1 MỘT SỐ KINH NGHIỆM DUY TRÌ SỈ SỐ HỌC SINH LỚP YẾU KÉM I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu học tập của con người ngày càng được nâng cao. “ Học để thoát nghèo” hay “ Học để làm giàu” là các khẩu hiệu quen thuộc khi chúng ta di chuyển trên các tuyến đường của xã vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Thật sự việc học mang đến rất nhiều lợi ít cho bản thân và gia đình của học sinh. Nhưng ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa thì việc học đối với các em không quan trọng. Rất nhiều gia đình nông thôn có tư tưởng học nhiều cũng chẳn làm được gì? Nên khi con em có ý định nghỉ học sẽ được gia đình đồng ý ngay. Là giáo viên được phân công giảng dạy ở trường nông thôn đồng thời chủ nhiệm lớp yếu kém của trường, hầu như năm nào cũng không duy trì được sỉ số từ đầu năm đến cuối năm. Muốn duy trì sỉ số học sinh đã khó đối với các lớp yếu kém lại càng khó khăn hơn rất nhiều. Chính vì thế đặt ra cho tôi một trăn trở, đó là làm sao có thể duy trì được sỉ số học sinh ở các lớp yếu kém đến cuối năm. Sau khi trãi qua 2 năm chủ nhiệm lớp yếu kém, tôi đã rút ra cho mình một số kinh nghiệm để duy trì sỉ số học sinh. II. NỘI DUNG: 1. Thực trạng: Năm học 2020 -2021 được sự phân công của BGH nhà trường làm công tác chủ nhiệm lớp 6A2. Sỉ số lớp 32/12 em, về học lực của các em lớp tôi chủ nhiệm không có học sinh giỏi, số học sinh có học lực trung bình và khá chỉ khoảng 2/3 lớp, còn lại là học lực yếu. Có 3 em là học sinh thuộc diện chính sách: hộ nghèo, cận nghèo. Có 4 em cha mẹ ly dị sống với ông bà, còn lại các em đều là con em gia đình nông dân đa số em cha mẹ đi làm ăn xa ở tp. Hồ Chí Minh. Vì vậy việc học đối với các em học sinh còn thiếu sự quan tâm của các bậc phụ huynh. 2. Thuận lợi, khó khăn: 2.1. Thuận lợi: 2 Các em học sinh lớp 6 do mới chuyển trường bước vào cấp 2 gặp nhiều bỡ ngỡ nên rất nghe lời thầy cô. Một bộ phận học sinh có ý thức kỷ luật cao, ngoan, lễ phép với thầy cô, biết vâng lời cha mẹ. Tích cực tham gia hoạt động phong trào do Đoàn trường, lớp tổ chức. Cơ sở vật chất trường tương đối đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh. Được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, đội ngũ giáo viên bộ môn có chuyên môn vững, nhiệt tình trong giảng dạy. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bậc phụ huynh với giáo viên chủ nhiệm và đoàn thể. Sự giúp đỡ nhiệt tình của chính quyền địa phương. 2.2. Khó khăn: Phong Thạnh Tây là một xã vùng sâu, đời sống kinh tế một số gia đình khó khăn, việc đầu tư cho con em trong quá trình học tập còn nhiều hạn chế. Điều kiện kinh tế khó khăn, đa phần cha mẹ các em đều đi làm ăn xa ở Tp Hồ Chí Minh nên việc gặp gỡ trao đổi công việc học tập của các em với phụ huynh rất khó khăn, chủ yếu qua điện thoại. Một số học sinh còn lại ở nhà với ông bà già yếu nên trong các cuộc họp phụ huynh quang trọng đầu năm hay cuối năm thường vắng mặt. Một phần học sinh cá biệt chưa có ý thức trong học tập và rèn luyện đạo đức chủ yếu do tác động từ hoàn cảnh gia đình hoặc xã hội, bạn bè. Một số học sinh có hoàn cảnh gia đình không thuận lợi, không ổn định, cha mẹ ly thân, ly dị, đi làm ăn xa lo kiếm sống không có thời gian chăm sóc con cái. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, đông con các em phải nghỉ học để đi làm thêm phụ giúp gia đình. 3 Với những khó khăn trên, để có thể duy trì sỉ số học sinh đòi hỏi giáo viên phải có bản lĩnh, tính dứt khoát và quan trọng nhất là sự kiên trì, bao dung, yêu thương học sinh như con em của chính mình. 3. Biện pháp: 3.1. Công tác chủ nhiệm Ngay từ khi nhận lớp phải tìm hiểu rõ lý lịch học sinh, lập danh sách những em học sinh có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách, học sinh cá biệt, đặc biệt là đối tượng có nguy cơ bỏ học. Đối tượng này giáo viên phải thường xuyên chú ý, theo dõi. Thường xuyên sinh hoạt 15 phút đầu giờ quan sát hoạt động của các em, có hòa nhập được với tập thể hay không? Có thường xuyên quên tập và không học bài không? Khi thấy các em có dấu hiệu chán nản, lơ là việc học phải nhắc nhở, động viên học sinh ngay không để tình trạng đó kéo dài. Đối với các em có nguy cơ bỏ học do hoàn cảnh khó khăn giáo viên chủ nhiệm phải tìm rõ nguyên nhân và có biện pháp cụ thể, thiết thực giải quyết được khó khăn của học sinh như: phối hợp với đoàn thể, địa phương, doanh nghiệp tặng học bổng, phương tiện đi lại, miễn giảm các khoản đóng góp, hỗ trợ sinh kế cho gia đình. Bản thân nhận đỡ đầu 2 học sinh nghèo của lớp, hỗ trợ tiền đi xe buýt cho các em đi học hằng ngày, đầu năm tặng đồng phục cùng vở ghi để các em không mặc cảm khi đến lớp. Lập bảng thống kê tỉ lệ chuyên cần hàng tháng, cuối mỗi học kì sẽ tổng hợp và thông báo trước lớp. Học sinh nào đạt tỉ lệ chuyên cần từ 90% trở lên sẽ được tuyên dương và khen thưởng. Thường xuyên liên hệ phụ huynh, thông báo tình hình học tập và đạo đức, các buổi vắng mặt của học sinh qua nhóm zalo, tin nhắn edu. Việc làm này vừa nhanh vừa hiệu quả, không mất nhiều thời gian chỉ cần học sinh vắng học một buổi là phụ huynh nắm được thông tin nên không có em nào trốn học đi chơi. 4 3.2. Tổ chức họp phụ huynh đầu năm Tổ chức hội nghị phụ huynh học sinh đầu năm là vấn đề cần thiết, đó là chìa khoá mở cánh cửa của mối liên hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội nhằm giáo dục cho con em mình ngày càng tốt hơn. Viết thư mời và yêu cầu học sinh gửi về cho phụ huynh. Yêu cầu các em nhắc nhở phụ huynh đi họp đầy đủ, đúng giờ và chỉ xét cho những trường hợp vắng có lí do chính đáng rồi liên hệ trực tiếp với giáo viên chủ nhiệm ngay ngày hôm sau. Tại cuộc họp giáo viên chủ nhiệm phải nêu khái quát tình hình của lớp, những khó khăn cũng như thuận lợi để phụ huynh nắm bắt được. Để phụ huynh đồng tình với giáo viên và có những hỗ trợ kịp thời. Làm tốt công tác tư tưởng để phụ huynh thấy được tầm quan trọng của việc học, sự quan tâm của phụ huynh góp vai trò rất lớn trong việc giáo dục học sinh và duy trì cơ hội học tập cuả các em. Bầu ban đại diện cha mẹ học sinh, cần chọn những phụ huynh nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm và là người ở địa phương để có thể hổ trợ giáo viên khi cần thiết. 3.3. Nắm được hoàn cảnh và điều kiện gia đình từng học sinh Do học sinh lớp 6 mới chuyển trường lên nên giáo viên không thể nắm rõ hoàn cảnh mỗi em thông qua giáo viên chủ nhiệm cũ, nên giáo viên cần có phiếu thu thập thông tin học sinh. Nội dung phiếu phải ghi rõ các nội dung: - Tên cha mẹ, địa chỉ, số điện thoại liên lạc, cần xác minh ngay số điện thoại có liên lạc được hay không và có đúng phụ huynh không. - Hoàn cảnh gia đình: khó khăn, hộ nghèo, hộ cận nghèo. - Ghi thêm một số câu hỏi để các em trả lời vào phiếu: sống cùng với ai? Gia đình có mấy thành viên? Dân tộc gì? Công việc hằng ngày của em ở nhà là gì? 5 Sau khi nắm rõ hoàn cảnh từng học sinh, tôi tổng hợp vào sổ theo dõi cá nhân, phân loại đối tượng học sinh, đặc biệt lưu ý những em có hoàn cảnh khó khăn và nguy cơ bỏ học cao. Việc làm này giúp tôi có biện pháp giáo dục thích họp từng đối tượng. 3.4. Đối với các em học sinh cá biệt: Nắm chắc hoàn cảnh gia đình: nơi ở, thành phần, điều kiện kinh tế, sinh sống cùng ai. Nắm được ưu điểm và khuyết điểm của học sinh cá biệt. Kịp thời động viên, giúp đỡ khi em gặp khó khăn. Đối với các em học sinh cá biệt thì một thay đổi nhỏ của các em cũng đáng trân trọng, phải kịp thời khích lệ. Học sinh cá biệt chắc chắn các em sẽ thường xuyên vi phạm nội quy, người giáo viên chủ nhiệm nên tìm rõ nguyên nhân. Không nên phạt nặng trong những lần đầu vi phạm các em sẽ càng thêm chán nản. Trường họp này giáo viên nên sử dụng tình cảm, tâm sự chia sẽ cùng các em. Để các em thấy được trường học không phải chỉ dạy học mà còn dạy làm người. Đối với các em học sinh cá biệt tôi dành nhiều tình cảm hơn, thường xuyên chủ động tâm sự với các em về việc học ở lớp ở nhà, tâm sự chuyện gia đình. Từ những tình cảm chân thành đó, tôi thấy các em thay đổi đạo đức rõ ràng hơn. Mặc dù học vẫn còn yếu nhưng các em không còn bị các thầy cô bộ môn phê bình về đạo đức. 3.5. Giáo viên chủ nhiệm phối hợp với giáo viên bộ môn Ngoài hoàn cảnh khó khăn dẫn đến bỏ học thì một nguyên nhân không thể không nói đến là sự chán nản các môn học. Vấn đề này thì GVCN cần kết hợp chặt chẽ với GVBM để ngăn chặn. GVCN thường xuyên trao đổi với GVBM tình hình học tập của lớp để có phương pháp giáo dục thích hợp. GVCN luôn lắng nghe những nhận xét đánh giá của GVBM, khi có nhận xét về học sinh chưa ngoan, vô lễ giáo viên thì GVCN nên nghe từ 2 phía tránh việc chưa tìm hiểu kĩ lí do đã phán xét học sinh, gây cho các em tâm lý chán nản, thiếu sự công bằng, thấu hiểu từ GVCN. GVCN cùng GVBM phối hợp giải quyết các vi phạm của 6 học sinh ví dụ như mời riêng em đó lên tìm hiểu lý do, phân tích hành động đúng sai để các hiểu, kịp thời uống nắn để các em không vi phạm nữa. GVBM phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, hạn chế phê bình các em học lực quá yếu, thay vào đó là động viên khuyến khích các em yếu. Đưa bài tập dễ cho các em học sinh yếu làm để khuyến khích tin thần học của các em. Ví dụ: em Tuyền hay ngủ trong giờ học, nhiều lần bị GVBM phê bình và ghi tên vào sổ theo dõi tiết học, em chán nản nghỉ học. Sau khi nghe thông báo từ GVBM thì tôi đã tìm hiểu lý do vì sao em hay ngủ gật trong giờ, biết được lý do là 2h sáng em đã phải thức dậy giúp mẹ làm bánh bán nên khi vào lớp học cô giảng bài quá nhỏ, ít cho hoạt động nên làm em buồn ngủ. Nắm được lý do tôi liên hệ với GVBM trình bày những khó khăn của em Như để GVBM có thể thông cảm đồng thời để GVBM đổi mới phương pháp dạy học của mình cho phù hợp, liên hệ ngay với phụ huynh thông báo tình hình của em để gia đình điều chỉnh thời gian học tập, nghỉ ngơi của em, việc thức khuya phụ giúp gia đình ảnh hưởng đến việc học tập rất nhiều. Thông qua ví dụ nhỏ cho thấy được sự hiệu quả và kịp thời khi giáo viên chủ nhiệm kết hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn đã kịp thời ngăn chặn được học sinh có nguy cơ bỏ học. 3.6. Cách giải quyết học sinh nghỉ học: Khi học sinh nghỉ học 1 ngày không phép, tôi gọi điện thoại thông báo đến phụ huynh. Nếu nghỉ quá 2 ngày không phép thì tôi đến tận nhà tìm hiểu nguyên nhân. Việc giáo viên tìm đến tận nhà rất ý nghĩa, có thể giúp giáo viên biết được nguyên nhân vì sao học sinh nghỉ học, còn phụ huynh thì thấy được sự quan tâm của giáo viên đối với con em mình, có tác động lớn đến hành động của phụ huynh là nhắc nhở con em mình đi học đều. Đối với trường hợp các em nghỉ học do lười biếng, chán học tôi phân tích, nêu ích lợi của việc học đối với các em, ở lứa tuổi 12, 13 tuổi các em còn quá nhỏ chưa thể làm nghề nào tạo ra số tiền lớn để nuôi sống bản thân, phụ giúp gia đình. Trò 7 chuyện, quan tâm, tìm hiểu xem em có gặp khó khăn gì trong học tập. Sắp xếp chổ ngồi phù hợp, một bạn học tốt sẽ ngồi cùng bạn học yếu hơn. Tổ chức phong trào thi đua “đôi bạn cùng tiến” trong lớp, khen thưởng kịp thời hằng tuần bằng bánh kẹo cho cặp đôi nào học tập cùng tiến bộ, khen thưởng hằng tháng bằng tập vở cho đôi bạn cùng tiến để các em cùng nhau cố gắng. Khi tổ chức khen thưởng, động viên kịp thời tôi thấy tinh thần học tập của lớp nâng cao rõ rệt, đôi bạn nào cũng cố gắng học để nhận phần thưởng. Phần thưởng nhỏ, giá trị ít nhưng khuyến khích được tinh thần học tập của các em, không còn chán nản bỏ học. Đối với trường họp học sinh nghỉ vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, tôi liên hệ với địa phương cấp cho em giấy chứng nhân gia đình khó khăn để gia đình được giúp đỡ kịp thời. Bản thân hỗ trợ tập viết, sách giáo khoa cho học sinh. Ngoài ra có thể liên hệ với ban đại diện cha mẹ học sinh để hỗ trợ tạo điều kiện cho em được tiếp tục đến trường. 3.7. Kết quả đạt được: Sĩ số học sinh luôn duy trì 100%, không có học sinh nghỉ học không lý do, bỏ học như trước đây. Không có học sinh bị trách phạt trước toàn trường; học sinh đến trường luôn đảm bảo an toàn cả trong giờ học lẫn giờ chơi; không có học sinh gây gỗ, đánh nhau trong và ngoài nhà trường.100% học sinh đều tích cực tham gia các buổi sinh hoạt tập thể, các buổi học phụ đạo cũng như bồi dưỡng trái buổi. III. KẾT LUẬN: Năm học 2020 – 2021, với các biện pháp nêu trên tôi đã thu được nhiều kết quả khả quan. Rõ ràng, qua cách làm này, tôi thấy kết quả học tập của học sinh lớp tôi ngày càng tiến bộ rõ rệt. Các em ngày càng chăm ngoan, tình cảm cô trò, bạn bè ngày càng gắn bó, thân thiện, ý thức tự giác, tự quản của các em ngày một nâng cao. Sỉ số học sinh đầu năm là 32 em, được duy trì đến cuối năm 32 em đạt 100%. Trong quá trình thực hiện các biện pháp tôi rút ra được một số kinh nghiệm sau: 8 - Phổ biến nội quy, triển khai các chỉ tiêu thi đua của lớp đến học sinh, chú ý nhấn mạnh tỉ lệ chuyên cần. - Phải nắm được hoàn cảnh gia đình từng học sinh, đặc biệt học sinh có nguy cơ bỏ học cao. - Giáo viên chủ nhiệm phải công bằng, quan tâm, tạo sự gần gũi cô trò, chia sẽ khó khăn với học sinh. - Giáo viên chủ nhiệm phải linh hoạt kết hợp nhiều phương pháp giáo dục. Trên đây là một số biện pháp nhằm giúp giáo viên có thêm kinh nghiệm trong việc duy trì sỉ số học sinh lớp yếu kém mà tôi đã vận dụng và có hiệu quả trong công tác chủ nhiệm lớp 6A2. Tôi mạnh dạn viết lên sáng kiến của mình và đưa ra để đồng nghiệp cùng tham khảo. Dù đã cố gắng rất nhiều nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp BGH nhà trường, quý đồng nghiệp để tôi có dịp bổ sung, sửa chữa và tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệm hay. Trong phạm vi sáng kiến còn mang nhiều tính chủ quan và không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tôi rất mong sự đóng góp chân thành của BGH nhà trường và quý đồng nghiệp. Tôi chân thành cảm ơn!. XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT Phong Thạnh Tây, ngày 5 tháng 5 năm 2021 DUYỆT SÁNG KIẾN, GIẢI PHÁP NGƯỜI VIẾT TRƯỜNG Mai Thị Kiều Diễm 9 XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT SÁNG KIẾN, GIẢI PHÁP DUYỆT SÁNG KIẾN, GIẢI PHÁP PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO THỊ XÃ 10
Tài liệu đính kèm: