1.Phần mở đầu. 1.1. Lí do chọn sáng kiến: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học. Nhu cầu của xã hội ngày càng cao, đòi hỏi phải tạo ra những con người "Năng động - sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề" phục vụ cho công cuộc CNH - HĐH đất nước. Đặc biệt, để thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" thì việc đầu tư, bồi dưỡng cho thế hệ tương lai là việc làm cần thiết và quan trọng. Cùng với nhiệm vụ "Nâng cao dân trí; Đào tạo nhân lực" thì nhiệm vụ "Bồi dưỡng nhân tài" cũng là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Ngày 26/12/2018, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ký ban hành Thông tư số 32/2018/TT- BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới. Đó là Chương trình phổ thông hình thành và phát triển năng lực, thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh các phẩm chất và năng lực cốt lõi; quy định chuẩn kiến thức, kĩ năng, phạm vị và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông. Chương trình GDPT 2018 thực hiện theo lộ trình,từ năm học 2020-2021 thực hiện đối với lớp 1; Năm học 2021-2022 thực hiện đối với lớp 2 và lớp 6; Năm học 2022-2023 thực hiện đối với lớp 3, lớp 7 và lớp 10; Năm học 2023-2024 thực hiện đối với lớp 4, lớp 8 và lớp 11; Năm học 2024-2025 thực hiện đối với lớp 5, lớp 9 và lớp 12; Là một cán bộ quản lý giáo dục của nhà trường, trong quá trình quản lý và chỉ đạo chuyên môn, bản thân tôi thường xuyên trăn trở, suy nghĩ tìm mọi cách để cùng tập thể sư phạm nhà trường từng bước tháo gỡ khó khăn, khai thác các điều kiện thuận lợi và các nguồn lực để thực hiện thành công chương trình GDPT 2018, nhất là năm đầu tiên với lớp 6. Xuất phát từ những lý do nêu trên, sau một thời gian dài tìm tòi, nghiên cứu, tôi mạnh dạn lựa chọn và đưa ra “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện Chương trình GDPT 2018 ở trường THCS Xuân Phú”, với mong muốn được góp phần nhỏ cùng tập thể giáo dục nhà trường và nhân dân địa phương tìm ra hệ thống các giải pháp phù hợp nhằm không ngừng nâng cao chất lượng thực hiện chương trình GDPT 2018 ngay từ năm đầu tiên áp dụng ở trường THCS Xuân Phú. Sáng kiến này chưa có tác giả nào nghiên cứu và áp dụng cho trường THCS Xuân Phú. 1.2. Những điểm mới trong sáng kiến: Thể hiên rõ nội dung chỉ đạo thực hiện chương trình GDPT 2018 với lớp 6, là năm đầu tiên thực hiện với bậc THCS. Đổi mới công tác quản lý: Xây dựng kế hoạch giáo dục mang tính cụ thể tới từng tiết học, từng hoạt động của từng lớp. Bồi dưỡng đội ngũ CBGV: Thực hiện bồi dưỡng trực tuyến và tự bồi dưỡng trên trang: taphuancsdl.edu.vn Thực hiện đổi mới PPDH có hiệu quả trong từng tiết lên lớp theo hướng phát huy năng lực và phẩm chất người học. Tích cực chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá theo Thông tư 22/2021/TT-BGDĐTvới nhiều nội dung mới. Ứng dụng CNTT vào giảng dạy và quản lí học sinh là nhiệm vụ thường xuyên của CBQL và mỗi giáo viên. 2. Phần nội dung “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện Chương trình GDPT 2018 ở trường THCS Xuân Phú” 2.1. Thực trạng nội dung cần nghiên cứu. a. Đặc điểm tình hình địa phương. * Điều kiện tự nhiên. Xuân Phú là một xã nông thôn của huyện Yên Dũng. Phía Bắc giáp xã Hương Gián, phía Đông giáp xã Lãng Sơn, phía Tây và phía Nam được bao quanh bời con Sông Thương. Đường giao thông nội địa còn tương đối thuận lợi. Điều kiện kinh tế khá phát triển, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo thấp. * Điều kiện xã hội. - Thuận lợi: Trong những năm gần đây, Đảng uỷ, UBND và các tổ chức chính quyền đã có phần quan tâm đến sự nghiệp giáo dục của xã nhà, nhiều gia đình đã để ý tới việc học hành của con em mình. Xã được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao tháng 12 năm 2020. Hệ thống giáo dục của xã gồm có 3 trường: 1 trường mầm non, 1 trường tiểu học, 1 trường THCS. Cơ sở vật chất của nhà trường có đủ phòng học để thực hiện dạy 1 ca, cả 3 trường đều đạt chuẩn Quốc gia - Khó khăn: Đời sống một bộ phận nhân dân trong xã còn khó khăn, một số cán bộ và nhân dân chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em mình. Một bộ phận phụ huynh đi làm ăn xa, phó mặc việc dạy dỗ, giáo dục học sinh cho nhà trường; một số học sinh chưa tích cực, hợp tác cùng giáo viên bộ môn, bạn bè trong việc học tập. b. Tình hình nhà trường THCS Xuân Phú. *Năm học 2021-2022: Năm học 2021-2022, nhà trường có 33 cán bộ giáo viên, trong đó: CBQL: 2 đ/c; GV 28 đ/c; nhân viên hành chính: 3 đ/c. Số lượng Đảng viên: 22 = 66,7%; có 27/28 GV = 96,4 % giáo viên có trình độ đạt chuẩn. Trường có 12 lớp với 460 học sinh : Khối 6 có 3 lớp với 121 em, Khối 7 có 3 lớp với 121 em, Khối 8 có 3 lớp với 95 em, Khối 9 có 3 lớp với 123 em * Thuận lợi và khó khăn: - Thuận lợi: Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, sự nghiệp giáo dục xã Xuân Phú đang chuyển biến mạnh mẽ, chất lượng giáo dục được nâng lên rõ rệt. Cơ sở vật chất nhà trường ngày càng được đầu tư theo hướng chuẩn hoá, nhà trường có 12 phòng học kiên cố, bàn ghế đủ, trường được công nhận đạt chuẩn Quốc gia tháng 12 năm 2020 . Trang thiết bị dạy học, sách giáo khoa tương đối đầy đủ đảm bảo cho dạy học theo phương pháp mới. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trẻ, khoẻ, nhiệt tình, tâm huyết với nghề, có năng lực chuyên môn, đoàn kết nội bộ, đạt chuẩn 96,4%. Học sinh ngoan ngoãn, nghe lời thầy cô, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, có ý thức trong việc học tập. - Khó khăn: Cơ sở vật chất nhà trường xây dưng được nhiều năm nên diện tích các phòng nhỏ so với tiêu chuẩn. Trang thiết bị dạy học, được cấp nhưng đã quá cũ và hư hỏng nhiều; tài liệu, sách tham khảo chưa có nhiều. Chất lượng học sinh đầu vào: còn hiều học sinh thấp, không đồng đều. Là năm học đầu tiên thực hiện chương trình GDPT 2018 đối với bậc học THCS nên nhiều vấn đề mới, giáo viên còn nhiều bỡ ngỡ. Đội ngũ giáo viên chưa cân đối ở các bộ môn nên việc phân công thực hiện chương trình lớp 6 còn khó khăn, có giáo viên còn phải dạy nhiều tiết ở từng thời điểm. * Thực trạng công tác thực hiện chương trình GDPT 2018. Đây là năm đầu tiên thực hiện chương trình GDPT 2018 đối với lớp 6 nên các hoạt động giáo dục của nhà trường và với mỗi giáo viên đều là mới nên CBQL nhà trường cũng như mỗi giáo viên luôn tìm hiểu, nghiên cứu từng bước để áp dụng sao cho đảm bảo được nội dung chương trình và phù hợp với thực tế về cơ sở vật chất và đội ngũ của nhà trường. 2.2. Kết quả, giải pháp. Để thực hiện hiệu quả chương trình GDPT 2018 đối với lớp 6 ở năm học 2021-2022, trên cơ sở thực tiễn của nhà trường, Hiệu trưởng cùng tập thể nhà trường thực hiện một số nội dung và đạt được kết quả như sau: a.Đầu tư cơ sở vật chất: Đề chuẩn bị cho việc áp dụng chương trình SGK lớp 6, năm học 2021-2022, ngay từ đầu năm học, nhà trường đã tiến hành rà soát các hạng mục cơ sở vật chất, tiến hành tu sửa, sắp xếp cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện có một cách phù hợp, nâng cao hiệu quả sử dụng; xây dựng kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm bổ sung, tự làm thiết bị dạy học và lựa chọn SGK để thực hiện CTPT. Hiện nay các phòng học lớp 6 đều có TV thông minh, máy tính để bàn, wifi, bảng trượt để phục vụ các hoạt động dạy và học cũng như các hoạt động giáo dục khác. Nhà trường được cấp trên đầu tư đầy đủ các trang thiết bị cho các giờ thực hành, thí nghiệm, thiết bị dạy ác hoạt động trải nghiệm đáp ứng được nhu cầu dạy vài học. Tham mưu với địa phương xây dựng cơ sở vật chất để đáp ứng yêu cầu, đẩy mạnh công tác truyền thông đến cha mẹ học sinh về Chương trình phổ thông mới. b.Tổ chức nghiên cứu, thảo luận về nội dung chương trình SGK lớp 6 và chọn SGK lớp 6 Ngay từ khi Bộ GD ĐT ban hành danh mục SGK lớp 6, nhà trường đa triển khai cho giáo viên tiến hành nghiên cứu, thảo luận về nội dung của từng cuốn sách ở các bộ môn khác nhau, tìm ra những ưu điểm hạn chế ở các bộ sách để từ đó có những đánh giá cụ thể và làm cơ sở để có sự lựa chọn bộ SGK phù hợp với thực tế hoạc sinh và nhà trường, địa phương. Cán bộ quản lí, giáo viên nhà trường đã tiến hành tìm hiểu sách giáo khoa bản điện tử trên các trang của nhà xuất bản cùng các sách hướng dẫn để hiểu sâu hơn nội dung mỗi cuốn sách. Nhà trường đã công bố Quyết định danh mục SGK được Bộ GDĐT, UBND tỉnh phê duyệt làm căn cứ để giáo viên bộ môn nghiên cứu, tìm hiểu lần nữa rồi quyết định lựa chọn, thiết lập hồ sơ theo các bước quy định. Kết quả: nhà trường lựa chọn được 01 bộ sách giáo khoa Cánh diều để sử dụng cho học sinh lớp 6, năm học 2021-2022. c.Xây dựng kế hoạch giáo dục. Hiệu trưởng cùng tập thể giáo viên nhà trường đã tiến hành rà soát toàn bộ các điều kiện cần thiết để xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường, của tổ chuyên môn và của giáo viên. Tiến hành xây dựng kế hoạch giáo dục theo các bước quy định, đảm bảo nội dung, giải pháp phù hợp với đặc điểm nhà trường, triển khai lấy ý kiến rộng rãi trong Hội đồng nhà trường để cùng góp ý và hoàn thiện Kế hoạch. Trong kế hoạch của nhà trường thể hiện rõ được sự phân công cụ thể nhiệm vụ từng giáo viên dạy ở các lớp, trong đó có lớp 6 (Phụ lục 1 kèm theo). Hiệu trưởng đã chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng kế hoach giáo dục của tổ chuyên môn đảm bảo đầy đủ các nội dung về hoạt động chuyên môn trong năm học của tổ, trong đó một trong số các nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện chương trình GDPT 2018 đối với lớp 6. Kế hoạch của tổ chuyên môn được Ban giám hiệu nhà trường phê duyệt và thực hiện Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục của cá nhân và kế hoạch bài dạy đúng quy định, đổi mới, sáng tạo và đảm bảo các nội dung do nhà trường và tổ chuyên môn triển khai, được tổ chuyên môn và Ban giám hiệu nhà trường phê duyệt trước khi thực hiện. Kế hoạch của nhà trường, của tổ chuyên môn và của giáo viên được điều chỉnh theo từng thời điểm để phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường. d. Chỉ đạo giáo viên thực hiện xây dựng và điều chỉnh chương trình cho phù hợp với tình hình thực tế đảm bảo thực hiện nhiệm vụ kép “vừa dạy học, vừa chống dịch” Nhà trường chỉ đạo tổ, nhóm chuyên môn xây dựng chương trình các môn theo khung chương trình của Sở GD&ĐT Bắc Giang. Nhà trường đã tổ chức rà soát, phê duyệt tất cả các môn thành bộ chương trình để áp dụng cho việc dạy và học trong nhà trường. Khi tình hình dịch bệnh phức tạp, nhà trường đã chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn thực hiện điều chỉnh chương trình của từng môn theo hướng dẫn của Sở GD&ĐT, trong đó các hoạt động giáo dục được tính toán kỹ lưỡng các hình thức áp dụng, khi nào trực tiếp, trực tuyến hay kết hợp các hình thức trên, đảm bảo mục tiêu kép “Vừa dạy học, vừa phong, chống dịch Covid 19”. Lớp 6 ở học kỳ 1 thực hiện 489 giờ dạy và hoạt động GD, học kỳ 2 là 460 tiết (cho mỗi lớp) (Phụ lục 2 kèm theo) Ban giám hiệu trực tiếp dạy các các môn lớp 6 để nắm bắt được nội dung chương trình những khó khăn khi thực hiện để có những điều chỉnh cho phù hợp. e.Tăng cường ứng dụng CNTT trong giảng dạy và sử dụng tối đa thiết bị dạy học. Có thể nói, giá trị lớn nhất của phương tiện, thiết bị dạy học nằm ở sự tác động của chúng tới các giác quan- đặc biệt là thính giác, thị giác. Các nhà nghiên cứu đã tổng kết mức độ ảnh hưởng của các giác quan tới quá trình tiếp thu tri thức như sau: 20% qua những gì nghe được, 30% qua những gì nhìn được, 50% qua nhìn và nghe, 80% qua nói, 90% qua nói và làm. Sự hỗ trợ của các phương tiện, thiết bị dạy học mang lại hiệu quả cao cho các giờ học trong các hoạt động như: nêu vấn đề; tìm kiếm thông tin; mở rộng kiến thức; củng cố, ôn tập và hệ thống hóa kiến thức; kích thích trí tò mò, lòng ham hiểu biết; kích thích hứng thú học tập, Điều cần lưu ý, nếu dùng không đúng lúc, đúng chỗ, các phương tiện, thiết bị dạy học lại có tác dụng ngược lại. Nhà trường tích cực tạo điều kiện bồi dưỡng CNTT cho GV,NV:100% CBQL sử dụng thành thạo các phần mềm ứng dụng trong công tác quản lí trường học. 100% giáo viên soạn giáo án thành thạo trên phần mềm Word, xử lí được dữ liệu cơ bản trên Excel, sử dụng phần mềm trình chiếu trong dạy học.Triển khai các nội dung chỉ đạo của Nhà trường trên hộp thư riêng, 100% GV, NV sử dụng thành thạo thư điện tử. Nhà trường nối mạng internet 26 máy tính phục vụ việc quản lí, dạy tin học, trong đó có 3 bộ máy tính cho 3 lớp 6 Tổ chức dạy tin học cho học sinh lớp 6 theo chương trình đã xây dựng. Khuyến khích học sinh luyện Tiếng Anh qua mạng và giải Toán qua mạng cho học sinh Khuyết khích các lớp không sử dụng SLL điện tử thì lập trang riêng trên mạng xã hội như Zalo để tương tác với phụ huynh học sinh. Sử dụng có hiệu quả các phần mềm Google meet, zoom, zalo để dạy trực tuyến học sinh trong thời gian nghỉ phòng dịch Covid-19. Quản lí điểm, học bạ bằng phần mềm CSDL của nhành giáo dục. Qua thời gia áp dụng, giáo viên dạy lớp 6 coi việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là việc không thể tách rời dạy học và việc sử dụng các thiết bị dạy học là một trong những yếu tố chính để thực hiện được mục tiêu chương trình GDPT 2018 so với chương trình hiện hành là: Sau khi học, người học chuyển từ biết được gì sang làm được gì. f.Tổ chức sinh hoạt chuyên môn: Thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 thường xuyên, hiệu quả các phương pháp, hình thức và kĩ thuật dạy học tích cực; đổi mới phương thức đánh giá HS; tích cực đổi mới nội dung, phương thức giáo dục hướng nghiệp gắn với thực tiễn sản xuất, kinh doanh tại địa phương; tăng cường phân cấp quản lí, thực hiện quyền tự chủ của nhà trường trong việc thực hiện kế hoạch giáo dục. Chỉ đạo các tổ chuyên môn thực hiện tốt việc SHCM theo chỉ đạo chung của phòng GD&ĐT. Các tổ chuyên môn làm tốt công tác sinh hoạt chuyên môn tại trường; phát huy vai trò CBQL, GV cốt cán, GVG trong nhà trường. Mỗi tuần các nhóm chuyên môn đều tiến hành dự giờ, thảo luận về phương pháp dạy học đối với học sinh lớp 6, Tập trung hội giảng đợt 01 vào dịp từ 20/10 đến 20/11. Đợt 02 Hội giảng Mừng Đảng, mừng Xuân (sau Tết Nguyên Đán, thuộc HKII- năm 2022).Mỗi tổ chuyên môn xây dựng và báo cáo ít nhất 02 chuyên đề về dạy học và tổ chức các hoạt động đối với lớp 6. Nhà trường tổ chức thành công buổi Hoạt động trải nghiệm và hướng nghiệp lớp 6 cho giáo viên bộ môn toàn huyện tham dự và được đnahs giá là thành công. Thực hiện tham gia SHCM cụm huyện tham gia tích cực và hiệu quả. g.Đổi mới phương pháp dạy học: Nhà trường đã lựa chọn những thành tố tích cực của mô hình trường học mới áp dụng linh hoạt vào các môn học đảm bảo hiệu quả thiết thực, phù hợp đặc điểm điều kiện nhà trường.Trong các giờ sinh hoạt chuyên môn, các giáo viên cần trao đổi, thống nhất những bài dạy (những nội dung trong từng bài dạy) có thể vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”; “khăn trải bàn” .... chủ động vận dụng ở mức độ phù hợp; mỗi giáo viên dạy ít nhất 2 tiết/năm học. Triển khai tới giáo viên các phương pháp dạy học truyền thống kết hợp với các phương pháp dạy học mới để giáo viên vận dụng linh hoạt tùy theo đơn vị kiến thức, bài, môn học: Phương pháp: Bàn tay nặn bột, Dạy học theo trạm, Nêu và giải quyết vấn đề.... Mỗi giáo viên đều có nghệ thuật riêng của mình trong giảng dạy để tạo sự lôi cuốn và hấp dẫn học sinh, ngoài phương pháp chung: Tự phát hiện - Tự giải quyết - Tự chiếm lĩnh Quy định thời gian làm việc của các thành viên trong tổ chuyên môn để hỗ trợ hiệu quả cho việc chuẩn bị đồ dùng dạy học ở các tiết dạy sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” dạy thể nghiệm SHCM... Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng giải quyết vấn đề, đảm bảo linh hoạt, sáng tạo hiệu quả, định hướng phát triển năng lực học sinh. Tiếp tục chỉ đạo khối lớp 6 thực hiện hiệu quả dạy học các môn học và hoạt động giáo dục. Tổ chức dạy dự giờ SHCM chia sẻ về phương pháp dạy học với toàn thể giáo viên nhà trường. Tạo điều kiện cho GV chủ động, linh hoạt thực hiện phù hợp với đối tượng HS của lớp mình. Các nội dung chỉnh sửa bổ sung đều được trao đổi thống nhất đề thực hiện hiệu quả. h. Tích cực đổi mới kiểm tra, đánh giá: Triển khai tới giáo viên: kiểm tra và đánh giá theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh, đánh giá để giúp đỡ học sinh về phương pháp học tập, động viên sự cố gắng, tạo hứng thú trong qua trình học tập. Luôn nhắc nhở giáo viên việc đổi mới kiểm tra đánh giá luôn gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học. Triển khai tới toàn thể CBGV đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh theo chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, tăng cường các câu hỏi phát triển năng lực học sinh và các câu hỏi, bài tập mở, gắn với thực tế cuộc sống, xã hội. Những yêu cầu và nội dung kiểm tra phải bám sát quá trình học tập, bám sát mục tiêu môn học, chuẩn Kiến thức-Kĩ năng, có sự phân hóa theo từng đối tượng học sinh. Với vai trò, chức năng quan trọng như thế, kiểm tra, đánh giá luôn không ngừng đổi mới thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học. Kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo chính xác, khách quan, nghiêm túc. Có thái độ tôn trọng kết quả của các em; động viên, biểu dương kịp thời; nhắc nhở, phê bình khéo léo, tránh cho các em mặc cảm hoặc chán nản. Triển khai tới toàn thể CBGV đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh theo Thông tư 22/2021 của Bộ GD&ĐT.Tổ chức tập huấn về thực hiện các nội dung thông tư này để tất cả giáo viên trong trường thực hiện được. i.Đổi mới công tác quản lý: Phổ biến, quán triệt đầy đủ các chủ trương, giải pháp giáo dục, các văn bản pháp quy, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Bắc Giang, Phòng GD&ĐT Yên Dũng cho toàn thể cán bộ giáo viên thấy rõ thực trạng để từ đó có giải pháp cụ thể cho hoạt động giáo dục của mình, nhất là việc điều chỉnh chương trình, kế hoạch giáo dục ứng phó với dịch Covid 19. Nhà trường xây dựng và triển khai 100% các nội dung kế hoạch hoạt động theo tuần, tháng trên thư điện tử, giảm bớt các cuộc họp không cần thiết. Tăng cường công tác kiểm tra nhằm điều chỉnh sai sót, biến quá trình kiểm tra thành qua trình tự kiểm tra, tự đánh giá của giáo viên trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Kiểm tra tiến độ của 100% các công việc phân công cho giáo viên, nhân viên. Dự giờ 100% giáo viên dạy lớp 6 pở tất cả các môn, hoạt động giáo dục. Thực hiện tốt quy chế dân chủ. Thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương, xây dựng đơn vị vững mạnh, đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chú trọng công tác phối hợp hoạt động giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục theo Quyết định sô 420/2015/QĐ-UBND ngày 16/9/2015 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc ban hành quy chế phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục học sinh. Phối hợp tổ chức hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh theo Thông tư số 55/2011/TT-BGDĐT ngày 22/11/2011. Thực hiện các biểu ngữ, khẩu hiệu song ngữ Việt - Anh trong nhà trường, tạo môi trường nói tiếng Anh rộng rãi tới học sinh và giáo viên. Thực hiện việc giáo dục học sinh khuyết tật học hòa nhập theo hướng động viên, khuyến khích. Đối với các hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa, giáo dục kỹ năng sống, tổ chức hoạt động . Phân công Tổng phụ trách Đội xây dựng kế hoạch, phối hợp với GVCN và các đoàn thể trong nhà trường triển khai, thực hiện tốt việc giáo dục đạo đức học sinh thông qua các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh vào các giờ hoạt động tập trung như chào cờ đầu tuần, Tết trung thu, Lễ kỷ niệm ngày nhà giáo VN 20/11 với các hình thức phong phú như: Chào cờ riêng từng lớp, tổ chức Tết trung thu riêng theo lớp. Với Lễ kỷ niệm ngày nhà giáo VN 20/11, có các hình thức: thi nề nếp, công trình măng non, thi Hoa điểm tốt, Báo ảnh... Tập trung chỉ đạo các tổ chức thực hiện tốt tuần lễ học tốt, dạy tốt. Phối hợp với các đoàn thể trong trường để cùng thực hiện trong các dịp lễ lớn 20/11... Động viên, nhắc nhở các GVCN thực hiện tốt công tác chủ nhiệm lớp, nhất là lớp 6. k. Bồi dưỡng đội ngũ CBGV: Nhà trường đã xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình GDPT 2018 và triển khai tới toàn thể giáo viên từ đầu năm học (đặc biệt là GV dạy khối 6). Đảm bảo 100% giáo viên dạy lớp 6 năm học 2021-2022, được bồi dưỡng trước khi thực hiện chươg trình GDPT 2018. Lựa chọn và phân công giáo viên có đủ năng lực để thực hiện dạy và tổ chức các hoạt động giáo dục đối với lớp 6 và các năm tiếp theo. Chỉ đạo và tạo điều kiện cho giáo viên dạy lớp 6 tham dự đầy đủ các buổi giới thiệu SGK lớp 6, các buổi sinh hoạt chuyên đề về thực hiện chương trình GDPT 2018, các buổi sinh hoạt chuyên môn cấp huyện, tỉnh về các nội dung liên quan đến lớp 6. Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn tại trường, trong đó trọng tâm là dự giờ các môn lớp 6, phân công 100% giáo viên hội giảng ít nhất 02 tiết dạy lớp 6/năm học. Tổ chức cho giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm, nội dung sáng kiến được cán bộ giáo viên đăng ký ngay từ đầu năm học, với các chủ đề như: Về chuyên môn giảng dạy, về phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, về các khía cạnh của giáo dục như về phương pháp giáo dục đạo đức, về giải bài tập, về xây dựng tập thể lớp, về phương pháp giảng dạy,... Cuối năm Hội đồng Khoa học của nhà trường sẽ tổ chức nghiệm thu, xếp loại sáng kiến kinh nghiệm, chọn ra những sáng kiến đủ điều kiện gửi về Phòng GD&ĐT để Phòng GD xem xét, nghiệm thu và công nhận khen thưởng. Ngoài ra nhà trường còn tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên đi học vi tính – tin học. Nhờ những biện pháp bồi dưỡng trên đây mà trình độ tay nghề, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nhân cách của người thầy được nâng lên một bước rõ rệt. m. Tăng cường hiệu quả các hoạt động phối hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Ban giám hiệu đã chỉ đạo cho mỗi giáo viên chủ nhiệm cần phối hợp tốt với các tổ chức đoàn thể, giáo viên bộ môn, giáo viên phụ trách Đội,... trong giáo dục học sinh như: Tổ chức tốt sinh hoạt 15 phút đầu giờ: kiểm tra việc chuẩn bị bài, tổ chức ôn bài, chữa bài khó; quản lí tốt các tiết tự học; hướng dẫn học sinh cách tìm kiếm tư liệu từ thư viện, sách, báo,... Tổ chức tốt các phong trào thi đua dạy tốt, học tốt; phong trào Hoa điểm mười; các hoạt động ngoại khóa, các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp, các trò chơi dân gian,... Tổ chức lao động tập thể, dọn vệ sinh môi trường; chăm sóc khu di tích lịch sử,... Đây cũng là những hoạt động góp phần vào việc thực hiện thành công chương trình GDPT 2018 đối với lớp 6 năm học 2021-2022. n. Thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục: Ngay từ đầu năm học, Ban giám hiệu nhà trường đã tham mưu cho UBND xã, mời lãnh đạo địa phương, hội khuyến học xã, các bí thư chi bộ, trưởng thôn của 9 thôn và toàn thể phụ huynh học sinh trong xã tham gia buổi họp phụ huynh mở rộng để cùng thảo luận và nghe triển khai về công tác giáo dục của nhà trường. Tại buổi họp này, lãnh đạo địa phương, phụ huynh học sinh và nhà trường đã bàn và thống nhất chung được các giải pháp để giáo dục học sinh trong thời gian tới và bầu ra Hội phụ huynh gồm 12 người – đại diện cho tất cả phụ huynh học sinh trong xã. Đồng thời, nhà trường đã phân công giáo viên trực tiếp phụ trách từng thôn bản nhằm: Nắm bắt được điều kiện hoàn cảnh, tình hình học tập của các em thuộc thôn mình phụ trách. Là cầu nối giữa nhà trường và gia đình học sinh trong quá trình giáo dục. Triển khai cách làm "Góc học tập" đến từng gia đình học sinh. Theo điều tra đầu năm, phần lớn các em học sinh trường THCS Xuân Phú có không gian, góc học tập riêng , có bàn, ghế để ngồi học ở nhà. Vì vậy, việc triển khai "Góc học tập" đã tạo cho các em có được nơi học tập ở gia đình, điều này đã góp một phần lớn đến việc nâng cao chất lượng đại trà của nhà trường. Bên cạnh đó, Ban giám hiệu đã cử giáo viên phụ trách thôn bản vào từng gia đình học sinh hướng dẫn và cùng tham gia làm "góc học tập". Qua khảo sát, kiểm tra thì có 460 em trong tổng số 460 học sinh của nhà trường đã có "góc học tập" riêng ở gia đình, có đủ hệ thống ánh sáng đáp ứng được việc học bài ở nhà. Nhiều học sinh, theo sự hướng dẫn của giáo viên phụ trách thôn, GVCN nên đã biết thiết kế, trang trí cho góc học tập của mình bằng các tranh, ảnh, bảng biểu, các công thức Toán- Lý-Hóa,... Việc tổ chức tốt công tác xã hội hoá giáo dục góp phần lớn vào việc thực hiện chương trình GDPT 2018. Nhà trường tuyên truyền đến toàn thể PHHS về chương trình GDPT 2018, kế hoạch thực hiện chương trình GDPT 2018 để PHHS hiều, đồng thuận và cùng vào cuộc. Nhà trường phối hợp với PHHS thực hiện việc lựa chọn SGK cho học sinh lớp 6. 2.3 Kinh phí thực hiện theo từng nội dung, nhiệm vụ. Sáng kiến này tôi áp dụng cho việc chỉ đạo chuyên môn của nhà trường nên kinh phí thực hiện theo các văn bản quy định hiện hành. 3. Phần kết luận. 3.1. Ý nghĩa, khả năng ứng dụng và nhân rộng: Đối với bất cứ nhà trường nào thì chất lượng giáo dục cũng luôn là thước đo quan trọng về sự thành công, uy tín, thương hiệu của nhà trường, nhất là với việc thực hiện chương trình GDPT 2018. Vì vậy, với nhiệm vụ là một cán bộ quản lí, bản thân tôi luôn cố gắng học hỏi, tìm tòi để đưa ra những giải pháp tốt nhất nhằm thực hiện tốt chương trình GDPT 2018 và nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Để thực hiện thành công chương trình GDPT 2018, tôi thiết nghĩ phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, các biện pháp phải được thực hiện một cách sáng tạo, linh hoạt cho phù hợp với đặc điểm tình hình thực tế của từng đơn vị trường học, nhằm phát huy thế mạnh và hạn chế, khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý hoạt động dạy và học của nhà trường. Đối với trường THCS Xuân Phú thì nội dung các biện pháp đề cập trong sáng kiến kinh nghiệm này cũng chính là những nội dung chỉ đạo hoạt động chuyên môn của bản thân tôi nói riêng, BGH nhà trường nói chung đã thực hiện trong thời gian qua. Cũng chính từ việc áp dụng các biện pháp đó mà việc thực hiện chương trình GDPT 2018 của nhà trường đã đạt được mục tiêu, chương trình đề ra. Sau khi áp dụng sáng kiến trong năm học 2021-2022 đối với học sinh lớp 6 thì: Học sinh đạt được năng lực và phẩm chất theo quy định. Học sinh biết vận dụng kiến thực học được vào thực tế cuộc sống. Tạo phương pháp dạy và học mới phù hợp với sự phát triển của con người trong thời đại công nghệ. Tạo phong trào vận dụng những phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy các khối lớp khác. Tổ chức được các hoạt động giáo dục mới như: Hoạt động trải nghiệm và hướng nghiệp để tăng cường năng lực vận dụng thực tế và kỹ năng thực hiện, tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục của học sinh. Tôi đã áp dụng các giải pháp trong lĩnh vực quản lí đối với CBGV, học sinh trường THCS Xuân Phú. Các giải pháp này có thể phổ biến ở những trường thuộc xã có điều kiện tương đương như Xuân Phú. Mặc dù sáng kiến đã được nghiên cứu công phu và thận trọng nhưng còn nhiều khía cạnh khác mà đề tài này chưa đề cập tới và đây cũng là những ý kiến riêng của bản thân tôi nên không thể tránh khỏi những th iếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ quý thầy cô và đồng nghiệp. 3.2 Hiệu quả kinh tế- xã hội sáng kiến mang lại. Việc nhân rộng các giải pháp trên sẽ làm cho việc thực hiện chương trình GDPT 2018 đạt hiệu quả cao, chất lượng giáo dục được nâng lên. 3.3. Kiến nghị, đề xuất: Không. Ngày tháng 5 năm 2022 Xuân Phú, ngày tháng 5 năm 2022 CƠ QUAN CHỦ TRÌ SÁNG KIẾN TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Hà Văn Oanh TÀI LIỆU THAM KHẢO 1- Một số văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc. 2- Nghị quyết TW 8 khóa XI. 3- Luật Giáo dục (sửa đổi). 4-Chương trình giáo dục phổ thông 2018, SGK lớp 6 được BGDĐT phê duyệt. 5- Các số liệu báo cáo đội ngũ và chất lượng giáo dục của trường THCS Xuân Phú. 6- Một số thông tin từ sách, báo Giáo dục. 7- Một số thông tin trên mạng Internet.
Tài liệu đính kèm: