Bộ 32 Đề thi thử vào 10 môn Ngữ văn (Có đáp án)

doc 610 trang Người đăng Đào Hoa Ngày đăng 18/03/2026 Lượt xem 9Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bộ 32 Đề thi thử vào 10 môn Ngữ văn (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 TỔNG HỢP ĐỀ THI VÀO 10
 NGỮ LIỆU ĐỌC HIỂU NGOÀI SÁCH GIÁO KHOA 
 ĐỀ THI THỬ VÀO 10
 ĐỀ SỐ 01 Môn NGỮ VĂN
 Thời gian: 120 phút
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“Hòn đá có thể cho lửa, cành cây có thể cho lửa. Nhưng chỉ có con người mới biết 
nuôi lửa và truyền lửa. Lửa xuất hiện khi có tương tác, ít ra là hai vật thể tạo lửa. 
Lửa là kết quả của số nhiều. Cô bé bán diêm là số đơn. Cô đã chết vì thiếu lửa. Để 
rồi từ đó loài người đã cảnh giác thắp nến suốt mùa Giáng sinh để cho không còn 
em bé bán diêm nào phải chết vì thiếu lửa.
Nước Việt hình chữ “S”, hiện thân của số nhiều, lẽ nào không biết nuôi lửa và 
truyền lửa, lẽ nào thiếu lửa? Không có lửa, con rồng chẳng phải là rồng, chỉ là 
con giun, con rắn. Không có lửa làm gì có “nồng” nàn, “nhiệt” tâm! Làm gì có 
“sốt” sắng, “nhiệt” tình, đuốc tuệ! Làm gì còn “nhiệt” huyết, “cháy” bỏng! Sẽ 
đâu rồi “lửa” yêu thương? Việc mẹ cha, việc nhà, việc nước, làm gì với đôi vai 
lạnh lẽo, ơ hờ? Không có lửa em lấy gì “hun” đúc ý chí, “nấu” sử sôi kinh? Em 
sống đời thực vật vô tri như lưng cây, mắt lá, đầu cành, thân cỏ . Cho nên: Biết ủ 
lửa để giữ nhân cách – người, nhân cách – Việt. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. 
Thế nhưng: Nếu không có lửa làm sao thành mùa xuân?”.
 (Trích Thắp mình để sang xuân, Nhà văn Đoàn Công Lê Huy)
Câu 1. Xác phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên. (0,5 điểm)
Câu 2. Cho biết ý nghĩa của từ " lửa" được in đậm trong hai câu văn sau: " Hòn đá 
có thể cho lửa, cành cây có thể cho lửa. Nhưng chỉ có con người mới biết nuôi lửa 
và truyền lửa". (0,5 điểm)
Câu 3. Tại sao tác giả lại nói: “ Biết ủ lửa để giữ nhân cách - người , nhân cách - 
Việt”? (1,0 điểm)
Câu 4.Thông điệp có ý nghĩa nhất được rút ra từ đoạn văn bản trên là gì? (1,0 
điểm)
II.PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Hãy viết một đoạn văn ( khoảng 200 chữ ), trình bày suy nghĩ 
về ý kiến được nêu ở đoạn trích trong phần Đọc hiểu: “Nếu không có lửa làm sao 
thành mùa xuân?".
Câu 2 (5,0 điểm ). 
Cảm nhận bức tranh thiên nhiên qua hai khổ thơ sau:
 “Mọc giữa dòng sông xanh
 Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện
 Hót chi mà vang trời
 Từng giọt long lanh rơi
 Tôi đưa tay tôi hứng”
 (Trích "Mùa xuân nho nhỏ" - Thanh Hải)
 “Bỗng nhận ra hương ổi
 Phả vào trong gió se,
 Sương chùng chình qua ngõ
 Hình như thu đã về”
 (Trích "Sang thu" - Hữu Thỉnh)
ĐÁP ÁN THAM KHẢO
 PHẦN CÂU NỘI DUNG ĐIỂM
I 1 Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên: nghị 0,5 điểm
 luận
 2 Từ “lửa” được nói đến trong câu văn mang ý nghĩa ẩn 0,5 điểm
 dụ, nó là: nhiệt huyết, đam mê, khát vọng, ý chí, niềm tin, 
 là tình yêu thương mãnh liệt ngọn lửa ấy được con 
 người nuôi dưỡng trong tâm hồn và có thể lan truyền từ 
 người này sang người khác.
 3 “Biết ủ lửa để giữ nhân cách – người, nhân cách – Việt” 1,0 điểm
 “Biết ủ lửa” tức là biết nhen nhóm, nuôi dưỡng lửa trong 
 tâm hồn mình. Có ngọn lửa của đam mê, khát vọng mới 
 dám sống hết mình, dám theo đuổi ước mơ hoài bão. Có 
 ngọn lửa của ý chí, nghị lực sẽ có sức mạnh để vượt qua 
 khó khăn trở ngại, đến được cái đích mà mình muốn. Có 
 ngọn lửa của tình yêu thương sẽ sống nhân ái, nhân văn 
 hơn, sẵn sàng hi sinh vì người khác. Ngọn lửa ấy giúp ta 
 làm nên giá trị nhân cách con người.
 4 HS có thể rút ra những thông điệp khác nhau từ đoạn văn 1,0 điểm
 bản trên và trình bày suy nghĩ thấm thía của mình về 
 thông điệp đó.
 Ví dụ : không có lửa cuộc sống con người chi còn là sự 
 tồn tại.
II 1 a. Đảm bảo hình thức đoạn văn nghị luận xã hội 2,0 điểm
 b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
 c. Triển khai hợp lý nội dung đoạn văn : Vận dụng tốt các 
 thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn 
 chứng. Có thể viết đoạn văn theo định hướng sau :
 1. Mở đoạn : Giới thiệu vấn đề
 2. Thân đoạn :
 – Mùa xuân – mùa khởi đầu của một năm, mùa để vạn vật 
 hồi sinh, trỗi dậy. Yếu tố làm nên mùa xuân của đất trời 
 là sức sống; còn yếu tố làm nên mùa xuân của cuộc đời, 
 của con người là lửa.
 – Lửa là nhiệt huyết, khát vọng, đam mê; là ý chí, nghị 
 lực, niềm tin; là tình yêu thương của con người với con 
 người 
 – Có lửa để con người mạnh mẽ, tự tin, dám nghĩ, dám 
 làm, dám theo đuổi ước mơ, hoài bão. Có lửa con người 
 mới sống hết mình trong cháy khát, đam mê. Có lửa để 
 con người sống người hơn, nhân văn hơn. Lửa thôi thúc 
 ta vươn tới những tầm cao mới, lửa làm nảy nở những 
 búp chồi hạnh phúc 
 – Nếu lửa chỉ cháy trong một cá nhân chẳng khác nào một 
 ngọn nến le lói trong bóng đêm. Ngọn lửa phải lan tỏa, 
 chúng ta cùng cháy mới có thể thắp lên “mùa xuân”.
 3. Kết đoạn: Khẳng định vấn đề
 d. Sáng tạo : Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng, 
 mới mẻ, phù hợp với vấn đề nghị luận.
 e. Chính tả, dùng từ, đặt câu : Đảm bảo chuẩn xác chính 
 tả, dùng từ, đặt câu, ngữ pháp.
2 a.Đảm bảo hình thức bài văn nghị luận văn học 5,0 điểm
 b.Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
 c.Triển khai vấn nghị luận : Vận dụng tốt các thao tác lập 
 luận, kết hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn chứng, thể hiện sự 
 cảm nhận sâu sắc. 
 Có thể viết bài văn theo định hướng sau :
 I/ Mở bài
 Thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng vô tận đối với thi sĩ 
 từ xưa đến nay bởi vẻ đẹp gợi cảm và vĩnh hằng của nó. 
 Hình ảnh thiên nhiên luôn được gợi lên với những bức 
 tranh tuyệt đẹp qua biết bao tác phẩm sống mãi với thời 
 gian. Mỗi lần đọc “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải và “Sang Thu” của Hữu Thỉnh, chúng ta lại bắt gặp những 
rung cảm tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên 
ban tặng cho cuộc sống. Đặc biệt 2 khổ thơ đầu của bài 
thơ đã khơi gợi cho người đọc những cảm xúc bâng 
khuâng xao xuyến của thiên nhiên ở 2 mùa xuân thu:
 “Mọc giữa dòng sông xanh
 Một bông hoa tím biếc
 Ơi con chim chiền chiện
 Hót chi mà vang trời
 Từng giọt long lanh rơi
 Tôi đưa tay tôi hứng”
 (Trích "Mùa xuân nho nhỏ" - Thanh Hải)
 “Bỗng nhận ra hương ổi
 Phả vào trong gió se,
 Sương chùng chình qua ngõ
 Hình như thu đã về”.
 (Trích "Sang thu" - Hữu Thỉnh)
II/ Thân bài
1.Khái quát chung
Thanh Hải viết bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” khi đất nước 
vừa thoát khỏi chiến tranh không lâu (1980), bản thân nhà 
thơ cũng ở tình trạng sức khỏe hiểm nghèo, nhưng cả 
cuộc đời gắn bó với quê hương xứ sở làm sao không có 
những cảm xúc lúc đi xa. Còn Hữu Thỉnh lúc viết bài 
“Sang thu” thì mới chỉ ngoài ba mươi tuổi, (1977) nhưng 
là người từng trải. Vì ông xuất thân từ một người lính, đã 
trải qua biết bao nhiêu là khó khăn, gian nan, vất vả; với 
biết bao nhiêu tang tóc, hi sinh, mất mát nơi chiến trường 
khốc liệt nên rất thiết tha cháy bỏng với cuộc sống này. 
Viết về quê hương, đất nước thì mỗi nhà thơ lại có một 
cảm nhận riêng. Nếu hình ảnh đất nước trong bài “Mùa 
xuân nho nhỏ” của Thanh Hải được soi chiếu qua lăng 
kính mùa xuân thì “Sang thu” của Hữu Thỉnh, quê hương, 
đất nước lại được soi chiếu qua bức tranh giao mùa cuối 
hạ sang thu Thật phong phú, đa dạng mà không kém 
phần thú vị. 2.Cảm nhận bức tranh thiên nhiên qua hai khổ thơ
a.Khổ thơ bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải
Thật vậy, hình ảnh quê hương, đất nước hiện lên qua cảnh 
sắc mùa xuân – thiên nhiên xứ Huế tinh khôi, trong trẻo, 
đầy sức sống. Mùa xuân của thiên nhiên cũng là mùa 
xuân của đất nước con người:
 “Mọc giữa dòng sông xanh
 Một bông hoa tím biếc
 Ơi con chim chiền chiện
 Hót chi mà vang trời
 Từng giọt long lanh rơi
 Tôi đưa tay tôi hứng”
Thanh Hải đưa ta về với thiên nhiên tạo hoá đất trời. Sau 
những ngày đông lạnh lẽo, thiên nhiên lại được khoác 
một tấm áo tươi non, ấm áp của mùa xuân. Mùa xuân đến, 
báo hiệu bằng những cảnh sắc thiên nhiên quen thuộc : 
dòng sông xanh, bông hoa tím biếc và chim chiền chiện. 
Cảnh sắc thiên nhiên ấy không chỉ đẹp mà còn sinh động. 
Từ “mọc” đặt ở đầu câu thơ vang lên như một điểm nhấn, 
một sự phát hiện đầy cảm xúc của nhà thơ. Hai câu thơ 
đầu vẽ nên một không gian mùa xuân rộng mở tươi tắn 
với hình ảnh một dòng sông xanh trong chảy hiền hoà. 
Cái màu xanh ấy phản ánh được màu xanh của bầu trời, 
của cây cối hai bên bờ, cái màu xanh quen thuộc mà ta có 
thể gặp ở bất kì một con sông nào ở dải đất miền Trung. 
Nổi bật trên nền xanh lơ của dòng sông là hình ảnh “một 
bông hoa tím biếc”, một hình ảnh thân thuộc của cánh lục 
bình hay hoa súng mà ta thường gặp ở các ao hồ sông 
nước của làng quê mà ta từng gặp trong những vần thơ 
của khác:
 “Con sông nhỏ tuổi thơ ta tắm
 Vẫn còn đây nước chẳng đổi dòng
 Hoa lục bình tím cả bờ sông ”
 (Lê Anh Xụân)
Màu tím biếc ấy không lẫn vào đâu được với sắc màu tím 
Huế thân thương- vốn là nét đặc trưng của những cô gái 
đất kinh kỳ với sông Hương núi Ngự. Màu xanh của nước 
hài hoà với màu tím biếc của bông hoa tạo nên một nét 
chấm phá nhẹ nhàng mà sống động. Bức tranh xuân còn được điểm xuyết thêm bằng âm thanh rộn rã, tưng bừng 
của con chim chiền chiện hót vang trời. Tiếng hót của 
chim, đường nét uốn lượn quanh co của con sông, màu 
tím biếc của bông hoa vẽ nên một bức tranh mùa xuân 
đầy sức sống mãnh liệt trên quê hương tác giả. Trước vẻ 
đẹp ấy, nhà thơ ngất ngây sung sướng không ngăn được 
dòng cảm xúc. Những từ cảm thán “Ơi”, “Hót chi” vang 
lên là tiếng lòng nao nức say sưa của nhà thơ khi lần đầu 
tiên phát hiện vẻ đẹp đơn sơ mà say đắm của cảnh vật quê 
hương.
 “Từng giọt long lanh rơi
 Tôi đưa tay tôi hứng”
Cụm từ “giọt long lanh” gợi lên những liên tưởng phong 
phú và đầy thi vị. Nó có thể là giọt sương lấp lánh qua kẽ 
lá trong buổi sớm mùa xuân tươi đẹp, có thể là giọt nắng 
rọi sáng bên thềm, có thể giọt mưa xuân đang rơi, giọt 
hạnh phúc, giọt thời gian rơi qua kẻ lá Nhưng theo 
mạch liên tưởng của bài thơ thì “giọt long lanh” còn là 
giọt âm thanh đổ liên hồi của con chim chiền chiện 
Hình ảnh có tính chất tượng trưng “tôi đưa tay tôi hứng” 
là thái độ yêu thương, trân trọng của nhà thơ trước vả 
đẹp của đất trời. Nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm 
giác quả đã đạt tới mức tinh tế đáng khâm phục. Hai câu 
thơ đã biểu hiện niềm say sưa, ngây ngất, xốn xang, rạo 
rực của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời lúc 
vào xuân. Chắc hẳn trong lòng thi sĩ đang dạt dào tình 
yêu quê hương, đất nước, tình yêu cuộc đời.
b.Khổ thơ bài Sang thu của Hữu Thỉnh
Tạm rời xa mùa xuân của Thanh Hải ta tìm đến với 
cái tình non sông đất nước được khơi nguồn từ cảnh 
sắc thiên nhiên trong bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh. 
Thi sĩ bộc bạch tình yêu đất nước ở nhiều cung bậc. Hữu 
Thỉnh với cái nhìn thật tinh tường, một cảm nhận thật sắc 
nét đã vẽ lại bức tranh in dấu sự chuyển mình của đất trời 
qua bài thơ “Sang Thu”. Sang thu của Hữu Thỉnh giúp ta 
chiêm ngưỡng lại những giây phút giao mùa tinh tế đầy ý 
vị mà bấy lâu nay ta hững hờ. Đó là lúc hồn ta run lên 
những cảm nhận dung dị. Hình ảnh đất nước quê hương 
còn được nhà thơ phác họa qua phút giao mùa cuối hạ sang thu thật tinh tế và sâu sắc. Bắt đầu từ một khu vườn 
ngoại ô của vùng đồng bằng Bắc Bộ:
 Bỗng nhận ra hương ổi
 Phả vào trong gió se,
Không phải là sắc “mơ phai” của Xuân Diệu hay hình 
ảnh “con nai vàng ngơ ngác” của Lưu Trọng Lư mà là 
“hương ổi” thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những 
giác quan tinh tế nhất của nhà thơ. Hương vị đơn sơ, mộc 
mạc, đồng nội, rất quen thuộc của quê hương. Câu thơ có 
hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ. Vì 
sao tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương 
ổi” mà không phải là các hương vị khác? Mùi hương quê 
nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không 
gian. Tất cả đến với tác giả nhẹ nhàng, mà đột ngột quá, 
thu về với đất trời quê hương, với lòng người mà không 
hề báo trước. Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ: “bỗng 
nhận ra” - một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu 
lắm. Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến 
màu vàng ươm, hương thơm lựng, vị giòn, ngọt, chua 
chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê. Câu thơ ngắn 
mà có cả gió cả hương. Hương là hương ổi, gió là gió se. 
Đây là những nét riêng của mùa thu vùng đồi trung du 
miền Bắc. Gợi được như vậy hẳn cái tình quê của Hữu 
Thỉnh phải đậm đà lắm. Nhận ra hương ổi giống như 
một sự phát hiện nhưng ở đây là phát hiện ra mùi hương 
vẫn vương vấn mà bấy lâu nay con người hờ hững. chính 
vì sự phát hiện ra cái gần gũi xung quanh mình cho nên 
con người mới có cảm giác ngỡ ngàng đôi chút bối rối ấy. 
Và không chỉ có thế, cả “sương” thu như cũng chứa đầy 
tâm trạng, thong thả, chùng chình giăng mắc trên khắp 
nẻo đường thôn:
 Sương chùng chình qua ngõ
 Hình như thu đã về.
Một hình ảnh đầy ấn tượng. “Sương” được cảm nhận như 
một thực thể hữu hình có sự vận động – một sự vận động 
chậm rãi. Sương thu đã được nhân hoá, hai chữ “chùng 
chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu. 
Đâu chỉ có thế, cái hay của từ láy “chùng chình” còn là 
gợi tâm trạng. Sương “dềnh dàng” hay lòng người đang tư lự, hay tâm trạng của tác giả cũng “chùng chình”? Cái 
“ngõ” sương phải chăng là cái ngõ thời gian thông 
giữa hai mùa? Nhà thơ ngỡ ngàng, sung sướng, có phần 
giật mình, bối rối “Hình như thu đã về”, cảm giác bâng 
khuâng, xao xuyến, cảm thấy rồi mà sững sờ khó tin. 
Hình như thu đã về còn như là một câu thầm hỏi lại mình 
để có một sự khẳng định.Tâm hồn thi sỹ nắm bắt những 
biến chuyển nhẹ nhàng, mong manh của tạo vật trong 
phút giao mùa cũng êm đềm, bâng khuâng như bước đi 
nhỏ nhẹ của mùa thu. Khổ thơ ngắn mà đã để lại cho ta 
biết bao rung động. Ta như cảm thấy một hồn quê, một 
tình quê đi về trong câu chữ làm lòng ta ấm áp. Hình ảnh 
quê hương như càng thêm gần gũi, yêu mến.
3.Đánh giá
Cả 2 khổ đều được viết theo thể thơ 5 chữ, cô đọng, hàm 
súc; vận dụng hiệu quả các phép tu từ (đảo ngữ, nhân hóa, 
ẩn dụ); sử dụng cả những hình ảnh hữu hình (dòng sông, 
bông hoa, chim chiền chiên, sương) và vô hình (tiếng 
chim, hương ổi); ngòi bút miêu tả rất mềm mại, tinh tế; 
hình ảnh thơ bình dị, thân thuộc. Thông qua hai khổ thơ, 
hai tác giả đã vẽ nên hai bức tranh thiên nhiên thật trong 
trẻo, bình yên, đẹp đẽ. Điều đó cho thấy sự quan sát tỉ mỉ, 
tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống 
của hai nhà thơ. Tuy nhiên hai khổ thơ cũng có những 
điểm khác biệt. Một khổ viết về mùa xuân, một khổ viết 
về mùa thu. Rồi thời gian, không gian nghệ thuật trong 
mỗi văn bản cũng khác nhau: một bức tranh đậm chất 
xuân xứ Huế, một bức tranh chớm thu - bắt đúng khoảnh 
khắc giao mùa của vùng quê Bắc Bộ. Những vần thơ của 
Thanh Hải chân thật, bình dị, đôn hậu trong khi sáng tác 
của Hữu Thỉnh lại tinh tế, triết lí. Cảm xúc của hai thi 
nhân khi viết hai bài thơ cũng khác nhau: Nhà thơ Thanh 
Hải thiết tha, say đắm trước cảnh xuân, sắc xuân, ông 
nâng niu, trân trọng từng tiếng chim trong trẻo. Nếu ta đặt 
bài thơ vào hoàn cảnh ra đời của nó - những ngày cuối 
đời của nhà thơ, thì ta sẽ càng thêm hiểu những tâm tư 
này. Còn nhà thơ Hữu Thỉnh, ông ngỡ ngàng, giật mình 
trước bước đi của thời gian nên còn chưa chắc chắn trước sự hiện hữu của những tín hiệu đầu tiên của mùa thu.
 III/ Kết bài
 Khẳng định thành công của tác phẩm=> Tóm lại, hai 
 đoạn thơ là hai bức tranh thiên nhiên đầy cảm hứng. Nếu 
 Thanh Hải cho ta cảm nhận cái rộn ràng của thiên nhiên 
 thì Hữu Thỉnh lại mang đến cái dân dã, mộc mạc, đầy 
 rung cảm và thân quen. Dư âm của tác phẩm với bạn 
 đọc=>Hai đoạn thơ để lại trong lòng bao thế hệ bạn đọc 
 những cảm xúc sâu lắng, khó phai mờ, gợi nhắc cho 
 những thế hệ trẻ tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất 
 nước.
 -------------------------------------------------------------------------------------------
 ĐỀ THI THỬ VÀO 10
 ĐỀ SỐ 02 Môn NGỮ VĂN
 Thời gian: 120 phút
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
...Cuộc sống vẫn bình yên trong mỗi căn nhà
Con vẫn học qua online trực tuyến
Bố, mẹ giao ban cơ quan qua máy tính
Cả nước đồng lòng đẩy lui cuộc chiến
Hiện hình trên màn ảnh ti-vi...
Phía ngoài bệnh viện trầm tư
Nhưng bên trong là nhịp chân hối hả
Vì mạng sống của hàng trăm người bệnh
Thầy thuốc đâu quản gian nguy
Vẫn biết lưỡi hái tử thần không ngoại trừ ai hết!
...
Ơi mỗi người con đất Việt
Đã từng chiến thắng ngoại xâm
Nay thấm thía trong tâm:
Tự nguyện cách ly
Vì trường tồn cuộc sống
Lặng lẽ để hồi sinh
Cho những ngày thắng dịch
 (Trích Lặng lẽ để hồi sinh- Nguyễn Hồng Vinh, Hà Nội, 4/4/2020) Câu 1 (0.5 điểm): Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2 (0.5 điểm): Chỉ ra những việc làm thể hiện sự đồng lòng của cả nước để đẩy 
lùi dịch bệnh trong đoạn trích?
Câu 3 (1.0 điểm): Em hiểu như thế nào về dòng thơ “Lặng lẽ để hồi sinh”?
Câu 4 (1.0 điểm): Thông điệp ý nghĩa nhất em rút ra được qua đoạn trích trên là 
gì? Vì sao em chọn thông điệp đó?
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm)
Từ nội dung phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) theo cấu 
trúc tổng - phân - hợp, trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của tinh thần đoàn 
kết, tương thân tương ái của nhân dân ta trong việc phòng chống đại dịch Covid 
19.
Câu 2 (5.0 điểm).
Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của 
Nguyễn Thành Long. Từ đó, nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho những 
người đang cống hiến, quên mình cho nhân dân, tổ quốc.
ĐÁP ÁN THAM KHẢO
 PHẦN CÂU NỘI DUNG ĐIỂM
I 1 Đoạn trích trên được viết theo thể thơ 0,5 điểm
 2 Những hành động thể hiện cả nước đồng lòng chống dịch: 0,5 điểm
 -Tự nguyện khai báo, cách ly tập trung, tránh tụ tập đông 
 người
 - Hành động hy sinh thầm lặng của các vị bác sĩ, những 
 chiến sĩ, công an nơi tuyến đầu chống dịch .
 3 “Lặng lẽ để hồi sinh”: Những việc làm âm thầm lặng lẽ, 1,0 điểm
 tự nguyện dù nhỏ bé nhưng lại góp phần làm nên chiến 
 thắng đại dịch.
 4 HS có thể lựa chọn bất kì thông điệp nào và lý giải. 1,0 điểm
 -Thông điệp: Chúng ta cần phát huy tinh thần đoàn kết, 
 đồng sức đồng lòng chiến đấu chống đại dịch. 
 -Giải thích: Đoàn kết tạo nên sức mạnh dân tộc, đó là 
 truyền thống quý báu của dân tộc ta. Ngay lúc này, tInh 
 thần đoàn kết vô cùng cần thiết để chiến thắng đại dịch.
II 1 a. Đảm bảo hình thức đoạn văn nghị luận xã hội 2,0 điểm
 b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
 c. Triển khai hợp lý nội dung đoạn văn : Vận dụng tốt các 
 thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn 
 chứng.
 1/ Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận Tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của nhân dân ta 
trong việc phòng chống đại dịch Covid 19 là một nét đẹp 
trong hành động và trong văn hóa ứng xử.
2/ Thân đoạn:
Bước 1. Giải thích:
- Đoàn kết là kết thành một khối thống nhất,cùng hoạt 
động vì một mục đích chung, không chia rẻ.
- Tương thân tương ái: là tinh thần thương yêu lẫn nhau
Bước 2. Phân tích, chứng minh
- Cả hệ thống chính trị vào cuộc.
- Tất cả người dân cùng chung tay chống giặc bằng những 
hành động cụ thể.
Khẳng định đây là những hoạt động văn hóa ứng xử tốt 
đẹp của nhân dân ta
- Đoàn kết tạo nên sức mạnh chung thống nhất
- ĐK giúp đất nước vượt qua khó khăn, chung tay cùng 
với chính phủ đương đầu với “sóng thần” Covid 19.
- Giúp những người bị cách ly hoặc mắc Covid 19 nhận 
được những ấm áp về tinh thần và vật chất.
- Góp phần lan tỏa tình yêu thương trong xã hội, góp phần 
tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn.
=>Đoàn kết và tương thân tương ái đều là những biểu 
hiện của tình yêu nước.
Dẫn chứng: Ủng hộ những chai nước rửa tay khô, những 
chiếc khẩu trang y tế, những bữa ăn miễn phí, lương thực, 
thực phẩm . cho vùng bị cách ly...
Bước 3. Bàn luận, mở rộng
- Nêu gương tốt về tinh thần đoàn kết.
- Phê phán những biểu hiện sai trái, tin giả, trục lợi khi 
mua những thiết bị y tế.
Bước 4. Rút ra bài học
* Nhận thức: là một nét đẹp trong hành động và trong văn 
hóa ứng xử của người Việt
* Hành động: Rèn cho mình đức tính đoàn kết, tương 
thân tương ái trong cuộc sống từ những việc nhỏ nhất.
3/ Kết đoạn: Khẳng định, khái quát vấn đề cần nghị luận
Có thể viết thành đoạn văn như sau:
Mở đoạnTinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của 
nhân dân ta trong việc phòng chống đại dịch Covid 19 là một nét đẹp trong hành động và trong văn hóa ứng xử. 
 Thân đoạn Vậy đoàn kết và tương thân tương ái là gì? 
 Giải thíchĐoàn kết là kết thành một khối thống nhất, 
 cùng hoạt động vì một mục đích chung, không chia rẻ còn 
 tương thân tương ái là tinh thần thương yêu lẫn nhau. 
 Phân tích, chứng minh  Đây là những hoạt động văn 
 hóa ứng xử tốt đẹp của nhân dân ta. Vai trò  Đoàn kết 
 tạo nên sức mạnh chung thống nhất, giúp đất nước vượt 
 qua khó khăn, giúp những người bị cách ly hoặc mắc 
 Covid 19 nhận được những ấm áp về tinh thần và vật 
 chất, góp phần lan tỏa tình yêu thương trong xã hội để tạo 
 nên một xã hội tốt đẹp hơn. Dẫn chứngTa dễ dàng 
 nhận thấy điều đó qua đại dịch Covid 19 khi cả hệ thống 
 chính trị, người dân vào cuộc cùng chung tay chống giặc 
 bằng những hành động cụ thể như ủng hộ những chai 
 nước rửa tay khô, những chiếc khẩu trang y tế, lương 
 thực, thực phẩm, những bữa ăn miễn phí cho vùng bị cách 
 ly Đoàn kết và tương thân tương ái đều là những biểu 
 hiện của tình yêu nước. Bàn luận, mở rộng Tuy nhiên 
 trong xã hội hiện nay khi cả nước đang oằn mình chống 
 dịch thì vẫn còn đâu đó những hạng người với những biểu 
 hiện sai trái, tung tin giả, trục lợi cho cá nhân. Những 
 hành động này cần lên án gay gắt. Bài học Bản thân em 
 là học sinh khi đang ngồi trên ghế nhà trường phải ra sức 
 học tập và rèn luyện thật tốt bên cạnh đó cũng rèn cho 
 mình đức tính đoàn kết, tương thân tương ái trong cuộc 
 sống từ những việc nhỏ nhất, góp phần vào vườn hoa đẹp 
 để cùng cả nước chống dịch. Kết đoạn Tóm lại, với 
 tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong thời gian 
 tới, nhất định dịch Covid 19 sẽ được ngăn chặn và đẩy 
 lùi.
 d. Sáng tạo : Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng, 
 mới mẻ, phù hợp với vấn đề nghị luận.
 e. Chính tả, dùng từ, đặt câu : Đảm bảo chuẩn xác chính 
 tả, dùng từ, đặt câu, ngữ pháp.
2 a.Đảm bảo hình thức bài văn nghị luận văn học 5,0 điểm
 b.Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
 c.Triển khai vấn nghị luận : Vận dụng tốt các thao tác 
 lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn chứng, thể 
 hiện sự cảm nhận sâu sắc. Có thể viết bài văn theo định hướng sau :
1/ Mở bài
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Thành Long và tác phẩm 
Lặng lẽ Sa Pa
- Khái quát về nhân vật anh thanh niên : đại diện tiêu biểu 
cho vẻ đẹp của những con người lao động với công việc 
thầm lặng.
2/ Thân bài
Bước 1. Khái quát về công việc của anh thanh niên
- Anh thanh niên làm kĩ sư khí tượng thủy văn trên đỉnh 
Yên Sơn cao 2.600m.
- Nhiệm vụ của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, 
đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết 
hằng ngày để phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu.
=> Công việc đầy gian khổ, thách thức, đáng sợ hơn cả là 
phải đối diện với nỗi cô đơn "thèm người".
Bước 2. 
1/ Cảm nhận nhân vật anh thanh niên
* Luận điểm 1: Anh thanh niên say mê và có trách 
nhiệm cao trong công việc
- Anh làm việc một mình trên đỉnh núi cao, chấp nhận 
cuộc sống cô đơn, xa cách với cộng đồng.
- Mỗi ngày đều phải báo cáo số liệu cụ thể vào 4 mốc thời 
gian là 4 giờ sáng, 11 giờ trưa, 7 giờ tối và 1 giờ sáng.
- Anh làm việc trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt:
+ có mưa tuyết, trời tối đen, "gió tuyết và lặng im ở bên 
ngoài như chỉ chực đợi mình ra là ào ào xô tới"
+ “gió thì giống những nhát chổi lớn muốn quét đi tất cả, 
ném vứt lung tung... Những lúc im lặng lạnh cánh mà lại 
hừng hực như cháy. Xong việc, trở vào, không thể nào 
ngủ được".
-> Nghệ thuật so sánh, liệt kê, nhân hóa được dùng hiệu 
quả, giúp người đọc cảm nhận thật rõ về sự khắc nghiệt 
của thời tiết Sa Pa.
- Thái độ của anh với công việc:
+ Vui vẻ, hồ hởi chia sẻ về công việc của mình rất chi 
tiết, tỉ mỉ, đầy hào hứng.
+ Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào vẫn luôn chăm chỉ, cần mẫn, 
đều đặn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
=> Anh thanh niên là một người yêu công việc, say mê lao động; có tinh thần trách nhiệm cao, có lí tưởng sống 
đẹp và tinh thần vượt khó, sẵn sàng chấp nhận thử thách.
* Luận điểm 2: Anh thanh niên có lẽ sống, lý tưởng 
sống cao cả đáng trân trọng
- Sống giữa những năm tháng chống Mĩ, anh luôn khát 
khao được cầm súng ra mặt trận, anh đã cùng bố viết đơn 
xin ra lính...
- Ý thức được ý nghĩa thiêng liêng của công việc, anh sẵn 
sàng vượt bao thử thách, gian khổ, đặc biệt là nỗi cô đơn 
để hoàn thành nhiệm vụ.
- Cũng vì ý thức trách nhiệm ấy mà anh không những 
không cảm thấy chán, không cảm thấy sợ mà còn đặc biệt 
yêu nghề, say mê với công việc của mình: "Khi ta làm 
việc, ta với công việc là đôi..."
* Luận điểm 3: Anh thanh niên có tâm hồn trẻ trung, 
yêu đời, yêu cuộc sống
- Là thanh niên, lại sống nơi heo hút, vắng người, nhưng 
anh không sống buông thả mà đã biết tổ chức cho mình 
một cuộc sống khoa học, văn hóa:
+ Căn phòng, nhà cửa gọn gàng ngăn nắp;
+ Trồng hoa tô điểm cho cuộc sống của mình
+ Nuôi gà tăng gia sản xuất, phục vụ cho cuộc sống của 
chính mình
+ Thỉnh thoảng xuống núi tìm gặp lái xe cùng hành khách 
để trò chuyện cho vơi nỗi nhớ nhà.
-> Anh thanh niên có tinh thần lạc quan, yêu đời, sống 
khoa học.
=> Anh thanh niên đã chiến thắng nỗi cô đơn và tạo cho 
mình một cuộc sống đẹp đẽ đầy ý nghĩa với một niềm yêu 
đơi, yêu cuộc sống say mê.
* Luận điểm 4: Anh thanh niên cởi mở, chân thành, 
hiếu khách, chu đáo.
- Niềm vui được đón tiếp khách dào dạt trong anh, bộc lộ 
qua từng cử chỉ, nét mặt, lời nói:
+ Biếu bác lái xe củ tam thất
+ Tặng bó hoa cho cô gái
+ Tặng giỏ trứng gà cho ông họa sĩ
- Anh thanh niên đã bộc bạch nỗi lòng, sẻ chia tâm sự với 
các vị khách một cách rất cởi mở, không hề giấu giếm
=> Sự cởi mở, những lời tâm sự chân thành của anh thanh niên đã giúp xóa bỏ khoảng cách giữa họ, tạo mối tâm 
giao đầy thân tình, cảm động.
* Luận điểm 5: Anh thanh niên là người rất khiêm 
tốn, giản dị, lễ phép.
- Khi ông họa sĩ bày tỏ ý muốn phác họa chân dung mình, 
anh từ chối vì tự thấy mình không xứng đáng với niềm 
cảm mến và sự tôn vinh ấy
- Anh giới thiệu cho ông họa sĩ về ông kĩ sư ở vườn rau, 
nhà khoa học nghiên cứu sét...
-> Anh chỉ dám nhận phần nhỏ bé, bình thường so với 
bao nhiêu người khác.
2. Tình cảm của tác giả:
-Qua nhân vật anh thanh niên, tác giả muốn gửi gắm tình 
cảm yêu mến, trân trọng và ngợi ca tới những người lao 
động chân chính, đang ngày ngày thầm lặng cống hiến 
cho đất nước
- Tác giả cũng thể hiện niềm tự hào và tình yêu nước qua 
việc đặt cái tên chung chung “anh thanh niên” ngầm 
khẳng định rằng trên khắp đất nước này có rất nhiều 
người lao động đáng trân quý như thế.
Bước 3. Đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Nhân vật được lí tưởng hóa từ nhiều điểm nhìn, nhiều 
góc nhìn
- Nhân vật được đặt trong tình huống đặc sắc:
+ Là thanh niên trẻ trung, sôi nổi, yêu đời nhưng lại làm 
việc ở một nơi heo hút, hẻo lánh và cô đơn.
+ Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa anh với ông họa sĩ, cô kĩ 
sư trên đỉnh Yên Sơn đã giúp người đọc cảm nhận được 
vẻ đẹp của anh.
- Không gọi nhân vật bằng tên cụ thể mà bằng đặc điểm 
giới tính, nghề nghiệp
- Khắc họa nhân vật qua những chi tiết nghệ thuật đặc 
sắc, giàu sức gợi.
3/ Kết bài
- Khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của anh thanh 
niên.
- Liên hệ bản thân và rút ra bài học về sự cống hiến cho 
đất nước.
d.Sáng tạo : Cách diễn đat độc đáo, có suy nghĩ riêng, 
mới mẻ, phù hợp với vấn đề nghị luận. e. Chính tả, dùng từ, đặt câu : Đảm bảo chuẩn xác chính 
 tả, dùng từ, đặt câu, ngữ pháp.
 -------------------------------------------------------------------------------------------
 ĐỀ THI THỬ VÀO 10
 ĐỀ SỐ 03 Môn NGỮ VĂN
 Thời gian: 120 phút
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
 Thay vì giúp con có một ước mơ thực sự, nhiều ông bố bà mẹ thường đưa trẻ 
đến những trung tâm bồi dưỡng tài năng để tham gia hết khóa học này đến chương 
trình khác. Bởi, phụ huynh cho rằng những chương trình đó rất bổ ích và có giá trị 
với con.
 (...) Ai trong chúng ta cũng có một ước mơ cho riêng mình, trẻ em cũng vậy. 
Song khác với người lớn, trẻ sẽ có nhiều ước mơ bay bổng do trí tưởng tượng 
phong phú. Khi đó nhiệm vụ của cha mẹ là nuôi dưỡng ước mơ của con một cách 
hợp lí, giúp chúng định hướng tương lai.
 Trẻ em thường xuyên có ước mơ mới mỗi khi ngưỡng mộ ai đó. Khi được bác 
sĩ chữa khỏi bệnh, trẻ mong ước lớn lên sẽ làm bác sĩ, khi xem tivi và chứng kiến 
những diễn viên xinh đẹp hoặc xem những bộ phim siêu nhân thì tước mơ của trẻ 
lại khác. Chắc hẳn, đây là câu chuyện xảy ra trong nhiều gia đình. Thường, trẻ nhỏ 
với suy nghĩ ngây thơ, có thể con sẽ thốt ra những câu nói khiến cha mẹ hoang 
mang. Khi đó không ít phụ huynh áp đặt suy nghĩ và mong muốn của mình lên 
con. Họ ép con thích những điều cha mẹ muốn. Song, đó không phải là niêm yết 
thích của trẻ. Theo các chuyên gia, đó là một trong những suy nghĩ sai lầm mà cha 
mẹ nên bỏ trong quá trình định hình ước mơ cho con trẻ. Theo chuyên gia Trần 
Quốc Phúc, cha mẹ hãy cho con một ước mơ và đừng bao giờ "tiêu diệt" giấc mơ 
đó. "Cha mẹ hãy hỏi con thích gì và tin con sẽ làm được điều đó. Cha mẹ hãy dẫn 
con tới nơi có những người thành công, để con tiếp cận, nhìn những căn nhà đẹp, 
những chiếc xe đẹp. Đồng thời để con chứng kiến cuộc sống của những trẻ em 
nghèo”, chuyên gia cho biết.
Theo: Vân Huyền, Khơi gợi điều trẻ muốn hướng tới, Báo Giáo dục và Thời đại, số 
99, Thứ hai, 26/04/2021, tr.13)
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra và gọi tên thành phần biệt lập trong câu văn sau: Chắc 
hẳn, đây là câu chuyện xảy ra trong nhiều gia đình.
Câu 3 (1,0 điểm): Nêu nội dung chính của văn bản trên. Câu 4 (1,0 điểm): Em có đồng tình với việc cha mẹ ép con thích những điều cha 
mẹ muốn không? Vì sao?
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ việc đọc hiểu văn bản ở phần I, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình 
bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của ước mơ đối với mỗi con người trong cuộc 
sống.
Câu 2 (5,0 điểm)
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
 Thuyền ta lái gió với buồm trăng 
 Lướt giữa mây cao với biển bằng, 
 Ra đậu dặm xa dò bụng biển, 
 Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
 Cá nhụ cá chim cùng cá đé, 
 Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, 
 Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe. 
 Đêm thở : sao lùa nước Hạ Long.
 Ta hát bài ca gọi cá vào, 
 Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. 
 Biển cho ta cả nhục lòng mẹ 
 Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
 (Trích Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt 
 Nam, 2019, tr. 140)
ĐÁP ÁN THAM KHẢO
 PHẦN CÂU NỘI DUNG ĐIỂM
I 1 Phương thức biểu đạt chính: nghị luận 0,5 điểm
 2 Thành phần biệt lập trong câu là: Chắc chắn – thành phần 0, 5 điểm
 tinh thái
 3 Học sinh có thể giải thích theo ý hiểu của mình, có lý giải 1,0 điểm
 Gợi ý:
 Đoạn trích đang nói tới thực hướng dạy con của các bậc 
 phụ huynh hiện nay. Đồng thời nói lên tiếng nói con trẻ 
 với mong muốn được thực sự phát triển, hướng tới đam 
 mê của mình.
 4 Học sinh trình bày quan điểm của mình, có lý giải. 1,0 điểm
 Gợi ý: Không đồng tình: Vì việc ép những đứa trẻ đi theo con đường mà cha mẹ chúng muốn sẽ khiến những đứa 
 trẻ trở thành những người máy, luôn làm theo những gì 
 được sắp đặt từ trước. Không phát huy được hết khả năng 
 của mình....
II 1 a. Đảm bảo hình thức đoạn văn nghị luận xã hội 2,0 điểm
 b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
 c. Triển khai hợp lý nội dung đoạn văn : Vận dụng tốt các 
 thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn 
 chứng.
 Có thể viết đoạn văn như sau:
 1.Mở đoạn:
 C1: Con người chúng ta từ khi sinh ra cho tới lúc trưởng 
 thành, ai cũng có một ước mơ, hoài bão của riêng mình.
 C2: Dân gian ta thường nói “Sống là phải có ước mơ” 
 2.Thân đoạn:
 a. Giải thích
 Ước mơ chính là những dự định, khát khao mà mỗi chúng 
 ta mong muốn đạt được trong thời gian ngắn hoặc dải. 
 Ước mơ chính là động lực để mỗi chúng ta vạch ra 
 phương hướng đường đi để dẫn tới ước mơ.
 b. Bàn luận chứng minh
 - Vai trò và ý nghĩa của ước mơ trong cuộc sống:
 + Ước mơ chính là ngọn đuốc soi sáng trong tim mỗi 
 chúng ta nó hướng chúng ta tới những điều tốt đẹp. 
 + Ước mơ cũng chính là mong muốn được cống hiến sức 
 lực của mình cho xã hội và khi chúng ta đạt được ước mơ 
 cũng là lúc chúng ta được thừa nhận năng lực của mình.
 Phân tích được con người đi tới ước mơ có dễ dàng 
 không?
 + Con đường dẫn tới ước mơ cũng vô cùng khó khăn, 
 không phải lúc nào cũng dễ dàng đạt được, nhưng với 
 những người kiên trì, bền chí, thì ước mơ sẽ giúp cho bạn 
 định hướng cho tương lai của mình một cách tốt đẹp nhất.
 Dẫn chứng cụ thể.
 - Nó là vì sao sáng soi những lối ta đi, khi đi qua những 
 khó khăn nhìn thấy ước mơ của mình lấp lánh ở phía xa 
 xa, bạn sẽ nỗ lực bước tiếp.
 - Những ước mơ sẽ đưa con người đi tới những tương lai, 
 không quản ngại những chông gai, nghiệt ngã, những khó 
 khăn trên con đường đi của mình. - Cuộc sống mà không có ước mơ thì sẽ như thế nào? 
 + Ước mơ là điều mà ai cũng nên có và cần có trong cuộc 
 sống bởi nếu không có ước mơ cuộc sống của bạn sẽ mất 
 phương hướng vô định. Dẫn chứng cụ thể.
 + Không có ước mơ bạn sẽ không xác định được mục tiêu 
 sống của mình là gì. Chính vì không xác định được 
 phương hướng sẽ dẫn tới bạn sẽ sống hoài sống phí, và 
 trở thành người tụt hậu bị bạn bè, xã hội bỏ lại phía sau.
 c. Bàn luận mở rộng: Phê phán những người không có 
 khát vọng, ước mơ,..
 d. Bài học nhận thức và hành động: Là một học sinh 
 ngồi trên ghế nhà trường chúng ta cần phải có ước mơ 
 mục đích sống cho riêng mình.
 3. Kết đoạn:
 - Để đạt được ước mơ chúng ta cần ra sức rèn luyện học 
 tập, tu dưỡng đạo đức để chuẩn bị những tư trang cần 
 thiết cho con đường đi tới ước mơ của mình.
 d. Sáng tạo : Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng, 
 mới mẻ, phù hợp với vấn đề nghị luận.
 e. Chính tả, dùng từ, đặt câu : Đảm bảo chuẩn xác chính 
 tả, dùng từ, đặt câu, ngữ pháp.
2 a.Đảm bảo hình thức bài văn nghị luận văn học 5,0 điểm
 b.Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
 c.Triển khai vấn nghị luận : Vận dụng tốt các thao tác 
 lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn chứng, thể 
 hiện sự cảm nhận sâu sắc. 
 Có thể viết bài văn theo định hướng sau :
 I/Mở bài
 Huy Cận là một trong những nhà thơ lớn của nền văn học 
 Việt Nam, đặc biệt là trong phong trào Thơ mới. Thơ của 
 ông luôn có một phong cách rất riêng với những nhà thơ 
 khác. Tiêu biểu cho các tác phẩm của ông trong thời kì 
 mới là bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” ra đời 1958. Bài 
 thơ là lời ca ngợi thiên nhiên và con người lao động Việt 
 Nam thời kì đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để lại 
 nhiều ấn tượng nhất trong lòng người đọc là vẻ đẹp và 
 mối giao hòa giữa con người và thiên nhiên trên cái 
 nền lộng lẫy, tráng lệ của vũ trụ biển cả qua ba khổ 
 thơ sau: “ Thuyền ta lái gió với buồm trăng
 Lướt giữa mây cao với biển bằng
 Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
 Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
 Cá nhụ cá chim cùng cá đé
 Cá song lấp lánh đuốc đen hồng.
 Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
 Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.
 Ta hát bài ca gọi cá vào,
 Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
 Biển cho ta cá như lòng mẹ
 Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.”
II/ Thân bài
1.Khái quát chung
Bài thơ được sáng tác trong chuyến đi công tác của Huy 
Cận tại vùng mỏ Hòn Gai, Quảng Ninh năm 1958 và 
được bắt nguồn từ cảm hứng ngợi ca công cuộc xây dựng 
chú nghĩa xã hội của miền Bắc tự do độc lập. Với ý nghĩa 
đó, bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá" là khúc tráng ca, ca 
ngợi con người laò động với tinh thần làm chủ và niềm 
vui, niềm tin trước cuộc sống mới trong những năm đầu 
xây dựng đất nước. Ba khổ thơ trên nằm giữa bài thơ, đã 
làm nổi bật với vẻ đẹp tráng lệ của biển khơi và vẻ đẹp 
khỏe khoắn, mạnh mẽ của đoàn thuyền, của con người 
trong lao động. Tất cả được viết lên bằng trí tưởng tượng 
mãnh liệt,bằng niềm hứng khởi bay bổng và bút pháp tạo 
hình đầy sáng tạo.
2.Phân tích, cảm nhận
Luận điểm 1: Người dân ra khơi với tư thế tầm vóc 
lớn lao (khổ 3)
 Mở đầu đoạn thơ là hình ảnh đoàn thuyền lướt nhanh 
giữa trời cao biển rộng có cái lân lân, sảng khoái lạ 
thường: 
 “Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Tài liệu đính kèm:

  • docbo_32_de_thi_thu_vao_10_mon_ngu_van_co_dap_an.doc