CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BÁO CÁO TÓM TẮT ( Đề nghị công nhận sáng kiến kinh nghiệm ) I. SƠ LƯỢC BẢN THÂN -Họ và tên: Đường Kim Quế -Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đại học sư phạm Văn -Chức năng, nhiệm vụ được phân công: Giáo viên -Đơn vị công tác: THCS Lương Thế Vinh, Đông Hải, Bạc Liêu II. NỘI DUNG 1.Sự cần thiết thực hiện sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp trong công tác đề tài nghiên cứu. Nhằm giúp phát huy năng lực và phẩm chất người học thông qua các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn THCS, GV là người chủ động, linh hoạt vận dụng nhiều hình thức khác nhau hướng các em đến với các tác phẩm văn học bằng sự say mê, hứng thú. Đồng thời góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung, rèn cho HS những kĩ năng cần thiết về việc sử dụng năng lực ngôn ngữ trong giao tiếp ngoài thực tiễn. 2.Tên sáng kiến, lĩnh vực của sáng kiến: “Lồng ghép các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn THCS”. 3.Mô tả nội dung, giải pháp của sáng kiến. a/ Nội dung của sáng kiến. Đưa ra nhiều hình thức lồng ghép các hoạt động trải nghiệm cho HS bằng nhiều hình thức thiết thực qua các tiết học, nội dung sinh hoạt cụ thể gây được sự hứng thú cho học sinh. b/ Giải pháp của đề tài: GV lựa chọn những hoạt động trải nghiệm phù hợp nhằm khắc sâu, củng cố kiến thức, phát huy khả năng sáng tạo trong giảng dạy Ngữ văn THCS. 4.Khả năng và phạm vi áp dụng sáng kiến: Sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi và phù hợp nhiều lớp học. 5.Thời điểm công nhận: 2022 6. Những lợi ích và hiệu quả mang lại khi nhân rộng sáng kiến (gọi tắt là sáng kiến) - Các em có niềm hăng say với môn học hơn, thường xuyên xây dựng bài, học bài, chuẩn bị bài trước khi đến lớp. - HS có sự chủ động, mạnh dạn tự tin trong các hoạt động tập thề. Khả năng diễn đạt được cải thiện rõ rệt. 7. Những đơn vị, cá nhân đã ứng dụng sáng kiến này: Tại nhà trường. XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG An Phúc, ngày 8 tháng 3 năm 2022 SÁNG KIẾN CẤP .. Người báo cáo Đường Kim Quế HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG THCS LƯƠNG THẾ VINH PHIẾU NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1. Kết quả chấm điểm: ..../100 điểm a) Về nội dung: - Tính mới: ../30 điểm - Tính hiệu quả: ./35 điểm - Tính ứng dụng thực tiễn: .../20 điểm - Tính khoa học: /10 điểm b) Về hình thức: ./05 điểm 2. Xếp loại: ................, ngày........tháng........năm 2022 CHỦ TỊCH HĐKH LỒNG GHÉP CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Ai cũng hiểu năng lực để mỗi con người vào đời không chỉ bó hẹp trong yêu cầu ghi nhớ, tích lũy kiến thức mà còn để phân tích sâu, vận dụng sáng tạo trong công việc và để sống tốt hơn. Môn Ngữ văn, trong ý nghĩa văn là đời càng cần vậy. Học Ngữ văn hiện nay không còn chủ yếu là đi vào khai thác cái hay cái đẹp của ngôn từ, của hình tượng nghệ thuật, mà còn để cái hay cái đẹp ấy giúp học sinh có kỹ năng sử dụng ngôn ngữ tốt, sống tích cực, nhân văn. Chính vì vậy, có lẽ chưa khi nào yêu cầu trải nghiệm trong hoạt động dạy và học Ngữ văn lại cấp thiết đến thế. Với vai trò là người dẫn đường cho học trò tham gia trải nghiệm, giáo viên dạy Ngữ văn cũng cần vừa năng động vừa có chiều sâu. Đó cũng chính là những trải nghiệm làm thầy, với tinh thần mới: Đổi mới sáng tạo trong giảng dạy! Dạy văn trong nhà trường phổ thông đang là một thử thách lớn với GV hiện nay. Dạy như thế nào cho hay, hiệu quả cao, tạo sự hứng thú, say mê cho HS quả thực là cả một vấn đề lớn. Việc HS không thích thú với môn văn cũng có nhiều lí do, tuy nhiên có một nguyên nhân khá quan trọng đó là: Thầy cô giáo chưa thực sự tạo ra sự cuốn hút HS bằng bài giảng của mình. Thầy cô chưa thực sự có nhưng bước ngoặt đột phá trong việc đổi mới phương pháp, vẫn nặng về phương pháp truyền thống thế nên việc dạy và học chưa thực sự hiệu quả. Với vai trò tổ chức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của HS, hơn ai hết việc phải tìm ra nhiều biện pháp để phát huy cao nhất tính tích cực sáng tạo của người học, tạo niềm hứng thú say mê học tập ở các em chính là nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi người GV đứng lớp. Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn góp một phần vào việc tạo thêm hứng thú cho người học, giúp học sinh tích cực, chủ động tiếp nhận tri thức và hình thành kĩ năng, phát triển nhân cách, đồng thời nhằm góp phần đổi mới những phương pháp dạy học Ngữ văn truyền thống tôi mạnh dạn xin được trao đổi một số kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trường THCS với sáng kiến : “ Lồng ghép các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn THCS” II.NỘI DUNG: 1. Lợi ích của việc học trải nghiệm môn Ngữ văn: Học tập trải nghiệm ngữ văn khiến môn học này không còn khô khan, nặng nề đọc chép mà mang lại nhiều lợi ích thiết thực hơn: a. Giúp người học chủ động tiếp nhận kiến thức Với phương pháp học trải nghiệm môn ngữ văn, giáo viên thường sẽ để học sinh chủ động tìm hiểu tác phẩm dưới nhiều hình thức. Ngoài ra, thầy cô còn có thể giao nhiệm vụ phù hợp trước, trong và sau khi học một bài học cho các bạn. Từ đó, học sinh sẽ hứng thú hơn và chủ động tìm hiểu tác phẩm để hoàn thành nhiệm vụ. Ví dụ, với tác phẩm “ Bài học đường đời đầu tiên”( Ngữ văn 6), thay vì yêu cầu học sinh về nhà soạn bài một cách ép buộc, giáo viên có thể chia vai cho học sinh để các em tự tìm hiểu nhân vật của mình. Sau đó, các bạn cùng nhau đóng kịch, phản biện với nhau tại một phiên tòa xem Dế Mèn nên rút ra những bài học gì cho bản thân. Nhờ hoạt động đó, học sinh có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về nhân vật, tác phẩm. Các kiến thức như cốt truyện, hình tượng nhân vật, giá trị hiện thực và nhân đạo của một tác phẩm văn học,... được các em tiếp thu dễ dàng, sâu sắc hơn. b. Kích thích trí sáng tạo Với các hình thức đa dạng từ thi hát, vẽ, làm đồ thủ công, tranh biện, học trải nghiệm sáng tạo môn ngữ văn sẽ giúp kích thích trí tưởng tượng và óc sáng tạo của học sinh. Ví dụ, giáo viên có thể ra đề cho học sinh vẽ lại chân dung nhân vật Thúy Kiều/ Thúy Vân ( Ngữ văn 9) theo tưởng tượng của các em dựa trên miêu tả của Đại thi hào Nguyễn Du. Trước giờ học, các em sẽ tự chuẩn bị giấy, màu vẽ, đạo cụ cần có khác để sáng tạo bức vẽ theo hình thức 3D chẳng hạn. Học sinh cũng cần trao đổi, bàn luận để thống nhất về ý tưởng thể hiện. Trong giờ học, các em tự tay thực hiện ý tưởng của mình hoặc của nhóm. Một thành viên sẽ đại diện thuyết trình về bức tranh sau khi hoàn thành. Qua đó, các em tự đúc rút những tính cách, đặc trưng nhân vật. Hình thức học sáng tạo này giúp học sinh chủ động tìm hiểu nhân vật, phân tích dựa trên hiểu biết của mình, đánh giá nhân vật chi tiết hơn. c. Khơi gợi niềm yêu thích với văn học và cái đẹp Thay vì việc chỉ ngồi nghe, đọc và chép, giờ đây học sinh có thể chủ động trải nghiệm tác phẩm văn học một cách sống động, đa dạng hình thức và thú vị hơn. Từ đó, học sinh sẽ cảm được cái hay, cái đẹp của văn học. Học sinh có thể hóa thân thành một nhân vật trong tác phẩm để thể hiện lại chính tác phẩm đó. Các em tự chọn tác phẩm mình thích, chuyển thể từ văn xuôi hoặc thơ sang hình thức thoại trong kịch nói. Trước giờ học, học sinh chuẩn bị trang phục, đạo cụ, tập lời thoại. Trong giờ học, các em thể hiện tính cách và tâm lý nhân vật thông qua cử chỉ, lời thoại nằm trong kịch bản đã chuẩn bị trước đó. Ngoài ra, học sinh cần phối hợp nhịp nhàng với thành viên trong nhóm để đem đến trích đoạn văn học đặc sắc và sinh động nhất. Hình thức học văn sáng tạo này giúp học sinh tiếp cận tác phẩm theo góc nhìn mới mẻ hơn. Các em sẽ hiểu chi tiết tính cách, đặc trưng nhân vật nhờ quá trình tự tìm tòi, chuyển thể văn hoặc thơ sang kịch. Học thuộc thoại và diễn lại trên sân khấu giúp học sinh vừa nhớ kỹ nội dung tác phẩm, vừa rèn sự tự tin, kỹ năng giao tiếp. d.Tăng tư duy phản biện Thông qua hoạt động học trải nghiệm môn ngữ văn, học sinh sẽ không tiếp nhận kiến thức một chiều mà được tự do thể hiện quan điểm, đánh giá của mình về nhân vật. Do đó, cách học này rèn luyện cho các em tư duy phản biện hiệu quả. Ví dụ, ở giờ Ngữ văn, giáo viên có thể tổ chức cuộc thi tranh biện trong lớp về cái kết của truyện Sọ Dừa. Thầy cô có thể đặt ra một loạt câu hỏi cho học sinh như về tính logic trong cách hành xử của nhân vật, ý nghĩa nhân văn của kết truyện,... Hoạt động đó góp phần kích thích tinh thần tranh luận sôi nổi, để các bạn học sinh đưa ra nhiều ý kiến trái chiều thú vị. 2. Các hoạt động học trải nghiệm môn Ngữ văn: a. Sân khấu hóa tác phẩm văn học ( Ngoại khóa văn học) Để tăng cảm hứng học tập môn ngữ văn cho các em học sinh và khuyến khích tinh thần đọc sách, cũng như sự cảm thụ tác phẩm văn học và đồng sáng tạo cùng nhà văn Gv có thể cho các em hs học theo cách sân khấu hóa tác phẩm văn học. Nghĩa là học Văn bằng... diễn kịch. Nghĩa là hs sẽ chuyển thể tác phẩm văn học thành vở diễn, sau đó thảo luận những vấn đề trọng tâm. Từ đó rút ra những bài học cần thiết của tác phẩm. GV có thể chọn tác phẩm phù hợp để áp dụng cách này. Mỗi lớp sẽ được chia nhóm thành các êkip. Trong êkip có các ban khác nhau như viết kịch bản, phụ trách diễn xuất, media, hậu cần, nhóm tổ chức hội thảo... học sinh dàn dựng từ chính tác phẩm văn học các em đang học trong trường để chuyển thành vở diễn. Các em tự xây dựng kịch bản, Gv chỉ duyệt. Việc chuẩn bị phục trang, dựng cảnh, phân vai diễn xuất, rồi chọn nhạc, làm tiếng động... để tạo nên một vở diễn ngắn ấn tượng đều là sáng tạo của học sinh. Học là... thảo luận. Khác với việc chỉ dừng lại ở dựng tiểu phẩm tham dự các hội thi, sân khấu hóa tác phẩm văn học được thực hiện tại từng lớp học và trở thành một phần của bài học. Sau phần diễn kịch hs các nhóm sẽ cùng thảo luận về một số vấn đề trọng tâm của bài học. Với cách thức này, tất cả học sinh đều phải đọc tác phẩm để nắm nội dung, tìm những chi tiết đắt giá góp ý cho kịch bản. Việc dựng lại những câu chuyện trong bối cảnh thực tại của hàng chục năm trước trong cái nhìn mới mẻ của chính các em học sinh đã thổi luồng gió mới vào tác phẩm văn học, khiến tác phẩm văn học không xa rời thực tế cuộc sống hiện tại, không nhàm chán, đơn điệu mà có sức hấp dẫn mới. Từ đó rút ra ý nghĩa của tác phẩm hay trích đoạn tác phẩm để tất cả học sinh cùng nắm bắt và thấu hiểu. Nhiều tác phẩm văn học ở các thể loại từ cổ tích, truyền thuyết (lớp 6), tự sự, văn học hiện đại có thể được lựa chọn đê sân khấu hóa cụ thể như: Lớp 6 “Thánh Gióng”, “Em bé thông minh”, văn học tự sự, hiện đại như “ Bài học đường đời đầu tiên” “ Tức nước vỡ bờ”, “ Chuyện người con gái Nam Xương”, “Chiếc lược ngà” Những tác phẩm này được các em hs chuyển sang dạng kịch, phân vai và diễn xuất. Ngoài đầu tư cho diễn xuất, các em đầu tư thêm trang phục, đạo cụ để phần biểu diễn thêm sinh động và chân thật, truyền tải hết nội dung, ý nghĩa của tác phẩm đến người xem.(Tùy vào điều kiện thực tế) Trong các năm qua thực tế giảng dạy, có nhiều nhóm học sinh của tôi đã chọn văn bản“ Chuyện người con gái Nam Xương”để sân khấu hóa.Các em có sự sáng tạo trong lời thoại nhưng không làm mất đi nội dung của tác phẩm. Mỗi nhóm học sinh nhìn nhận theo một cách riêng, mỗi nhóm chọn những điểm nhấn khác nhau. Bởi vậy, chính các em đã là “đồng sáng tạo” với nhà văn”. Vở diễn của các nhóm được thể hiện khá thành công, và HS trong lớp rất hứng thú khi thảo luận các vấn đề sau khi tìm hiểu tác phẩm: - Theo em, để cứu lấy những con người như Vũ Nương thì xã hội cần phải làm gì? Qua hình tượng nhân vật Vũ Nương, theo em Nguyễn Dữ muốn đề cập tới một vấn đề quan trọng nhất là gì? - Nếu được viết lại kết truyện “ Chuyện người con gái Nam Xương”, em sẽ viết lại như thế nào? - Qua nhân vật Vũ Nương, em có thể liên hệ đến thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến và phụ nữ thời hiện đại như thế nào?... Như vậy, việc sân khấu hóa tác phẩm văn học là một sáng tạo trong phương pháp dạy học văn mà tôi nghĩ không chỉ tạo được hứng thú trong học tập mà còn đem đến hiệu quả trong việc tự học của hs. Học văn bằng diễn kịch, bằng múa, bằng âm nhạc giúp học sinh có thêm nhiều cơ hội tiếp cận và cảm thụ văn bản theo nhiều cách khác nhau. Cách học này khơi dậy lòng yêu thích môn Văn, phát huy khả năng tổ chức, biên kịch, diễn xuất của học sinh. Theo tôi, đổi mới đối với môn Văn trước hết phải thoát khỏi cách học một chiều thầy cứ đọc và trò cứ chép, những bài làm văn của các em lại được đi sao chép, cóp nhặt. Chỉ khi các em được trải nghiệm, được hóa thân vào tác phẩm, nhân vật thì mới có thể khắc sâu vào tâm hồn, suy nghĩ của các em, mới có thể yêu thích môn Văn. “10 giờ dạy học một chiều không bằng 2 giờ các em tự tìm tòi, thể hiện. Chắc chắn những bài học này, những bài văn này sẽ theo các em suốt cuộc đời”. b. Trải nghiệm làm “ Hướng dẫn viên du lịch”: Đối với các tiết dạy Tập làm văn (Phần Văn bản thuyết minh- Ngữ văn 8), các em được tiếp cận với kiểu văn bản cần cung cấp tri thức chính xác, khách quan về đối tượng như: Thuyết minh về một thứ đồ dùng, thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, thuyết minh về một phương pháp(cách làm), thuyết minh về một thể loại văn học. Để giờ học thêm phần sinh động, lôi cuốn sự chú ý GV có thể hướng dẫn các em trình bày thông qua trải nghiệm làm “Hướng dẫn viên du lịch”. VD: Khi dạy bài Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh: Trước tiết học GV giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm chuẩn bị bài thuyết trình của mình : Chọn một cảnh đẹp của quê hương em để giới thiệu đến với tất cả mọi người. HS sẽ thu thập những thông tin cần thiết về lịch sử văn hóa, vị trí địa lí, đặc điểm nổi bật để viết thành bài thuyết minh, phân công người trình bày. GV tổ chức cho các em thực hiện phần chuẩn bị của mình dưới hình thức các em sẽ là một hướng dẫn viên du lịch, nhóm nào thể hiện tốt sẽ được cộng điểm khích lệ. Với hoạt động trải nghiệm này HS sẽ rèn luyện được một số kĩ năng : Kỹ năng giao tiếp – xử lý tình huống, Kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ (giao tiếp thông qua các cử chỉ phi ngôn ngữ khác như nét mặt, điệu bộ ), Kỹ năng thuyết trình – thuyết phục, Kỹ năng tổ chức, làm việc nhóm. Qua đó, các em sẽ cảm thấy tự tin hơn, hứng thú hơn khi khám phá kiến thức mới thông qua nhiều sự trải nghiệm thú vị. d. Trải nghiệm làm “ Những phóng viên nhí”: Chương trình Ngữ văn 9 các em được tiếp cận kiểu bài Nghị luận xã hội ( Nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống), để HS có những nhận định cá nhân về những vấn đề đặt ra thông qua những bài viết ngắn, GV có thể tổ chứa hoạt động trải nghiệm với hình thức “ Em tập làm phóng viên”. Cụ thể, sau khi học lí thuyết, GV phân công cho các nhóm thu thập thông tin về nhưng vấn đề thiết thực như: Bảo vệ môi trường, An toàn giao thông, Ý thức phòng chống dịch bệnh hay Cá vấn đề tệ nạn xã hội.. bằng hình thức trình bày tập san. Theo đó, HS sẽ làm việc nhóm, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên với các nhiệm vụ như: Bạn thì vẽ tranh, bạn thì viết bài văn nghị luận, bạn thì viết những câu khẩu hiệu ( nếu có thể các em sẽ quay một đoạn clip ngắn với thông điệp ngắn gửi đến mọi người). Và thực tế khi tổ chức hoạt động trải nghiệm này kết quả thu về thật bất ngờ. Rất nhiều em đã phát huy được tính sáng tạo của bản thân. Khi lên lớp, các em rất hào hứng để thuyết trình những sản phẩm của mình, thuyết trình như những phóng viên thực thụ. Những sản phẩm của các em sẽ được GV lưu lại, kết hợp lựa chọn những sản phẩm có chất lượng để trưng bày nhằm khích lệ, động viên các em. d. Thành lập câu lạc bộ “ Em yêu văn học”: Nếu như trong các giờ học ở trên lớp, HS chỉ được học các kiến thức và cách sử dụng những công cụ nhằm mục đích phát triển năng lực viết, hay cụ thể hơn là kĩ năng tạo lập văn bản để vượt qua các bài thi, bài kiểm tra thì tại mô hình Câu lạc bộ (CLB), các em có cơ hội được sử dụng những kiến thức đó, áp dụng vào các tình huống thực tiễn cụ thể và phục vụ trực tiếp cho cuộc sống. Nhằm tạo sân chơi lành mạnh cho các em học sinh trong nhà trường có lòng yêu mến Văn học, phát huy khả năng sáng tạo, khả năng viết văn của học sinh thông qua các đợt phát động sáng tác thơ văn. - Mở rộng kiến thức SGK và trang bị kiến thức chuyên sâu về văn học cho học sinh thông qua các buổi giao lưu, thảo luận. - Khơi gợi niềm yêu thích và thói quen đọc sách cho các em học sinh. - Đưa văn học gần gũi với thực tế đời sống bằng các chuyên đề ngoại khóa. - Học sinh nhận ra giá trị đoàn kết thông qua việc sinh hoạt tập thể, sinh hoạt nhóm, qua đó học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong quá trình làm việc và học tập. Ngay từ đầu năm GVBM Ngữ văn sẽ lên kế hoạch cụ thể về thời gian thực hiện, số lượng HS các khối tham gia, nội dung các chủ đề cụ thể... Từ đó, GV sẽ tiến hành sinh hoạt câu lạc bộ theo từng chủ điểm, ví dụ như: Tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tinh thần tuổi trẻ... Đến với câu lạc bộ, HS sẽ được phát huy tính sáng tạo của mình qua các bài viết, sáng tác thơ hay những bình phẩm về các tác phẩm mới... Tuy điều kiện thực tế còn gặp nhiều khó khăn những thông qua trải nghiệm tham gia câu lạc bộ “Em yêu văn học” GV có thể phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu để tham dự các cuộc thi học sinh giỏi các cấp tổ chức. Đồng thời, các em sẽ có được một sân chơi lành mạnh mà ở đó các em được thể hiện niềm yêu thích học tập Ngữ văn, được thỏa sức sáng tạo. Đây cũng thật sự là một trải nghiệm thú vị. III. KẾT LUẬN: Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực, việc áp dụng lồng ghép các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn THCS là rất cần thiết . Việc làm này sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả dạy của GV và học của HS. Nó sẽ góp phần nâng cao hứng thú của HS trong mỗi giờ học Ngữ văn, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn. GV giảng dạy Ngữ văn ngoài việc phải không ngừng tự học để nâng cao chuyên môn, bồi dưỡng kiến thức lí luận, kiến thức từ thực tế đời sống, còn cần phải thường xuyên học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, nghiên cứu thêm về nghệ thuật sư phạm, tìm tòi các biện pháp tự bồi dưỡng những phương pháp dạy học tích cực. Với một tiết dạy học cụ thể đòi hỏi GV phải có sự sáng tạo, lòng yêu nghề. Vận dụng linh hoạt trong từng tiết dạy để gây hứng thú học tập, tạo một không khí học tập vui vẻ, thoải mái giúp HS ngày càng yêu thích bộ môn Ngữ văn, giúp việc dạy và việc học đạt kết quả cao. Những biện pháp mà tôi đề xuất trao đổi trên đây không quá khó thực hiện, cũng không cần các phương tiện dạy học quá hiện đại mà các nhà trường hiện nay không thể đáp ứng được, do vậy các đồng nghiệp có thể dễ dàng áp dụng. Tuy nhiên đây không phải là những biện pháp duy nhất để có thể tạo hứng thú cho HS trong giờ học môn Ngữ văn, để một giờ học có hiệu quả về kiến thức cũng như tạo được hứng thú cho HS, GV cần áp dụng linh hoạt các biện pháp, phương pháp một cách phù hợp với từng tiết dạy cụ thể nhằm hướng đến hiệu quả tối ưu nhất khi giảng dạy. Người viết Đường Kim Quế
Tài liệu đính kèm: