính vì vậy hình thức nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích khá phong phú, có thể bao gồm: Phân tích tác phẩm truyện (phân tích giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của truyện; phân tích một phần trích cả truyện; phân tích một nhân vật của truyện; phân tích một nội dung chủ đề của truyện; phân tích một nét nghệ thuật đặc sắc của truyện...); phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm truyện (cảm nghĩ về một nhân vật,cảm nghĩ về một nội dung chủ đề sâu sắc của truyện...); bình luận, bình giảng về tác phẩm truyện (bình luận về một nhân vật hay một nội dung chủ đề; bình giảng một đoạn trích...). Tất nhiên, việc phân định, tách bạch ranh giới giữa các hình thức nghị luận trên chỉ ở mức độ tương đối. Đồng thời trong quá trình nghị luận, có thể đan xen các hình thức nói trên. Tùy vào từng yêu cầu cụ thể của đề bài mà xác định mức độ, phạm vi, hình thức nghị luận chính cũng như sự kết hợp với các hình thức nghị luận khác. Ví dụ: Phân tích hình ảnh nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân. Đây là dạng đề phân tích một nhân vật trong một tác phẩm truyện. Đề bài trình bày những hiểu biết, cảm nhận, suy nghĩ của mình về nhân vật. Cần giải đáp được các vấn đề: Nhân vật có các đặc điểm nào? Đặc điểm ấy được tác giả thể hiện trong tác phẩm ra sao? Cách thể hiện nhân vật có gì sáng tạo, độc đáo? Qua nhân vật, ta liên hệ tới những phẩm chất gì của con người Việt Nam trong kháng chiến?... * Yêu cầu của một bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) 3 Ngoài những yêu cầu chung về bố cục, về ngôn ngữ diễn đạt như đối với các loại văn bản nghị luận khác, cần chú ý những yêu cầu sau: - Nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện phải xuất phát từ giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của tác phẩm được người viết phát hiện và khái quát trong quá trình tiếp cận tác phẩm đó (ví dụ như: tính cách, số phận nhân vật; ý nghĩa cốt truyện; các tình huống nghệ thuật; kết cấu của tác phẩm...). Những nhận xét, đánh giá này có thể hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: từ chính những rung động, xúc cảm của mình khi tiếp cận và khám phá tác phẩm; từ những nhận xét đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học về tác phẩm đó... Việc phối hợp, dung hòa các điểm nhìn, các ý kiến trên sẽ góp phần làm cho nội dung nhận xét, bình luận về tác phẩm thêm xác đáng, sâu sắc, toàn diện, tránh được sự suy diễn theo ý chủ quan của người viết bài. - Các nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) được hình thành trong quá trình nghị luận đòi hỏi phải rõ ràng, chính xác, có lập luận thuyết phục. Thông thường, các nhận xét đánh giá ấy được thể hiện thành những luận điểm. Các luận điểm được sắp xếp theo một trình tự chặt chẽ, lô-gíc. Trong từng luận điểm, hệ thống các luận cứ phải đảm bảo phong phú, đa dạng, tiêu biểu. - Trong quá trình nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần có thói quen liên hệ, so sánh, đối chiếu (liên hệ với cuộc đời và phong cách sáng tác của tác giả; liên hệ với hoàn cảnh sáng tác; liên hệ, so sánh, đối chiếu các tác phẩm khác cùng đề tài, cùng chủ đề, cùng tác giả...). Nếu nghị luận về đoạn trích của tác phẩm truyện thì phải đặt đoạn trích ấy trong mối quan hệ chặt chẽ với cấu trúc của tác phẩm (về cả kết cấu nghệ thuật cũng như nội dung chủ đề). Trên cơ sở đó phân tích, đánh giá, khẳng định vị trí, vai trò của đoạn trích trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm. - Lời văn trong nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) phải linh hoạt, vừa khúc chiết, chặt chẽ để đảm bảo đặc trưng của văn nghị luận, lại vừa có sự uyển chuyển, gợi cảm cho phù hợp với đối tượng nghị luận (là tác phẩm văn học). * Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) - Xác định yêu cầu của đề bài: Đề văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) có cách biểu đạt rất đa dạng với nhiều mức độ yêu cầu khác nhau. Ví dụ: nghị luận theo hướng bày tỏ suy nghĩ, tình cảm; nghị luận theo hướng đánh giá, nhận xét, bình luận; nghị luận theo hướng phân tích... Do đó, khi làm bài phải căn cứ vào cách thức diễn đạt trong đề bài để xác định giới hạn, phạm vi, yêu cầu nghị luận. - Xây dựng và triển khai bố cục: + Mở bài: Có thể đi theo hướng trực tiếp hoặc gián tiếp. Dù bằng cách nào thì nội dung mở bài phải giới thiệu được tác giả, tác phẩm và nêu ý kiến đánh giá chung nhất về tác phẩm truyện được nghị luận. 4 Ví dụ: Giới thiệu tác giả, tác phẩm – Nêu ý kiến chung nhất về tác phẩm đó (truyện hoặc đoạn trích). Hoặc: Giới thiệu mảng đề tài (nội dung chủ đề) – Dẫn ra tác phẩm được nghị luận. + Thân bài: Lần lượt nêu các luận điểm chính được sắp xếp theo một trình tự hợp lí. Hệ thống luận điểm có thể được hình thành theo nhiều hướng: trên cơ sở các tình huống được tác giả nêu trong tác phẩm; trên cơ sở giá trị tác phẩm (nếu đánh giá toàn diện về tác phẩm thì có giá trị nội dung - giá trị nghệ thuật; nếu đánh giá giá trị nội dung thì có giá trị hiện thực - giá trị nhân đạo; nếu đánh giá giá trị nghệ thuật thì có kết cấu - nhân vật - ngôn ngữ - cách tạo tình huống - lời thoại)... Trong quá trình triển khai luận điểm cần dùng một hệ thống luận cứ phong phú, xác đáng để minh họa nhằm tăng thêm độ tin cậy và sức thuyết phục cho những ý kiến đánh giá về tác phẩm. Luận cứ có thể được đưa ra dưới nhiều hình thức khác nhau: dùng hình thức kể chuyện, dùng hình thức miêu tả, thuyết minh... + Kết bài: Nêu khái quát nhận định, đánh giá chung về tác phẩm truyện. Cần lưu ý là khi nêu đánh giá chung, có thể chỉ rõ tác phẩm truyện đang được nghị luận tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của tác giả nào, thuộc giai đoạn văn học nào, mảng đề tài hay chủ đề gì... Ví dụ: Qua truyện ngắn Làng, ta có thể hiểu một cách sâu sắc thêm về hình ảnh những người nông dân kháng chiến Việt Nam với tình yêu quê hương đất nước). - Triển khai luận điểm: Chọn hình thức triển khai giàu cảm xúc, bám sát những chi tiết, những hình ảnh được coi là đặc sắc, có giá trị nhất trong tác phẩm để khai thác. Các luận điểm có thể được triển khai theo mô hình diễn dịch hoặc quy nạp. Trong quá trình viết bài người viết cần cố gắng thể hiện những suy nghĩ, những cảm xúc riêng được hình thành trong quá trình tiếp cận, khám phá các tác phẩm. Qua đó thể hiện được khả năng cảm thụ tác phẩm. Muốn cho bài văn có tính liên kết chặt chẽ giữa các phần, các đoạn, người viết cần quan tâm sử dụng hình thức chuyển ý thật hợp lí (có thể thông qua các từ ngữ chuyển tiếp như: mặt khác, bên cạnh đó, không chỉ...mà còn..., hoặc chuyển ý thông qua các câu văn có ý nghĩa liên kết giữa các đoạn). b. Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ * Thế nào là nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ? Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ đòi hỏi người viết phải thể hiện năng lực tiếp nhận, cảm thụ thơ của mình. Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá của mình về tư tưởng, tình cảm và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy. Hình thức thao tác chính của kiểu bài nghị luận này là phân tích hoặc bình giảng. 5 * Yêu cầu của một bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ - Nói đến tư tưởng, tình cảm và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ có nghĩa là cần đề cập tới cả hai yếu tố: tác phẩm (văn bản) và tác giả (người sáng tác, sáng tạo ra văn bản). Điều này đòi hỏi người viết văn nghị luận phải quan tâm tới việc tìm hiểu cả những yếu tố trong văn bản (ngôn ngữ, hình tượng, các biện pháp nghệ thuật, nội dung chủ đề,...) và những yếu tố nằm ngoài văn bản (hoàn cảnh sáng tác, cuộc đời và phong cách nghệ thuật của tác giả). Ví dụ: Khi nghị luận về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, muốn làm toát lên tư tưởng chủ đề của tác phẩm thì cần phải đề cập tới thời điểm sáng tác, khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh, chuẩn bị từ giã cõi đời (vậy mà bài thơ vẫn tràn đầy sức xuân, vẫn ngời lên khát vọng được dâng hiến cho đời). - Thơ là nghệ thuật ngôn từ. Tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật thơ phải được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu. Vì vậy quá trình nghị luận để rút ra những nhận xét, đánh giá về tư tưởng, tình cảm cũng như giá trị nội dung – nghệ thuật của một đoạn thơ, bài thơ phải xuất phát từ những khám phá về vẻ đẹp và ý nghĩa biểu đạt của ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ, giọng điệu thơ; đồng thời phải khai thác giá trị của các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ (so sánh, nhân hóa, ẩn dụ...). - Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ phải hội tụ 2 yếu tố: năng lực cảm thụ văn chương và phương pháp làm một bài văn nghị luận. Mặt khác, lời văn và cách thức diễn đạt cần đảm bảo: vừa súc tích, chặt chẽ, thể hiện chính kiến của người viết, vừa gợi cảm, sinh động, thể hiện sự rung động của người viết. - Khi nghị luận phải hiểu đúng, hiểu sâu về đối tượng, từ đó mới trình bày lần lượt những cảm nhận, đánh giá của mình về những giá trị đặc sắc, nổi bật của tác phẩm. - Chú ý chọn bình câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, cách gieo vần, cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật. - Để lời phân tích, đánh giá nhận xét thêm sâu sắc, người viết có thể viện dẫn ý kiến của người khác (thường là các nhà nghiên cứu, phê bình văn học). Đồng thời, tập thói quen sử dụng thao tác liên hệ, so sánh, đối chiếu với những câu thơ, đoạn thơ, bài thơ khác cùng nội dung ý nghĩa, cùng đề tài (cùng tác giả hoặc khác tác giả). * Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ - Tìm hiểu đề và tìm ý: cần đảm bảo các thao tác sau Đọc kĩ đề, xác định giới hạn yêu cầu của đề (nghị luận về một đoạn thơ hay cả bài thơ? Nghị luận dưới dạng bình giảng hay phân tích? ...). Đọc kĩ đoạn thơ, bài thơ và tìm những thông tin liên quan (về tác giả, về thời điểm và hoàn cảnh sáng tác). 6 Tìm những đoạn thơ, câu thơ, những hình ảnh thơ đặc sắc, tạo ấn tượng nhất trong bài; xác định các yếu tố cơ bản trong nội dung của đoạn thơ, bài thơ. Trên cơ sở đó hình thành những nhận xét, suy nghĩ chung nhất về bài thơ (ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu...). - Lập dàn bài: + Phần Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đưa ra những ý kiến khái quát nhất thể hiện cảm nhận và hiểu biết của mình về đoạn thơ, bài thơ. Đây là cách thông thường. Có thể mở bài bằng nhiều cách như: Bắt đầu giới thiệu từ đề tài, chủ đề và vị trí của mảng đề tài, chủ đề ấy trong dòng chảy văn học. Trên cơ sở đó dẫn ra tác phẩm và nêu nhận xét, đánh giá chung. Cũng có người mở bài rất tự nhiên, nêu hoàn cảnh tiếp cận tác phẩm của mình, từ đó đưa ra những cảm nhận chung về đoạn thơ, bài thơ. + Phần Thân bài: Triển khai những cảm nhận, đánh giá về tác phẩm thành những luận điểm chính của bài văn. Các luận điểm được sắp xếp theo trình tự hợp lí (theo bố cục hoặc theo mạch cảm xúc của tác giả); đồng thời phải được cụ thể hóa thành những luận cứ, trình bày bằng thao tác phân tích (hoặc bình giảng) có thể kết hợp với các phép lập luận chính của văn nghị luận: giải thích, chứng minh, bình luận. + Phần Kết bài: Tổng kết và khẳng định giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ từ đó nhấn mạnh thêm ý nghĩa sâu sắc, lớn lao của bài thơ đối với sự nghiệp sáng tác của tác giả, đối với cuộc đời, đối với bạn đọc... - Tổ chức và triển khai luận điểm: Ở mỗi luận điểm (thường ứng với ít nhất một đoạn văn), người viết cần lựa chọn cách triển khai (theo phương pháp diễn dịch hay quy nạp). Trong đoạn văn triển khai luận điểm, các luận cứ phải cụ thể, rõ ràng. Có dẫn chứng minh họa sinh động. Mặt khác, lời văn phải thể hiện được cảm xúc chân thành của người viết đối với đối tượng nghị luận. Trong quá trình triển khai luận điểm cần lưu ý: Việc trích dẫn thơ để minh họa cho ý kiến nhận xét, đánh giá phải có sự chọn lọc, tránh trích dẫn tràn lan. Những câu thơ, đoạn thơ trích dẫn phải được phân tích, bình giảng để làm nổi bật cái hay, cái đẹp, nét độc đáo của từng hình ảnh thơ. Có thể vận dụng hai hình thức trích dẫn thơ: dẫn trực tiếp và dẫn gián tiếp. * Kiểm tra đánh giá - GV thường xuyên yêu cầu HS thể hiện những nhận xét, đánh giá, cảm nhận riêng về những nội dung liên quan đến văn bản văn học đã học qua các hình thức kiểm tra miệng (kiểm tra thường xuyên), kiểm tra viết (kiểm tra định kì). 7 - Khi ra đề: GV chọn những vấn đề phù hợp với nhận thức, năng lực của học sinh. - GV nhận xét cụ thể, rõ ràng những ưu, khuyết điểm của từng bài viết. - Nêu ra hướng sửa chữa phù hợp cho HS. Biểu dương, động viên kịp thời để các em phát huy ưu điểm của bản thân. III. ĐÁNH GIÁ VỀ TÍNH MỚI, TÍNH HIỆU QUẢ VÀ KHẢ THI, PHẠM VI ÁP DỤNG 1. Tính mới Thực tế nội dung về văn nghị luận văn học trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức và kĩ năng cơ bản do thời lượng các tiết học có sự hạn chế. Đối với đa số HS lớp 9 những nội dung đó chưa thật sự cụ thể, chi tiết nên trong những năm học trước đây khi học sinh vận dụng làm bài nghị luận văn học còn nhiều lúng túng, thiếu sót. Từ khi áp dụng sáng kiến “Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”, sáng kiến đã cung cấp thêm cho học sinh những vấn đề hữu ích giúp các em tháo gỡ khó khăn khi viết văn nghị luận văn học mà trong chương trình không có, từ đó tạo được những hiệu quả rất thiết thực trong kết quả học tập của học sinh. Đây là sản phẩm mang tính cá nhân, do cá nhân tôi đúc kết kinh nghiệm và tìm tòi qua một số tài liệu, chưa từng được công bố và công nhận. 2. Tính hiệu quả và khả thi - Tính hiệu quả Đối với việc học tập môn Ngữ văn nói chung, việc viết văn nghị luận văn học nói riêng của HS lớp 9 trường THCS Phong Thạnh Tây đã có sự chuyển biến rõ rệt. Kết quả học tập của học sinh lớp 9 được nâng lên: số học sinh yếu kém giảm dần và số học sinh khá giỏi tăng lên, thể hiện cụ thể qua bài viết Tập làm văn số 7 (Từ năm học 2016 – 2017 đến năm học 2018 – 2019), qua các hoạt động khác như: thi Học sinh giỏi Văn... Kết quả còn thể hiện ở bài kiểm tra thường xuyên (15 phút) trong chương trình Ngữ văn 9 (Đặc biệt năm học 2019 – 2020 đến nay do tình hình dịch bệnh covid-19 chương trình có sự thay đổi, giảm tải bài kiểm tra). Những kết quả này đã góp phần nâng cao kết quả học lực cả năm của học sinh, làm cho các em có hứng thú và yêu thích hơn đối với việc học văn, viết văn. Kết quả thi “Học sinh giỏi Văn” (Khối 8,9) Kết quả Số lượng Năm học Ghi chú HS Vòng Vòng Vòng trường huyện tỉnh 2016 - 2017 5 2 1 0 2017 - 2018 5 2 2 0 8 2018 - 2019 5 2 2 2 Kết quả thể hiện cụ thể qua bài viết Tập làm văn số 7 Tổng Xếp loại Năm học số Giỏi Khá Tb Yếu Kém HS SL % SL % SL % SL % SL % 2016 - 2017 72 2 2,8 10 13,9 44 61,1 15 20,8 1 1,4 2017 - 2018 85 4 4,7 12 14,1 54 63,6 15 17,6 0 0 2018 - 2019 87 7 8,1 15 17,2 55 63,2 10 11,5 0 0 2019 -2020 68 9 13,2 20 29,6 34 50,0 5 7,3 Đến năm học 2020 – 2021 thực hiện theo Thông tư số 26 của Bộ vào ngày 26/8/2020 có sự thay đổi là kiểm tra thường xuyên và định kỳ, không còn bài viết số 1,2..,.Giáo viên trong quá trình giảng dạy khi bước sang KHII cũng dành thời gian cho HS viết văn nghị luận kết quả điểm cũng khá cao, chấm bài làm giữa kỳ II, cuối kỳ II học sinh viết văn nghị luận khá tốt. Kết quả bài kiểm tra thường xuyên (15 phút) Tổng Xếp loại Năm học số Giỏi Khá Tb Yếu Kém HS SL % SL % SL % SL % SL % 2016 - 2017 72 3 4,2 6 8,3 49 68,1 13 18 1 1,4 2017 - 2018 85 12 14,1 12 14,1 49 57,6 12 14,1 0 0 2018 - 2019 87 15 17,2 13 14,9 49 56,3 10 11,5 0 0 2019 -2020 68 13 19,1 11 16,2 39 57,4 5 7,3 0 0 2020 - 2021 69 15 21,7 19 27,5 30 43,5 5 7,3 0 0 - Tính khả thi Sáng kiến “Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9” có thể vận dụng phù hợp, hiệu quả cho tất cả đối tượng HS lớp 9 trên toàn tỉnh, đặc biệt là học sinh lớp 9 ở trường THCS Phong Thạnh Tây. 3. Phạm vi áp dụng Sáng kiến “Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9” đã có tác dụng tích cực đối với năng lực nhận thức và cảm thụ văn học, nâng cao kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 ở trường THCS Phong Thạnh Tây. Sáng kiến có thể áp dụng hiệu quả đối với học sinh lớp 9 trên toàn tỉnh. IV. KẾT LUẬN 9 “Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9” là một vấn đề được nhiều giáo viên quan tâm. Tôi hi vọng sáng kiến này có thể giúp quý đồng nghiệp và các em học sinh có thêm nguồn tham khảo, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học về văn nghị luận văn học trong nhà trường hiện nay. Trong phạm vi sáng kiến còn mang nhiều tính chủ quan và không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhận được sự nhiệt tình đóng góp, bổ sung thêm của Ban giám hiệu nhà trường và quý vị đồng nghiệp để chất lượng học tập môn Ngữ văn 9 nói chung, kĩ năng làm văn nghị luận văn học của HS nói riêng không ngừng được nâng cao hơn nữa. Tôi chân thành cảm ơn!. Phong Thạnh Tây, ngày 16 tháng 05 năm 2022 XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT NGƯỜI VIẾT DUYỆT SÁNG KIẾN, GIẢI PHÁP TRƯỜNG XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT SÁNG KIẾN, GIẢI PHÁP DUYỆT SÁNG KIẾN, GIẢI PHÁP PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO THỊ XÃ
Tài liệu đính kèm: