Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS A. PHẦN MỞ ĐẦU I. Đặt vấn đề 1. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu Dạy Văn nói chung, dạy phân môn Tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác phẩm văn học (phần truyện) nói riêng ở khối lớp 9 trường Trung học cơ sở là dạy cho các em biết tìm tòi, khám phá ra thế giới văn chương nghệ thuật. Tác phẩm văn chương dù nhỏ nhất: là một câu tục ngữ, một bài ca dao, hay lớn hơn là một bài văn, một bài thơ, một truyện ngắn hay một bộ tiểu thuyết đều có giá trị về nội dung và nghệ thuật của nó. Làm thế nào để giáo viên giúp học sinh đồng cảm với những giá trị tư tưởng nhân văn cần đạt tới trong mỗi tác phẩm là nhiệm vụ giảng dạy của giáo viên dạy Ngữ văn. Nghị luận tác văn học nói chung, tác phẩm truyện nói riêng là một kiểu bài nghị luận văn học có vị trí quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp 9. Thông qua việc đọc và học tác phẩm văn học, học sinh chẳng những đã có một vốn khá phong phú vÒ kiến thức văn học (tác phẩm, thể loại ) và cũng đã được nâng cao dần về năng lực cảm thụ, phân tích, bình giá tác phẩm Đó là một thuận lợi. Nhưng mặt khác, cũng cần nắm vững yêu cầu và mức độ cần đạt của kiểu bài nghị luận về tác phẩm trong chương trình Tập làm văn 9 để không đồng nhất yêu cầu và mức độ phân tích tác phẩm trong chương trình văn học và khi làm bài Tập làm văn ở lớp 9. Tác phẩm văn học bao giờ cũng là một tổng thể hoàn chỉnh giữa nội dung và phương thức biểu đạt, tức là nghệ thuật. Nghị luận một tác phẩm truyện là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể. Những nhận xét, đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết phát hiện và khái quát. Các nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện trong bài nghị luận phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục. Bài nghị luận về tác phẩm truyện phải có bố cục chặt chẽ, mạch lạc, có lối văn chuẩn xác, gợi cảm. Như vậy, để đáp ứng yêu cầu làm một bài văn nghị luận về tác phẩm truyện, người giáo viên cần cho học sinh hiểu rõ tính chất tổng hợp của kiểu bài nghị luận này. Người giáo viên dạy học sinh phương pháp làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện không thể nghèo nàn cảm xúc. Bởi những trang truyện hay, những số phận của các nhân vật trong truyện đều có cuộc đời riêng, có tư tưởng, tình cảm, nội tâm phong phú và đa dạng. Cho nên trong hướng gợi ý học sinh trình bày những cảm nhận, đánh giá về nhân vật, sự kiện, chủ đề trong tác phẩm truyện phải xuất phát từ những rung cảm chân thật, thẩm mĩ. Đồng thời biết kết hợp linh hoạt nhiều phép lập luận (giải thích, chứng minh, phân tích, ). Trong Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 1 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS khi hướng dẫn học sinh cách làm bài và luyện tập, giáo viên cần chú ý phát huy, động viên tính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng học sinh chứ không gò ép theo những khuôn mẫu. Người giáo viên phải biết khơi gợi những cảm xúc của học sinh, kích thích và nuôi dưỡng, phát triển ở học sinh những nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận thức cái mới qua hình tượng nhân vật, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại, ...Vì vậy, nếu ai đó tự cho rằng mình đã gợi đầy đủ các ý tưởng của tác phẩm qua từng trang truyện thì chưa hẳn là một giáo viên dạy tốt, nắm chắc phương pháp hướng dẫn học sinh cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện. Vì những lý do trên, tôi chọn sáng kiến “Hướng dẫn học sinh viết bài Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích trong Ngữ văn lớp 9” để giúp giáo viên dạy Văn lớp 9 ôn tốt cho học sinh kiểu bài này hơn. 2. Ý nghĩa của giải pháp mới Sáng kiến đưa ra phương pháp dạy kiểu bài Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích lớp 9 với hệ thống tri thức đơn giản, rõ ràng sẽ giúp giáo viên và học sinh nhanh chóng nắm được cách làm bài Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích. Học sinh lớp 9 có thể viết được bài văn nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích với các ý chính cần đạt; giúp những học sinh ngại học môn Văn có thể tự viết được bài văn nghị luận văn học. Sáng kiến có khả năng áp dụng cho tất cả các đối tượng giáo viên dạy Văn, học sinh lớp 9 trong các trường THCS. Giúp cho học sinh thêm yêu thích môn Văn, nhất là những học sinh sợ làm bài nghị luận xã hội. Giúp học sinh biết phân tích, đánh giá những vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học, áp dụng trong cuộc sống như tư tưởng đạo lý, lối sống Có tác dụng rèn kỹ năng sống cho học sinh. Giúp cho học sinh đạt kết quả tốt hơn trong kỳ thi tuyển sinh vào các trường THPT. 3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài - Địa điểm tiến hành nghiên cứu: Lớp 9A, trường THCS thị trấn Neo - Đối tượng: 43 học sinh lớp 9A, trường THCS thị trấn Neo - Lĩnh vực nghiên cứu: Chuyên môn (Môn Ngữ văn lớp 9) II. Phương pháp tiến hành 1. Cơ sở lý luận Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích là có sự kế thừa, nâng cao kiến thức đã cung cấp, kỹ năng đã rèn ở lớp 7,8. Trong bài văn Nghị luận, người viết phải vận dụng nhiều thao tác, kỹ năng như giải thích, chứng minh, phân tích, bình giảng . Bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích thuộc nghị luận văn học, là bài văn nhận xét, đánh giá về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 2 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS thuật của tác phẩm truyện hoặc đoạn trích. Đề bài nghị luận có thể ra về nhân vật, cốt truyện hay về nghệ thuật của tác phẩm. Nghị luận tác văn học nói chung, tác phẩm truyện nói riêng là một kiểu bài nghị luận văn học có vị trí quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp 9. Thông qua việc đọc và học tác phẩm văn học, học sinh chẳng những đã có một vốn khá phong phú vÒ kiến thức văn học (tác phẩm, thể loại ) và cũng đã được nâng cao dần về năng lực cảm thụ, phân tích, bình giá tác phẩm Đồng thời, học sinh phải nêu được những suy nghĩ, cảm thụ của cá nhân trong bài viết. Khi làm kiểu bài này, học sinh phải có kỹ năng thực hiện các bước làm bài, cách tổ chức, triển khai luận điểm về nhân vật, cốt truyện hay nghệ thuật của tác phẩm. 2. Cơ sở thực tiễn Với môn Ngữ văn, nhiều học sinh còn ngại học văn song không phải các em không có hứng thú bởi đây là bộ môn của nghệ thuật ngôn từ. Không ít tác phẩm đã làm say lòng những “sĩ tử” ngại học văn. Nhất là đối với tác phẩm truyện, một tình huống hấp dẫn, một nhân vật tiêu biểu, một chi tiết thắt nút, mở nút... có thể làm thay đổi thái độ của học sinh đối với môn văn. Giáo viên kích thích học sinh ở những điều đó, học sinh sẽ hứng thú tìm hiểu, đánh giá tác phẩm văn học hơn. Tuy nhiên, hiện nay, học sinh ngại học văn, càng ngại viết văn hơn đó là khó khăn lớn nhất. Trong những năm gần đây, học sinh khối lớp 9 viết bài tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác phẩm truyện thường khô cứng, sáo rỗng, lúng túng và máy móc Các em thường dựa vào văn mẫu hoặc dựa vào các ý trong đề cương hay trong dàn ý thầy cô cho sẵn mà viết lại nên rất hạn chế về mạch cảm xúc (không chân thật, còn gượng ép ). Rất ít học sinh chịu khó tìm tòi, khám phá ra các ý mới, ý riêng, ý sâu sắc, ý hay do chính bản thân các em cảm nhận, thật sự rung động với tác phẩm. Mặt khác, đa số các em học sinh thường không tìm hiểu kĩ đề bài và tìm ý trước khi bắt tay vào làm bài viết của mình nên thường lệch lạc kiểu bài, nhầm lẫn các dạng đề. Đề bài Nghị luận về tác phẩm truyện thường có các dạng đề mệnh lệnh và “mở”. Các mệnh lệnh thường gặp là “suy nghĩ” (về nhân vật , tác phẩm ), “cảm nhận của em” (về nhân vật, tác phẩm ). Đối tượng nghị luận có thể là tác phẩm, nhân vật, tư tưởng hay những đổi thay trong số phận nhân vật ) theo phạm vi vấn đề trong các bài đọc hiểu tác phẩm truyện sách giáo khoa) đòi hỏi các em phải có tư duy kiến thức, tích hợp, tổng hợp và phân tích mới đảm bảo được yêu cầu của từng đề bài văn cụ thể. Về phía giáo viên, không ít thầy cô còn e ngại khi dạy phân môn Tập làm văn. Qua nhiều năm theo dõi phong trào thi đua dạy giỏi các cấp và dạy tốt ở trường, giáo viên thường chỉ đăng kí dạy phân môn Giảng văn và Tiếng Việt. Bởi dạy phân môn Tập làm văn nhất là kiểu bài Nghị luận về tác phẩm truyện, Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 3 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS giáo viên phải tìm tòi nghiên cứu kĩ về tác phẩm, phải thực sự nhập tâm vào cốt truyện, vào nhân vật, phải đặt mình trong hoàn cảnh nhân vật sống, nhân vật suy nghĩ và hành động đòi hỏi giáo viên phải vận dụng, tổng hợp nhiều kiến thức, kể cả vốn sống, vốn tư tưởng tình cảm. 3. Các biện pháp tiến hành - T×m hiÓu b»ng c¸ch ®äc, nghiªn cøu tµi liÖu vÒ ph¬ng ph¸p gi¶ng d¹y ph©n m«n TËp lµm v¨n. C¸c bµi viÕt cã tÝnh chÊt khoa häc vµ ®· thµnh gi¸o tr×nh gi¶ng d¹y. - Tham kh¶o ý kiÕn còng nh ph¬ng ph¸p gi¶ng d¹y cña ®ång nghiÖp th«ng qua c¸c buæi häp chuyªn ®Ò, dù giê th¨m líp. - LÊy thùc nghiÖm viÖc gi¶ng d¹y V¨n nghị luận ë trªn líp vµ ®¸nh gi¸ kÕt qu¶ nhËn thøc cña häc sinh, ®Ó tõ ®ã t×m hiÓu nguyªn nh©n rót ra híng rÌn luyÖn häc sinh. 4. Thời gian: Từ ngày 05 tháng 02 năm 2013 đến ngày 05 tháng 4 năm 2014 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Mục tiêu Khi đặt ra vấn đề: Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học văn nghị luận ở bậc THCS? Tôi muốn các đồng nghiệp chia sÎ cùng tôi những kinh nghiệm giảng dạy, trao đổi bàn luận để tìm ra biện pháp thiết thực, khả thi nhất, giải quyết triệt để tình trạng học sinh chỉ chú ý đến môn học tự nhiên hơn môn học xã hội, bộc lộ tình cảm, cảm xúc một cách hạn chế ... Mục đích cuối cùng của người viết sáng kiến này là mỗi giáo viên dạy Văn lớp 9 sẽ hướng dẫn học sinh làm kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích tốt hơn, học sinh biết cách làm bài nghị luận về nhân vật, cốt truyện hoặc nghệ thuật trong tác phẩm truyện, biết thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của mình về nội dung tác phẩm; từ đó, các em đạt kết quả cao trong các bài viết, bài kiểm tra, khảo sát, thi II. Phương pháp tiến hành 1. Mô tả giải pháp Ở các lớp dưới, học sinh đã được học về các kiểu văn bản cụ thể. Chẳng hạn lớp 7 đã học về văn bản biểu cảm, về văn nghị luận (trong đó có phép lập luận chứng minh và phép lập luận giải thích). Lớp 8 học tiếp khá kĩ về văn bản nghị luận, về cách nói và viết bài văn nghị luận có sử dụng các yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả. Vì thế tiết dạy Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) ở lớp 9 phải có sự kế thừa, nâng cao kiến thức, kĩ năng đã rèn luyện ở các lớp trước. Sự kế thừa, nâng cao này cần thể hiện rõ nhất ở việc nhấn mạnh tính tổng hợp của tri thức, của kĩ năng và tăng cường hoạt động thực hành của học sinh. Thật ra trong một bài nghị luận văn học, người viết thường vận Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 4 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS dụng nhiều thao tác, kĩ năng (giải thích, chứng minh, phân tích, bình giảng...) và nhiều khi khó có thể tách bạch một cách rạch ròi các thao tác, kĩ năng. Trong thao tác nghị luận này đã có hoặc đang sử dụng thao tác nghị luận kia. Giáo viên cần chỉ rõ cho học sinh thực tế ấy, từ đó giúp các em biết trình bày một cách có lí lẽ, hấp dẫn những cảm nhận, suy nghĩ, đánh giá của mình về một vấn đề văn học. Bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) thuộc nghị luận văn học là bài văn nhận xét, đánh giá về nhân vật, sự kiện chủ đề hay nghệ thuật của tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích). Đề bài nghị luận có thể đưa ra về nhân vật, về chủ đề, về cốt truyện hay về nghệ thuật của tác phẩm. Đề bài nghị luận này cũng có các dạng: đề mệnh lệnh và đề “mở”. Các mệnh lệnh thường gặp là “suy nghĩ” (về nhân vật..., tác phẩm...), “cảm nhận của em” (về nhân vật..., tác phẩm...). Đối tượng nghị luận có thể là tác phẩm, nhân vật, tư tưởng hay những đổi thay trong số phận nhân vật... (theo phạm vi vấn đề trong các bài đọc hiểu tác phẩm truyện ở sách giáo khoa). Cần cho học sinh hiểu rõ tính chất tổng hợp của kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích): - Trình bày những cảm nhận, đánh giá phải có lí lẽ, lập luận, đồng thời phải qua phân tích, chứng minh bằng các dẫn chứng cụ thể. - Kết hợp đồng thời, linh hoạt nhiều phép lập luận (giải thích, chứng minh, phân tích,...). Trong khi hướng dẫn cách làm bài và luyện tập, giáo viên cần chú ý phát huy động viên tính tích cực sáng tạo của học sinh, rất nên khuyến khích những suy nghĩ, những cách trình bày có màu sắc riêng của các em, tránh gò ép định hướng quá rõ cho học sinh theo những khuôn mẫu. a. Hướng dẫn học sinh phân tích đề Đây là khâu vô cùng quan trọng, trước đây khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này tôi thường xem nhẹ khâu này cho nên trong quá trình làm bài vẫn còn hiện tượng một số học sinh làm sai đề, lạc đề. Trong một đề bài Tập làm văn có những yêu cầu bắt buộc mà người thực hiện đề bài phải tìm ra phương pháp giải. Nếu phân tích đúng yêu cầu của đề bài thì sẽ tìm ra được hướng đi đúng. Ngược lại, nếu phân tích sai thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu của đề, đôi khi còn bị lệch đề, lạc đề . Chính vì thế mà người giáo viên phải hướng dẫn học sinh phải biết phân tích kĩ đề. Một đề bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện không bao giờ đồng nhất một dạng đề đơn điệu. Trái lại, nó có rất nhiều dạng, nhưng chủ yếu ỏ lớp 9 dạng thường gặp 3 dạng đề cơ bản sau đây: Dạng đề I: Suy nghĩ về nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh nhân vật, tác phẩm. Ví dụ như các đề + Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn: “Làng” của Kim Lân. Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 5 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS + Suy nghĩ của em về truyện ngắn “Lặng lẽ Sa pa” của Nguyễn Thành Long. Dạng đề II: Phân tích đặc điểm nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm. Ví dụ như các đề: + Phân tích diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng của Kim Lân (Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65) + Phân tích tâm trạng của Kiều trong đoạn trích: "Kiều ở lầu Ngưng bích” (Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 66) Dạng đề III : Phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn đề .Ví dụ như các đề : + Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương ở truyện Người con gái Nam Xương ( Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65). + Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua tuyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng (Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65) Tuỳ theo mỗi dạng đề bài mà giáo viên hướng dẫn học sinh các thao tác làm bài khác nhau. Đối với dạng đề I và dạng đề II học sinh thường hay nhầm lẫn, giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết phân biệt rõ thế nào là suy nghĩ về nhân vật, về tác phẩm? Thế nào là phân tích nhân vật, tác phẩm? Suy nghĩ về nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm là nghiêng về cảm nhận chủ quan của người viết về nhân vật, tác phẩm hay một khía cạnh nào đó về nhân vật, tác phẩm (không nhất thiết phải phân tích đầy đủ từng đặc điểm của nhân vật hoặc đầy đủ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, có thể chọn những gì mình cảm nhận sâu sắc nhất mà thôi. Ví dụ đề bài: Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn: "Làng" của Kim Lân, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cảm nhận, suy nghĩ về nét nổi bật của nhân vật này là tình yêu làng quyện với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến được bộc lộ trong tình huống nào? Tình cảm ấy có đặc điểm gì ở hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ? (Thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp?) Những chi tiết nghệ thuật nào chứng tỏ một cách sinh động. thú vị tình yêu làng và lòng yêu nước ấy (về tâm trạng, cử chỉ, lời nói ) Trong khi đó yêu cầu của dạng đề II (phân tích nhân vật, tác phẩm hay một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm) là yêu cầu người viết tìm hiểu, đánh giá và nhận xét đầy đủ từng đặc điểm nhân vật, từng giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Đối với dạng đề III: Phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn đề, người giáo viên phải biết tích hợp các kiến thức chương trình Tập làm văn ở các lớp dưới để nâng cao yêu cầu giải quyết đề bài văn dạng này. Ví dụ đối với đề bài: “Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 6 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS tuyện ngắn: "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng (Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65 ), học sinh không phải đơn thuần tập trung phân tích những biểu hiện cụ thể tình cảm cha con của hai nhân vật ông Sáu và bé Thu mà còn phải trình bày những cảm nhận của mình về tình cảm cha con hết sức cảm động trong hoàn cảnh éo le của thời chiến tranh: chịu đựng nhiều thiệt thòi mất mát ; khơi gợi nhiều xúc cảm cho người đọc niềm cảm động, khâm phục, quý mến Từ đó suy nghĩ về tình cảm cha con, tình cảm gia đình trong hoàn cảnh hiện tại: phải biết trân trọng, giữ gìn, vun đắp Từ việc phân tích ba dạng đề nêu trên, giáo viên giúp học sinh nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích, tìm hiểu đề và biết vận dụng thành thạo, linh hoạt để hình thành những thao tác và kĩ năng phân tích đề chính xác, làm cơ sở cho việc tìm ý. Tuỳ theo yêu cầu của mỗi dạng đề (như nghị luận toàn bộ tác phẩm, nghị luận một vấn đề trong tác phẩm hay nghị luận có kết hợp giải quyết một vấn đề có liên quan) mà xác định nội dung và trình tự phân tích (khái quát – phân tích - tổng hợp). Căn cứ vào nội dung và trình tự phân tích, đặt ra và trả lời những câu hỏi để có các ý lớn, ý nhỏ của bài văn. b. Hướng dẫn học sinh tìm ý: Một bài nghị luận tác phẩm văn học nói chung và nghị luận về tác phẩm truyện nói riêng hay, trước hết phải có ý hay. Vậy ý hay là gì? Và thế nào là ý hay? Làm thế nào để tìm ra được những ý hay cho bài. Tác phẩm văn học nhất là tác phẩm truyện là tấm gương phản ánh hiện thực của cuộc sống muôn màu, muôn vẻ thông qua những hình tượng nhân vật với đầy đủ tư tưởng, tình cảm nội tâm phong phú , đặt trong những tình huống, hoàn cảnh có vấn đề mấu chốt, cụ thể, tiêu biểu đại diện cho một tầng lớp nào đó trong cuộc sống đời thường. Vì thế, muốn tìm được ý đúng, ý hay, ý sâu sắc, người giáo viên phải hướng học sinh đọc hiểu tác phẩm truyện. Đọc hiểu trước hết là phải đọc kĩ tác phẩm để nắm cốt truyện, chủ đề, các ý chính, các chi tiết tiêu biểu của từng ý, các dẫn chứng thuyết phục Không đọc kĩ tác phẩm, học sinh khó lòng nắm được ý đồ của tác giả, dễ dàng bỏ qua những điểm đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm; từ đó phân tích hời hợt, đánh giá chung chung. Bởi để viết ra được một tác phẩm, người nghệ sĩ đã phải trải qua những trăn trở, họ tự đặt ra những yêu cầu, những định hướng khắt khe: Viết về vấn đề gì? Viết về đối tượng nào? Viết cho ai? Viết như thế nào? Họ đã phải thay nghén tác phẩm truyện - đứa con tinh thần của họ - suốt bao tháng, bao năm. Họ đã phải chọn lựa từng hình ảnh có thực trong thực tế rồi khái quát lên thành nhân vật, dùng ngòi bút vẽ nên bức chân dung của xã hội sao cho phù hợp với từng thời điểm lịch sử. Họ phải nghiền ngẫm từng chi tiết, đắn đo từng câu, chữ, từng lời ăn tiếng nói, từng hành động của mỗi nhân vật đặt trong những tình huống cụ thể, mấu chốt của tác phẩm. Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 7 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS Ví dụ với đề bài: Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân. Nếu học sinh không đọc kĩ tác phẩm này, thì không thể tìm ra được những ý hay, ý đặc sắc. Các em sẽ dễ dàng rơi vào công thức chung chung, suy nghĩ hời hợt, không khám phá ra nét mới trong tình cảm đối với làng quê của nhân vật ông Hai. Đó là một trường hợp tiêu biểu cho những chuyển biến mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương là một đặc điểm có tính truyền thống nhưng nét đăc sắc ở đây là nhà văn Kim Lân, bằng vốn sống, vốn am hiểu về tâm lí của người nông dân đã đặt ông Hai vào một tình huống gay cấn, thử thách lòng yêu nước tuyệt đối của nhân vật, để buộc nhân vật phải đấu tranh tư tưởng gay go, quyết liệt để chọn lựa một trong hai giữa tình yêu làng và tình yêu nước, trung thành với kháng chiến, với Bác Hồ. Nếu học sinh không đọc kĩ từng trang truyện, thì làm sao thấu hiểu được nỗi lòng của ông Hai với cuộc đấu tranh nội tâm đau đớn, vật vã để cuối cùng nhân vật mới đi đến quyết định dứt khoát: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù”. Rõ ràng để có được những suy nghĩ và nhận xét sâu sắc về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng làm sao các em có thể không đọc kĩ tác phẩm. Có đọc kĩ tác phẩm các em mới cảm thụ hết những tình huống thú vị , các chi tiết hay trong tác phẩm. Từ đó suy nghĩ về nhân vật mới sâu sắc. Sau khi đọc kĩ tác phẩm truyện, khám phá ra được cái hay, cái đẹp,cái đăc sắc trong từng yếu tố nội dung, nghệ thuật và nhân vật, học sinh tự đặt ra và trả lời những câu hỏi để có những ý lớn, ý nhỏ của bài văn. Dưới đây là các dạng câu hỏi gợi ý, giúp học sinh tìm ý: Câu hỏi tìm hiểu tác giả, xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác: Tác giả của tác phẩm truyện sẽ nghị luận là ai? Có những nét gì nổi bật trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác? Sống trong thời kì nào? Có nét riêng, nét độc đáo gì về phong cách cá nhân? Chuyên sáng tác về mảng đề tài nào? Sự nghiệp sáng tác ra sao? Tác phẩm truyện trên được trích từ đâu? Được sáng tác trong hoàn cảnh nào? Tác phẩm được đánh giá như thế nào? Có phải là tác phẩm tiêu biểu cho sự sáng tác văn chương của tác giả không? Câu hỏi tìm hiểu giá trị nội dung : Đề bài gồm mấy ý? Ý nghĩa cụ thể, ý nghĩa khái quát là gì? Những ý nào tập trung biểu hiện chủ đề, tư tưởng của truyện? Nội dung có thể hiện được những vấn đề lớn, bức xúc mà xã hội quan tâm hay không? Có giá trị nhân văn như thế nào? Nhân vật chính của truyện là ai? Đại diện cho từng lớp con người nào trong xã hội? Có những nét tính cách như thế nào? Nét tính cách nào là tiêu biểu nhất? Nét tính Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 8 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS cách đó được thể hiện qua những chi tiết nào? (diện mạo, cử chỉ, lời nói, hành động, tư tëng tình cảm, nội tâm ?) Câu hỏi tìm hiểu giá trị nghệ thuật: Tác phẩm truyện được viết theo phong cách nào? Có nét gì sáng tạo riêng trong nghệ thuật tạo tình huống? Có hình tượng nghệ thuật nào độc đáo? Ngôn ngữ diễn đạt, cấu trúc bố cục của truyện có đặc sắc? Tác phẩm truyện trên có tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của tác giả không? Có thể hiện được bản lĩnh sáng tạo của một nhà văn đầy tài năng và tâm huyết cho một thời đại, một trào lưu văn học không? Câu hỏi gợi mở những hướng xem xét mới: Có thể so sánh, đối chiếu với những tác giả, tác phẩm nào để phân tích tác phẩm được sâu rộng, toàn diện hơn? Tác phẩm truyện có ảnh hưởng gì trong thời đại tác giả đương sống và đối với các thời đại sau này? Tại sao tác phẩm được mọi người yêu thích? Với ngần ấy câu hỏi, không thể nào giáo viên giảng giải một cách cặn kẽ, tỉ mỉ trong quá trình phân tích một đề bài trên lớp. Do đó đòi hỏi người giáo viên phải biết chọn lựa nhưng câu hỏi tìm ý cho phù hợp, có tác dụng khơi nguồn cảm xúc cho các em học sinh. Hay nói cách khác, người giáo viên phải biết chọn điểm đột phá. Bởi mỗi tác phẩm truyện (dù là ngắn hay dài) đều là một kho báu vừa lộ thiên vừa bí mật về nội dung và nghệ thuật. Nhiệm vụ của người giáo viên là giúp cho các em học sinh biết cách khám phá và đột nhập kho báu ấy, nhất là phần sáng tạo kì công của tác giả. Nhưng bắt đầu từ đâu và như thế nào? Đây là vấn đề nghệ thuật giảng dạy. Nếu khéo léo khám phá sẽ có được nhiều cảm xúc, hứng thú gợi mở cho các em học sinh niềm yêu thích, tích cực tư duy làm bài. Bài nghị luận của các em sẽ sâu sắc, tinh tế và chân thật. Nếu không khéo sẽ làm cho các em nhàm chán và bài viết của các em trở nên lạc lõng, hời hợt, tẻ nhạt. * Sau đây là những việc làm cụ thể mà tôi hướng dẫn học sinh tìm ý cho đề bài: “Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân” Khi tìm ý cho đề văn trên , giáo viên nên gợi cho học sinh suy nghĩ theo các câu hỏi sau: + Nhà văn Kim Lân có sở trường gì trong sáng tác truyện ngắn? + Làng là một truyện ngắn ra đời trong hoàn cảnh nào? Có những thành công gì về nội dung và nghệ thuật? + Truyện có kết cấu ra sao? Xoay quanh nhân vật nào? Nhân vật có những đặc điểm gì nổi bật? Tình yêu làng được biểu hiện như thế nào? Tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai được bộc lộ trong tình huống nào? Tình cảm ấy Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 9 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS có đặc điểm gì mới so với vẻ đẹp trong nét tính cách truyền thống của người nông dân? (cụ thể lúc bấy giờ - thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp)? Những chi tiết nghệ thuật nào chứng tỏ một cách sinh động, thú vị tình yêu làng và lòng yêu nước ấy? (Về tâm trạng, cử chỉ, hành động, lời nói ...?) + Em có nhận xét, đánh giá suy nghĩ gì về tư tưởng tình cảm của người nông dân trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp qua nhân vật Ông Hai? (Những nhận thức, tình cảm đúng đắn cao đẹp: Sự nhiệt tình, hăng hái tham gia kháng chiến, lòng tin tưởng tuyệt đối vào kháng chiến vào lãnh tụ ) + Nhân vật ông Hai đã để lại những tình cảm gì trong lòng em? (Sự yêu mến, trân trọng và cảm phục, tự hào ) + Với những câu hỏi tìm ý gợi mở trên, người có thể yên tâm học sinh sẽ đảm bảo đáp ứng tốt nội dung đề bài. Tương tự như thế học sinh có thể tự tìm và trả lời các câu hỏi tìm ý cho bất kì đề bài văn nghị luận nào. Sau khi đã có được ý, bước kế tiếp giáo viên phải hướng dẫn cho các em biết cách sắp xếp các ý (luận điểm, luận chứng, luận cứ theo một trình tự hợp lí. Việc làm này gọi là lập dàn ý. c. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý: Như đã nói ở trên lập dàn ý là sắp xếp các ý đã tìm được ở bước tìm ý theo một trình tự thích hợp lí và xác định mức độ trinh bày mỗi ý theo tỉ lệ thoả đáng giữa các ý. Nếu một bài văn hoàn chỉnh được ví như một ngôi nhà thì dàn ý là cái sườn thiết kế nên ngôi nhà ấy. Viết một bài văn nghị luận cũng thế. Muốn có một bài văn nghị luận hay, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của đề bài một cách rõ ràng, chặt chẽ, có hệ thống, mạch lạc, lập luận thuyết phục người giáo viên phải hướng dẫn học sinh làm tốt bước lập dàn ý này. Có thể hướng dẫn học sinh sắp xếp các ý theo trình tự nội dung, nghệ thuật, rồi đến nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân, nhưng có thể sắp xếp đan xen giữa nôi dung, nghệ thuật và nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân. Cũng có khi việc sắp xếp không bị gò bó theo một trật tự cố định nào. Trong trường hợp này, đòi hỏi học sinh phải có bản lĩnh viết văn, phải có dụng ý nghệ thuật trong cách sắp xếp trình bày lập luận để đạt được mục đích yêu cấu của đề bài, làm sáng tỏ vấn đề. Thông thường dàn bài chung cho bài văn nghị luận về tác phẩm truyện theo một trình tự như sau: 1. Mở bài: Giới thiệu tác phẩm truyện hay một đoạn trích (tuỳ theo yêu cầu cụ thể của đề bài) và nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của mình . 2. Thân bài: Nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm; có phân tích, chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu và xác thực. 3. Kết bài: Nêu nhận định, đánh giá chung của mình về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích. Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 10 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS Điểm lưu ý trong cách làm bài văn nghị luận là trong bài văn không phải bao giờ các ý cũng được trình bày dàn đều nhau mà nên có chỗ đậm, chỗ nhạt, chỗ nói kĩ, chỗ nói lướt qua. Cho nên, ngay ở khâu lập dàn ý, sau khi sắp xếp ý, ta nên cân nhắc, định trước tỉ lệ dành cho mỗi ý trong bài để chủ động xây dựng một bài văn cân đối, có chiều sâu, tạo được điểm nhấn hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Thông thường ý được nói kĩ là trọng tâm. Ví như với đề bài: “Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân”, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lập dàn bài như sau: 1. Mở bài: Giới thiệu truyện ngắn Làng và nhân vật ông Hai – nhân vật chính của tác phẩm, một trong những nhân vật thành công bậc nhất của văn học thời kì kháng chiến chống Pháp . 2. Thân bài: a. Triển khai các nhận định về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai và nghệ thuật đặc sắc của nhà văn. * Tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai là tình cảm nổi bật xuyên suốt toàn truyện + Chi tiết đi tản cư nhớ làng + Theo dõi tin tức kháng chiến + Tâm trạng khi nghe tin làng Chợ Dầu theo Tây + Niềm vui tin đồn được cải chính * Nghệ thuật xây dựng nhân vật + Chọn tình huống tin đồn thất thiệt để thể hiện diễn biến tâm trạng nhân vật + Các chi tiết miêu tả nhân vật + Các hình thức trần thuật (đối thoại, độc thoại ) b. Nhận xét, đánh giá về nhân vật: Nhân vật ông Hai đã có những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân (Những nhận thức mới, những tình cảm mới mẻ: Sự nhiệt tình, hăng hái tham gia kháng chiến, lòng tin tưởng tuyệt đối vào kháng chiến, vào lãnh tụ ). Tình yêu làng đã được nâng lên thành tình yêu nước, sẵn sàng hy sinh tình cảm riêng, của cải riêng (nhà ông bị Tây đốt nhẵn ông vẫn vui sướng, tự hào). Là nhân vật để lại nhiều tình cảm đẹp trong lòng người đọc: Sự yêu mến, trân trong và cảm phục. 3. Kết bài : Sức hấp dẫn của hình tượng nhân vật. Thành công của nhà văn khi xây dựng hình tượng nhân vật ông Hai. Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 11 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS Bên trên là một dàn ý tiêu biểu cho một bài văn nghị luận về tác phẩm truyện, hoc sinh có thể dựa vào ý trên để thiết lập cho những bài văn cụ thể khác. Lưu ý khi lập dàn ý cần tránh các lỗi sau: - Lạc ý: Là những ý không đúng với yêu cầu về nội dung và phương pháp nghị luận nêu trong đề bài. Ví dụ: Yêu cầu của một bài văn nghị luận là những luận điểm luận cứ, luận chứng mà học sinh lại nêu ý miêu tả hoặc kể chuyện. - Ý không phù hợp với nội dung: Ví dụ: Đề yêu cầu nêu suy nghĩ về nhân vật mà dàn bài lại đưa ra ý phê phán thái độ của nhân vật hoặc đề ra phương hướng giải quyết khác như nêu quan niệm sống, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân tiêu cực hay sa vào bình luận về giá trị tác phẩm và những đóng góp của tác giả. - Thiếu ý: Có thể thiếu một số ý lớn so với yêu cầu đề bài hoặc một số ý nhỏ. Ví dụ: Tình yêu làng yêu nước của nhận vật ông Hai trong truyện ngắn làng của tác giả Kim Lân được triển khai thành bốn ý nhỏ mà dàn ý chỉ có ba hoặc hai. - Lặp ý: Là ý sau lặp lại hoàn toàn ý trước. Ví dụ: Với đề bài : “Suy nghĩ về tình cha con trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng nếu học sinh không khéo triển khai tình cảm của bé Thu với cha và ngược lại tình cảm của ông Sáu với bé Thu thì sẽ dễ lặp ý. - Sắp xếp ý lộn xộn: Là sắp xếp không theo thứ tự nào, đảo lộn cả giá trị nội dung, nghệ thuật. Đây là hiện tượng viết văn tuỳ tiện, gặp đâu nói đấy, không chuẩn bị kỹ dàn ý. Khi đã có cái để viết, có dàn ý, bước kế tiếp, giáo viên hướng dẫn học sinh chuyển sang phần luyện viết văn với mục đích để rèn kĩ năng diễn đạt của các em. d. Hướng dẫn học sinh viết đoạn và liên kết đoạn: Từ dàn ý đã có sẵn, các em có thể viết thành đoạn, thành bài. Các em được giáo viên hướng dẫn viết từng đoạn tiêu biểu: Đoạn mở bài, đoạn thân bài, đoạn kết bài. * Đoạn mở bài: Là đoạn văn khởi đầu của bất cứ bài văn nào. Nó là đoạn giới thiệu vấn đề được nghị luận trong bài văn, đồng thời khơi gợi, lôi cuốn người đọc sự chú ý đối với vấn đề đó. Nguyên tắc viết mở bài: - Cần nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài. - Chỉ được phép nêu những ý khái quát (học sinh không được lấn sang phần thân bài: Giảng giải, minh hoạ hay nhận xét, đánh giá ý kiến nêu trong đề bài. Cách mở bài: Có rất nhiều cách mở bài. Tuỳ dụng ý của người làm mà có thể vận dụng một trong những cách sau đây: - Mở bài trực tiếp: Giới thiệu ngay vấn đề cần nghị luận. Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 12 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS - Mở bài gián tiếp: Nêu ra những ý kiến có liên quan đến vấn đề cần nghị luận (từ khái quát đến cụ thể, so sánh đối chiếu, tương đồng, tương phản ) Sau đây là mấy cách mở bài tham khảo cho đề bài: “Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân”. + Cách trực tiếp: Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là người nông dân có tinh yêu làng quyện với lòng yêu nước, trung thành với kháng chiến và lãnh tụ. Đó là nét mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc. + Cách gián tiếp: (có nhiều cách gián tiếp, sau đây là hai cách để tham khảo) Cách 1: Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Kim Lân là một gương mặt độc đáo. Do hoàn cảnh sống của mình, ông am hiểu sâu sắc sinh hoạt , tâm lý của người nông dân. Kim Lân được xem là nhà văn của nông thôn, của người dân quê Việt Nam với những vẻ đẹp mộc mạc mà đậm đà. “Làng” là một truyên ngắn đặc sắc nhất của Kim Lân. Tác phẩm này được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thể hiện một cách sinh động vẻ đẹp của tình yêu làng, lòng yêu nước ở người nông dân. Ai đến với “Làng”, chắc khó quên được ông Hai - một nhân vật nông dân mang những nét đẹp thật đáng yêu qua ngòi bút khắc hoạ tài tình của Kim Lân. Cách 2: Tình yêu làng, sự gắn bó nơi chôn nhau cắt rốn là một tình cảm sâu nặng ở con người Việt Nam nói chung, đặc biệt ở người nông dân nói riêng. Lịch sử văn học dân tộc từng xây dựng thành công nhiều nhân vật mang tình cảm đáng quý ấy. Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những trường hợp như thế. Sau khi đã hướng dẫn cụ thể cho học sinh các cách mở bài trên, giáo viên tiến hành cho học sinh rèn viết đoạn mở bài và tin chắc rằng học sinh sẽ viết tốt. Bước kế tiếp, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh viết phần thân bài (gồm nhiều đoạn, giáo viên có thể chọn cho học sinh viết một đoạn tiêu biểu). * Đoạn thân bài: Phần thân bài sẽ lần lượt trình bày, giải thích, nhận xét, đánh giá các luận điểm của vấn đề được đặt ra trong đề bài (thực hiện vừa đủ, không thiếu, không thừa các nhiệm vụ đã đề ra ở phần mở bài). Ở từng luận điểm, cần có sự phân tích, chứng minh cụ thể, chính xác bằng những dẫn chứng sinh động trong tác phẩm. Giữa các luận điểm, đoạn văn cần có sự liên kết, chuyển tiếp một cách linh hoạt, uyển chuyển, tránh gò bó, máy móc, công thức. Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 13 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS Dưới đây là một trong những đoạn thân bài của đề bài: “Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân” mà giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh tham khảo. Lòng yêu nước, yêu làng của nhân vật ông Hai được thể hiện một cách cảm động qua diễn biến tâm trạng của ông. Tác giả đã sáng tạo ra một tình huống bất ngờ, đầy kịch tính thử thách tình yêu làng của ông Hai là có tin đồn về làng Chợ Dầu đã theo giặc. Ông Hai vô cùng đau xót: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẵn lại, da mặt tê rân rân, ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được Ông cúi gầm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông nằm vật ra giường không dám đi đâu. Ông buồn, ông xấu hổ. Ông tự tranh luận với mình, tự dằn vặt mình hoặc đâm cáu gắt với vợ Đêm, ông trằn trọc không sao ngủ được; ông hết trở mình bên này, lại trở mình bên kia thở dài ,... chân tay ông lão nhũn ra , Tin đồn loang xa, mụ chủ nhà hay được lại đuổi khéo gia đình ông. Ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc. Ông có nghĩ đến việc trở về làng nhưng liền sau đó ông phản kháng lại ngay, ông phẫn uất nói: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù”.Thật là tuyệt đường sinh sống! Ông quyết không trở về làng vì về làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ. Ông chỉ còn biết tâm sự với đứa con nhỏ ngây thơ. Qua những lời tâm sự mộc mạc, chân thật đầy cảm động với con, ta thấy được tấm lòng yêu nước cao đẹp của người nông dân này. Như nhà văn hào I-li-a Ê-ren-bua có nói: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu đồng quê trở nên lòng yêu nước”. Ông Hai đúng là một con người như thế - một con người thiết tha yêu làng, vì yêu làng nên ông yêu nước, kính yêu cụ Hồ, quyết trung thành với kháng chiến. Đó chính là nét đẹp mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Bên trên chỉ là một đoạn tiêu biểu của phần thân bài (gồm nhiều đoạn), giáo viên có thể hướng dẫn học sinh viết các đoạn khác nhau của các đề khác. Dù là đoạn văn nào thì giáo viên cũng phải phân tích cho học sinh thấy rõ các cách trình bày nội dung một đoạn văn. Đoạn thân bài trên được phân tích cách trình bày như sau: Đoạn văn trên gồm 17 câu. Câu (1) là câu diễn đạt ý chính của đoạn: nêu khái quát đặc điểm yêu nước, yêu làng của nhân vật ông Hai. (Câu này còn gọi là câu chủ đề). Từ câu (2) đến câu (16) là các câu diễn giải cho ý chính (lòng yêu nước của nhân vật ông Hai). Đó là những lí lẽ và dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu, chính xác, sinh động. Câu (17) (câu cuối) là câu khẳng định lại và nâng cao lòng yêu nước của nhân vật ông Hai (là vẻ đẹp mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp). Từ việc phân tích cách viết đoạn trên, giáo viên có thể minh hoạ bằng sơ đồ đoạn văn nghị luận như sau: Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 14 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS KHÁI QUÁT PHÂN TÍCH Ý DIỄN GIẢI, DẪN CHỨNG TIÊU BIỂU TỔNG HỢP * Đoạn kết bài: Đoạn kết bài phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài: Chỉ nêu những ý nhận xét, đánh giá khái quát, không trình bày lan man hay lặp lại ý diễn giải, minh hoạ ,cụ thể, chi tiết. Cũng không nên lặp lại nguyên văn lời lẽ của phần mở bài. Khác với mở bài, phần kết bài thiên về đánh giá, tổng kết vấn đề. Có nhiều cách kết bài khác nhau, tuỳ theo dụng ý của người viết. Có khi kết bài là tóm tắt, khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Có khi kết bài là tổng hợp những cảm nhận sâu sắc về nhân vật, tác giả, tác phẩm. Có khi kết bài lại là liên tưởng đến các vấn đề khác có liên quan. Thế nên, để hướng dẫn học sinh viết được những kết bài sâu sắc, người giáo viên cần phải giúp học sinh nhận thức được tầm quan trọng của đoạn kết bài (không chỉ khép lại, hoàn chỉnh bài văn mà còn làm cho bài văn thêm khái quát, nâng cao về mọi mặt: Tư tưởng, tình cảm, chủ đề, quan niệm sống tốt đẹp ) Dưới đây là hai cách kết bài cho đề bài văn: Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân. Cách 1: Đánh giá nhân vật và khẳng định giá trị tác phẩm Ông Hai trong truyện ngắn Làng là một nhân vật tạo ấn tượng sâu sắc đối với người đọc. Qua truyện này, bằng những tình huống, chi tiết chân thật, thú vị, bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí sinh động, Kim Lân đã đem đến cho chúng ta một hình tượng hấp dẫn về người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình yêu thiết tha, sự gắn bó sâu năng với làng quê, đất nước của nhân vật ông Hai luôn luôn có ý nghĩa giáo dục thấm thía đối với các thế hệ bạn đọc. Cách 2: Cảm nhận sâu sắc về nhân vật và tác giả, tác phẩm Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 15 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS Trong số rất nhiều nhân vật nông dân từ những trang truyện đi vào lòng người đọc và đã chiếm được tình cảm yêu thương, quý mến, trân trọng nơi trái tim sâu kín của mỗi người , có thể nói người đọc khó có thể quên được nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng của Kim Lân - một người nông dân thuần phác, yêu làng, yêu nước chứa chan, sâu nặng ,một lòng trung thành với kháng chiến, với cụ Hồ - đã trở thành hình tượng nhân vật tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhà văn Kim Lân đã diễn tả được diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật bằng chất liệu ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, tạo được tình huống bất ngờ, thú vị. Chính vì thế, nhà văn Kim Lân được đánh giá là cây bút hàng đầu về đề tài nông thôn và người nông dân . 2. Phạm vi áp dụng: Sáng kiến của tôi có thể được áp dụng để giảng dạy cho nhiều đối tượng học sinh, nhiều trường học khác nhau. Đơn vị áp dụng sáng kiến nên có những điều kiện cần thiết để hỗ trợ giáo viên trong các giờ dạy. Cụ thể là trong thư viện của nhà trường cần có những tài liệu liên quan đến các bộ môn nói chung. Vì đó là những tư liệu cần thiết giúp cho giáo viên chủ động về nội dung và phương pháp giảng dạy. Đồng thời các đơn vị áp dụng sáng kiến cũng cần trang bị những phương tiện dạy học hiện đại như máy tính, đèn chiếu, đài, băng, đĩa... để mỗi giờ học sẽ sinh động và hứng thú hơn với học sinh. Tổ chức trao đổi kinh nghiệm với bạn bè đồng nghiệp, giúp đồng nghiệp có điều kiện học hỏi nhiều điều về nội dung về phương pháp giảng dạy. Có như vậy sáng kiến ấy mới thực sự có giá trị và có sức sống trong hoạt động dạy học. 3. Hiệu quả Với phương pháp giảng dạy bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) tôi đã trình bày ở trên tôi thấy học sinh hiểu bài tốt hơn, các em hào hứng, say mê học văn và viết văn hơn trước. Các em đã có kĩ năng phân tích tìm hiểu một tác phẩm văn học nói chung. Từ đó việc học tập các môn học khác của các em cũng tốt hơn. Qua các kì thi tuyển sinh vào THPT, nhiều học sinh đạt điểm Ngữ Văn cao hơn những năm trước vì thế tỉ lệ đỗ vào các trường THPT cũng cao hơn. Chi phí đào tạo cho các em giảm bớt rõ rệt. Các em nhận được nhiều sự động viên khen thưởng về vật chất của các hội khuyến học trong nhà trường, ở điạ phương và các dòng họ. Với những định hướng ở trên tôi đã giúp học sinh rèn luyện cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích nói riêng), cách làm một bài văn nói chung tốt hơn. Học sinh say mê yêu thích môn học, học sinh gắn bó với trường lớp, với bạn bè không vi phạm các vấn đề về đạo đức hay các tệ nạn xã hội. Cũng từ đó mà phụ huynh học sinh đã có những nhận thức đúng đắn hơn, tích cực hơn với bộ môn Ngữ Văn. Trước đây phụ huynh thường xem nhẹ bộ Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 16 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS môn này và khuyến khích con em mình hướng vào các bộ môn Khoa học Tự nhiên nhiều hơn. Vì phụ huynh cho rằng đây là những môn quan trọng sẽ có tác dụng với học sinh hơn trong việc thi Đại học cũng như trong cuộc sống sau này. Giờ đây nhiều phụ huynh đã khuyến khích con em mình học Văn cũng như các bộ môn Khoa học Xã hội khác. Bởi môn nào cũng quan trọng và đều giúp ích cho học sinh sau này. 4. Kết quả cụ thể: Với tâm huyết giảng dạy thật tốt kiểu bài phân tích tác phẩm truyện và qua tích luỹ một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinh phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn và liên kết đoạn, tôi đã giúp học sinh của các lớp do chính tôi trực tiếp giảng dạy đạt được kết quả tốt trong các kì kiểm tra học kì II và thi Tuyển vào lớp 10 luôn đảm bảo chỉ tiêu, chất lượng đạt 100 % . Đa số bài làm của các em đều đáp ứng được yêu cầu của đề; khai thác được ý hay, ý sâu sắc; phân tích tinh tế, có cảm xúc, biết tìm tòi và sáng tạo mang phong cách riêng, không còn gượng ép, máy móc hay khuôn sáo. Rất ít bài làm sơ lược, ý nghèo nàn hoặc không tìm được ý. Theo dõi tỷ lệ học sinh làm bài văn Nghị luận văn học trong kỳ thi tuyển vào lớp 10 (2013 - 2014), tôi đã thống kê được chất lượng như sau: Tỉ lệ đạt Tỉ lệ học Tỉ lệ đạt Tỉ lệ đạt điểm Tỉ lệ học điểm trung sinh kÐm điểm 8-9 6.5->7.5 sinh yếu bình 20% 65% 15% 0 0 Chính hiệu quả đạt được trên, đã động viên, thôi thúc tôi hoàn thành kinh nghiệm giảng dạy này. C. PHÇN kÕt luËn 1. Nhận định chung Đối với thi sĩ, sáng tác được một câu thơ, một bài thơ hay là niềm hạnh phúc. Còn đối với người giáo viên dạy Ngữ văn chúng tôi, việc nghiền ngẫm, trao đổi với nhau qua bao tháng năm trên bục giảng để hiểu được đúng, thấm được sâu từng trang truyện, từng nhân vật, từng yếu tố nội dung và nghệ thuật của tác phẩm mà nhà văn muốn gửi gắm vào đó một lời nhắn nhủ, một tư tưởng tình cảm mới mẻ, tốt đẹp... Là nguồn vui lớn, say mê với đời, với sự nghiệp dạy Văn. Và đối với tôi, việc tích luỹ một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinh cách làm tốt bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là điều tôi tâm đắc. Có thể nói, hướng dẫn học sinh cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện tức là đi tìm và khám phá ra cái hay, cái đẹp trong văn chương nghệ thuật. Từ khâu phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn và liên kết đoạn là cả một quá trình lao động nghệ thuật sáng tạo. Giúp các em hiểu ra chân lí ấy sẽ là con đường ngắn nhất hướng các em yêu thích văn chương và có hứng thú khi Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 17 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS làm bài tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm truyện nói riêng. 2. Những điều kiện áp dụng - Giáo viên dạy Văn lớp 9 say mê tìm tòi biện pháp nâng cao chất lượng dạy học. Học sinh lớp 9 yêu thích môn Văn, mong muốn có kết quả học tập môn Văn tốt nhất. 3. Triển vọng vận dụng và phát triển Sau sáng kiến này, tôi dự định sẽ tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi để tiếp tục tìm giải pháp đối với kiểu bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ. Từ đó, hoàn chỉnh tập sáng kiến về Nghị luận văn học ở lớp 9 nói riêng và ở bậc THCs nói chung. 4. Những đề xuất, kiến nghị a. Đối với giáo viên: Trước khi hướng dẫn học sinh làm một đề bài về một tác phẩm truyện nào đó giáo viên cần đọc kỹ tác phẩm, sưu tầm những tài liệu xung quanh tác phẩm như: Tiểu sử tác giả, cuộc đời, sự nghiệp, bối cảnh lịch sử khi tác phẩm ra đời những nhận xét, đánh giá của những nhà phê bình văn học, nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước về tác phẩm. Mỗi năm học phải tìm cho mình nhiều biện pháp mới, thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ hiểu biết và tiếp cận tri thức mới để vận dụng trong dạy học đạt kết quả cao. Ngoài ra giáo viên nên sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học hiện đại như giáo án điện tử, đèn chiếu, băng, đĩa... phù hợp với yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện đại và tạo ra hứng thú cho học sinh trong từng giờ dạy. b. Đối với học sinh: Trước hết các em phải chủ động và có tâm thế thoải mái khi đón nhận các tiết học Ngữ Văn đặc biệt là với tiết làm văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích). Các em cần đọc kĩ văn bản, ôn lại các kiến thức về văn bản đã được học ở tiết học văn bản. Đồng thời các em cần sưu tầm tài liệu để tham khảo ý kiến của các nhà phê bình văn học hoặc của các tác giả, bài làm của các bạn khác để vận dụng khi phân tích tìm hiểu một tác phẩm cụ thể. Các em cũng không nên quá phụ thuộc vào các bài văn mẫu hoặc những khuôn mẫu có tính chất gò ép. Trong mỗi bài làm các em cần thể hiện rõ sự sáng tạo và ý kiến cá nhân của bản thân về mỗi tác phẩm. Đây là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi viết, không sao chép nội dung của người khác. Thị trấn Neo, ngày 19 tháng 10 năm 2014 Người viết Lưu Thị Hải Hà Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 18 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN (Xác nhận, đánh giá, xếp loại) . . . . . . . . . PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO (Xác nhận, đánh giá, xếp loại) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 19 Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – THCS TƯ LIỆU THAM KHẢO 1. Phương pháp làm bài Nghị luận tác phẩm Văn học 9 của Hoàng Đức (Nhà xuất bản GD Thành phố Hồ Chí Minh) 2. Hiểu Văn, dạy Văn của Nguyễn Thanh Hùng (Nhà xuất bản GD Thành phố Hồ Chí Minh) 3. Đọc Văn, học Văn của Trần Đình Sử ( NXBGD 2002) 4. Để hiểu thêm một số tác giả và tác phẩm Văn học Việt Nam hiện đại của Nguyễn Ngọc Thu (Nhà xuất bản GD) 5. Sách Ngữ văn 9 hiện hành (SGK & SGV) 6. Tài liệu tham khảo soạn kĩ năng làm văn nghị luận của Vụ GD – TH 7. Tiếp cận và đánh giá tác phẩm truyện sau Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Văn Long (Nhà xuất bản GD ) Lưu Thị Hải Hà - Trường trung học cơ sở Thị trấn Neo, Yên Dũng, Bắc Giang 20
Tài liệu đính kèm: