A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm Trong những năm gần đây, tình trạng sút kém về chất lượng giáo dục ở trường trung học cơ sở nói chung, trong đó môn Lịch sử nói riêng đang được báo động. Có nhiều nguyên nhân, thứ nhất do nhận thức của học sinh và phụ huynh, các em cũng như gia đình chỉ chú tâm đầu tư vào học các môn tự nhiên để sau cùng thi vào các trường Đại học, Cao đẳng nên các em xem nhẹ môn Lịch sử. Đến lớp chỉ học qua loa, học một cách máy móc, trả bài cho giáo viên là ngày mai quên hết, nặng về tính chất đối phó. Thứ hai ngay bây giờ bản thân một số giáo viên dạy Lịch sử xem nhẹ môn học của mình cho là môn phụ không cần đầu tư, nghiên cứu, tham khảo tài liệu giảng dạy, đến lớp chỉ truyền thụ những kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa, với phương pháp “Thầy đọc, trò chép” học Lịch sử một cách thuộc lòng...dẫn đến tiết học Lịch sử khô khan, thụ động, chỉ thông báo các sự kiện, số liệu một cách cứng nhắc, không gây được hứng thú học tập cho học sinh, từ đó học sinh chán học môn Lịch sử. Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải đổi mới cách dạy của thầy và cách học của trò. Trò chủ động trong việc tiếp thu bài thì mới dễ dàng chiếm lĩnh kiến thức trong mỗi bài học một cách sâu sắc hơn và có như thế mới phát huy được tính chủ động sáng tạo trong quá trình học tập. Cách học này rất khó đối với học sinh khi không thích học môn Lịch sử vì cho rằng môn học này rất khô khan. Điều đó dẫn đến hậu quả là học sinh không nắm đựơc những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến trong thực tế ở nhiều trường. Để học sinh yêu thích học môn Lịch sử, là một giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử, tôi băn khoăn trước thực trạng đó, tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu phương pháp giảng dạy của bộ môn sao cho đạt hiệu quả. Vì vậy để nâng cao chất lượng môn Lịch sử thì mỗi giáo viên cần phải trau dồi kiến thức, học trên mọi phương tiện thông tin đại chúng...để có đầy đủ kiến thức phục vụ cho dạy học. Theo bản thân tôi nghĩ mỗi giáo viên muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học của mình phải có kiến thức rộng, biết vận dụng 1 những kiến thức của các môn học khác vào dạy học lịch sử có như thế mới gây được hứng thú học tập cho học sinh. Trong các môn học khác việc vận dụng kiến thức liên môn vào dạy học Lịch sử sẽ gây được hứng thú học tập cho học sinh, làm cho tiết học sinh động thêm, học sinh sẽ có hứng thú hơn khi học bộ môn Lịch sử. Xuất phát từ những lý do cơ bản trên, nên tôi đã lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm nghiên cứu là “Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học môn Lịch sử cấp trung học cơ sở”. II. Mục đích nghiên cứu Một trong những phương pháp góp phần gây được hứng thú, phát huy được tính tích cực học tập của học sinh đó là vận dụng kiến thức của các môn học khác có liên quan đến Lịch sử, kiến thức dạy học đúng mục đích, yêu cầu của việc nhận thức. Ở đây người thầy có vai trò đặc biệt quan trọng giúp học sinh sử dụng đúng có hiệu quả theo nội dung của bài học. Bởi dạy học thông qua việc tích hợp kiến thức liên môn rất phong phú, đa dạng và sinh động do đó người thầy phải giúp học sinh khai thác đúng nội dung tạo hứng thú hơn cho học sinh trong học tập nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu Sáng kiến kinh nghiệm này tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu và đưa ra một số kinh nghiệm trong tổ chức dạy học tích hợp kiến thức liên môn nhằm phát huy tính sáng tạo, chủ động và hứng thú cho học sinh trong học tập bộ môn Lịch sử ở trường THCS B xã Hưng Phú. IV. Cơ sở lí luận Dân tộc Việt Nam có lịch sử từ lâu đời, với quá trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Nhân dân ta không chỉ có truyền thống dân tộc anh hùng mà còn có kinh nghiệm phong phú, quý báu về việc giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ, về việc rút bài học quá khứ cho cuộc đấu tranh và lao động trong hiện tại. Kiến thức lịch sử góp phần xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, trở thành vũ khí sắc bén trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Ngày nay, (theo nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười) “Cùng với quá trình quốc tế hóa ngày càng mở rộng thì trở về nguồn cũng là một trong những xu thế chung của các dân tộc trên 2 thế giới. Với chúng ta, đó chính là sự tìm tòi, phát hiện ngày càng sâu sắc hơn những đặc điểm của xã hội Việt Nam, những phẩm chất cao quý, những giá trị truyền thống và những bài học lịch sử giúp chúng ta lựa chọn và tiến hành bước đi thích hợp, hướng mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Chất lượng bộ môn Lịch sử được đánh giá không phải bằng việc ghi nhớ nhiều sự kiện mà cần hiểu đúng lịch sử. Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng viết: “Lịch sử đâu phải là một chuổi sự kiện để người viết sử ghi lại, rồi người giảng sử đọc lại, người học sử học thuộc lòng”. Điều quan trọng là qua học tập, “chúng ta thấy được cái gì qua các thời đại lịch sử, và từ đó chúng ta rút ra được kết luận gì, bài học gì, Mác, một nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin đã vũ trang cho chúng ta một phương pháp luận đúng đắn để nghiên cứu lịch sử, để rút ra những kết luận có ý nghĩa quan trọng thiết thực”. Đây chính là cơ sở để những người quan tâm đến sử học và những thầy cô giáo giảng dạy môn Lịch sử cần nhận thức đúng, sâu sắc, ý nghĩa, vị trí của bộ môn Lịch sử ở trường trung học cơ sở và tìm ra những phương pháp để nâng cao chất lượng bộ môn, thu hút được nhiều học sinh thích học Lịch sử và học giỏi Lịch sử. Qua nhiều năm giảng dạy bản thân tôi nhận thấy tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử sẽ tạo được sự hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu bài học, những tiết học như vậy sẽ sinh động hẳn và những sự kiện trong bài học Lịch sử sẽ lưu lại trong kí ức các em sâu hơn, lâu hơn, trong chương trình Lịch sử cấp trung học cơ sở có rất nhiều bài có thể tích hợp kiến thức liên môn để minh họa cho tiết dạy sinh động hơn. 3 B. NỘI DUNG I. Thực trạng của vấn đề “Lịch sử là sự kiện” đó là một tổng kết mang tính chất kinh điển, bản thân những sự kiện vốn khô khan nhất là những bài, những chương viết về các trận đánh có rất nhiều những con số ngày, tháng, năm xảy ra sự kiện hoặc những số liệu về các thành tựu đã đạt được trên mọi lĩnh vực. Để chuyển tải cho học sinh những số liệu một cách khô cứng như vậy, đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt và sáng tạo trong việc sử dụng phương pháp. Thực tế cho thấy những năm gần đây, giáo viên dạy môn Lịch sử nói chung giảng dạy một cách khô khan, cứng nhắc, nặng về cung cấp kiến thức, sự kiện một cách đơn thuần do vậy không gây được hứng thú học tập cho học sinh trong việc tiếp thu bài học. Giáo viên dạy Lịch sử là những người mang trọng trách trong sự nghiệp giáo dục tư tưởng, giáo dục truyền thống và định hướng nhận thức cho học sinh. Hầu hết giáo viên dạy môn Lịch sử đều có tư tưởng ổn định, tin tưởng tuyệt đối vào những chủ trương, chính sách, đường lối và quan điểm của Đảng và Nhà nước. Do đó họ đã giáo dục và gợi ra trong suy nghĩ của học sinh về nhiệm vụ học tập trong hiện tại và nhiệm vụ của người công dân trong tương lai. Tâm huyết nghề nghiệp đã giúp cho đội ngũ giáo viên dạy Lịch sử trở thành những người đáng tin cậy, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho học sinh. Đối với công việc dạy học việc chuẩn bị ở nhà của giáo viên là vô cùng cần thiết, giáo án như bản thiết kế cho tiết học, ngoài việc xác định mục đích, yêu cầu, chuẩn bị cho các tài liệu có liên quan tới bài dạy, dự định các phương pháp sử dụng trong tiết dạy. Trong đó tích hợp kiến thức liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng, đây cũng được coi là một quan niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên đây là một hình thức dạy học mới, giáo viên chưa được tiếp xúc nhiều và chưa có kinh nghiệm giảng dạy. Vì vậy việc vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy các bộ môn còn gặp nhiều khó khăn lúng túng. 4 II. Các biện pháp thực hiện Trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng dạy học liên môn bằng cách sử dụng nội dung và phương pháp các bộ môn khác là hết sức cần thiết, tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử giúp cho học sinh học bài với sự hứng thú, say mê học tập hiểu bài và tiếp thu bài tốt hơn. Quá trình dạy học trong một lớp học, một tiết học đều nói đến đặc điểm cá nhân, trình độ nhận thức của học sinh, việc dạy học tích hợp kiến thức liên môn chỉ thành công khi tất cả học sinh trong lớp đều nắm được chuẩn kiến thức kĩ năng trong cùng một chương trình và sách giáo khoa đảm bảo lượng kiến thức phù hợp với học sinh. Để đạt như vậy đòi hỏi người giáo viên phải biết tích hợp nội dung kiến thức sao cho phù hợp với mọi đối tượng học sinh. Trong khi đó chúng ta có thể khẳng định rằng, dạy học tích hợp là xu thế tất yếu, là một đòi hỏi khách quan tổng thể có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của học sinh, nó giúp học sinh tiếp nhận kiến thức và khắc sâu nó một cách dễ dàng. Để thực hiện hiệu quả việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử có thể áp dụng các biện pháp sau: 1. Tích hợp với môn Ngữ Văn Trong công tác giảng dạy bộ môn Lịch sử, người giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc gợi nhớ lại cho học sinh các sự kiện lịch sử. Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào những kiến thức trong sách giáo khoa thì khó mà có thể tạo dựng lại được không khí lịch sử cần thiết để thu hút các em đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu, khám phá quá khứ của dân tộc ta cũng như của thế giới. Từ đó để tạo nên những cảm xúc thực sự trước những sự kiện lịch sử thì việc vận dụng kiến thức Văn học vào giảng dạy Lịch sử là điều hết sức cần thiết, nó góp phần làm cho bài giảng trở nên sinh động và hấp dẫn, nâng cao tính tích cực hứng thú học tập cho học sinh. Văn học và Lịch sử có liên hệ chặt chẽ với nhau, kiến thức môn này sẽ hỗ trợ cho môn kia, Văn học sẽ cung cấp cho ta những tư liệu lịch sử mà nhờ đó học sinh có thể nhận thức một cách rõ ràng và khắc sâu những kiến thức Lịch sử. Đối với việc tích hợp kiến thức Văn học vào dạy Lịch sử áp dụng được với tất cả chương trình Lịch sử ở các khối lớp của bậc trung học cơ sở bởi 5 vì mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi sự kiện lịch sử đều liên quan đến văn học, đến sự nhận định của các danh nhân, nhân vật lịch sử trong nước. Dưới đây là một số nội dung thực hiện việc vận dụng kiến thức Văn học trong dạy học Lịch sử: Khi dạy bài 15 (Lịch sử 6). “Nước Âu Lạc”. Đối với nội dung bài này khi giáo viên giảng dạy về việc xây dựng thành Cổ Loa và cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu, giáo viên có thể đưa thêm vào đó một số câu chuyện cổ tích về chiếc Nỏ Thần, về quá trình xây thành Cổ Loa của nhân dân Âu Lạc. Nhưng quan trọng hơn là qua những câu chuyện đó giáo viên phải khắc sâu cho học sinh thấy được bước tiến lớn của quân dân Âu Lạc về kĩ thuật xây dựng cũng như kĩ thuật chế tác vũ khí chiến đấu chống quân xâm lược. Khi nói đến An Dương Vương chống lại Triệu Đà và xây dựng thành Cổ Loa, giáo viên có thể trích đoạn ca dao: “Ai về qua huyện Đông Anh Ghé xem phong cảnh Loa thành Thục vương Cổ Loa thành ốc khác thường Trải bao năm tháng dấu thành còn đây” Khi dạy bài 23 (Lịch sử 6). “Những cuộc khởi nghĩa lớn trong các thế kỉ VII - IX”. Mục 2. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Trong cuộc khởi nghĩa này khi giảng về tội ác của bọn đô hộ nhà Đường bắt dân ta phải gánh vải (quả) sang cống nạp cho phong kiến Trung Quốc rất khổ cực, qua đó giáo viên có thể đọc lại một bài hát Chầu văn ở Nghệ An kể tội bọn đô hộ nhà Đường: “Nhớ khi nội thuộc Đường triều Giang sơn, cố quốc nhiều điều ghê gai Sâu quả vải vì ai vạch lá Ngựa hồng trần kể đã héo hon ” Khi dạy bài 11 (Lịch Sử 7). “Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075 – 1077)”. Để tuyên truyền, vận động, khích lệ tinh thần chiến đấu của quân sĩ, tăng sức mạnh quyết thắng cho quân ta. Giáo viên có thể dẫn chứng cho học sinh qua bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt: “Sông núi nước Nam, vua Nam ở, 6 Rành rành định phận ở sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” Qua bài thơ giáo viên cho học sinh hiểu được nước Nam ta là một nước có chủ quyền, có bờ cõi riêng thì không một nước nào có thể xâm chiếm được, nếu như nước nào xâm chiếm thì sẽ bị đánh cho tan tác. Ở mục II bài 14 (Lịch Sử 7): “Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên (thế kỉ XIII)”. Sau khi thất bại trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất thì quân Mông Cổ không từ bỏ mộng xâm lược nước ta và đến năm 1285 thì quân Nguyên tiến vào xâm lược nước ta lần hai và trong cuộc kháng chiến này để khơi dậy lòng yêu nước thiết tha và khích lệ quân sĩ xông lên giết giặc, cứu nước bảo vệ quê hương. Giáo viên có thể đọc đoạn viết trong bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn: “Huống chi ta cùng các ngươi, sinh ra vào lúc rối ren, lớn lên vào buổi hoạn nạn, thấy sứ giả của giặc qua lại dọc ngang ngoài đường, khua tất lưỡi cú vọ mà khinh rẽ triều đình, đem các thân dê, chó mà ngạo mạn tể tướng... Ta thường đến bữa quên ăn, nữa đêm vỗ gói, nước mắt giàn giụa, lòng dạ như dầu, vẫn căm giận muốn ăn thịt nằm da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm”. Từ đó giáo dục cho học sinh lòng căm thù giặc ngoại xâm, niềm tự hào dân tộc và lòng biết ơn tổ tiên đã kiên cường, mưu trí bảo vệ chủ quyền đất nước. Khi dạy bài 24 (Lịch Sử 8): “Cuộc kháng chiến từ năm 1858 đến năm 1873”. Mô tả về hoàn cảnh nước ta khi thực dân Pháp xâm lược, lên án trách nhiệm của nhà Nguyễn và nêu cao tinh thần chiến đấu của nhân dân Nam Kì, chúng ta có thể trích dẫn thơ của Nguyễn Đình Chiểu trong bài “Chạy Tây” : “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây, Một bàn cờ thế phút sa tay. Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy, Mất ổ bầy chim dao dác bay. Bến Nghé của tiền tan bọt nước, 7 Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng. Nỡ để dân đen mất nạn này? (Chạy Tây – Nguyễn Đìng Chiểu) Ở bài 29 (Lịch sử 8). “Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và những chuyển biến về kinh tế, xã hội ở Việt Nam”. Khi nói đến xã hội Việt Nam trong công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, đặc biệt là dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp đã làm cho nền kinh tế cũng như xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến sâu sắc, khi phân tích và nói về cuộc sống khổ cực của người công nhân nước ta giáo viên có thể nhấn mạnh bằng các nội dung sau: “Cao su đi dễ khó về Khi đi trai tráng khi về bủng beo” Hay: “Cao su xanh tốt lạ đời Mỗi cây bón một xác người công nhân” Khi dạy bài 14 (Lịch Sử 9):“Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất”. Thực dân pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Việt Nam trên các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, tài chính và cả thuế...Thuế là một trong những chính sách khai thác của thực dân Pháp hết sức khắc nghiệt đối với nhân dân ta. Giáo viên giúp học sinh biết được hàng trăm thứ thuế được chúng sử dụng qua đoạn thơ: “...Thuế đến cả phấn son phường phố Thuế môn bài, thuế đuốc, thuế đèn Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền Thuế rừng tre gỗ, thuế tiền bán buôn... Trăm thứ thuế, thuế gì cũng ngặt Thắt chặt dần như thắt chỉ xe...” Nhằm khắc họa tội ác của thực dân Pháp xâm lược cũng như nỗi thống khổ của nhân dân ta do chính sách bóc lột bằng cách mở các đồn điền hết sức tàn bạo, giáo viên cung cấp đoạn thơ sau, qua đó yêu cầu học sinh nêu suy nghĩ 8 của bản thân mình về thân phận của người nông dân Việt Nam trong thời kì này: “Nửa đêm thuế thúc trống dồn Sân đình máu chảy, đường thôn lính đầy. Cha trốn ra Hòn Gai cuốc mỏ Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu Bán thân đổi mấy đồng xu Thịt xương vùi gốc cao su mấy tần!” (Ba mươi năm đời ta có Đảng – Tố Hữu) Khi dạy bài 22 (Lịch sử 9). “Cao trào cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945”. Nguyễn Ái Quốc về nước triệu tập Hội nghị lần thứ 8 tại Pác Bó (Cao Bằng), giáo viên có thể tích hợp bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” nơi mà Bác Hồ sống và làm việc, qua đó giáo viên có thể giáo dục cho học sinh về đức tính giản dị của Bác: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang. Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng. Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng. Cuộc đời cách mạng thật là sang” Ngoài ra trong bài trên giáo viên còn có thể tích hợp văn bản “Đức tính giản dị của Bác” hay “Phong cách Hồ Chí Minh”. Khi dạy bài 24 (Lịch Sử 9): “Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân 1945 – 1946”. Giáo viên có thể tóm tắt trích đoạn cảnh chị Dậu bán con trong tác phẩm “Tắc Đèn” của Ngô Tất Tố: Chị Dậu cùng đinh nhất hạng đinh đang lâm vào tình cảnh bức bách của sưu thuế. Chồng đang ốm lại bị đánh đập khổ sở, một thân, một mình chị Dậu chạy dạy ngược xuôi để lo cho anh Dậu. Đường cùng chị phải đứt ruột, gạt nước mắt bán con cho Nghị Quế. Một đứa con lên bảy, một ổ chó cộng với mấy hào bán khoai mới đủ tiền nộp sưu để chồng được tha về...Sau khi đọc cho học sinh nghe trích đoạn giáo viên cần khắc họa tình cảnh của người nông dân trước cách mạng tháng Tám – hậu quả của nạn đói do Pháp gây ra. Bên cạnh đó giáo viên có thể sử dụng phương pháp kể chuyện để kể về 9 các anh hùng dân tộc trong giờ dạy lịch sử cho thêm sinh động, khi dạy bài 27 (Lịch sử 9). “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc”. Trong đoàn quân tham gia chiến đấu đi điệp điệp trùng trùng để đến với Điện Biên Phủ lịch sử ấy, có rất nhiều người chiến sĩ đã mãi mãi nằm lại với mảnh đất thiêng liêng này. Tiêu biểu như anh hùng Tô Vĩnh Diện: Anh hùng Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo. Khi quân ta kéo pháo vào trận địa, pháo đang kéo lên dốc, bỗng nhiên dây cáp đứt, khẩu pháo đang trên đà lao xuống vực, pháo càng lao nhanh. Trong phút nguy nan ấy, Tô Vĩnh Diện đã lao mình về phía trước lấy thân mình chèn vào bánh pháo Anh hùng Phan Đình Giót: Tấm gương hi sinh của anh hùng Phan Đình Giót: “Chiều ngày 13/3, quân ta nổ súng tiêu diệt Him Lam. Sau một đợt pháo bắn yểm trợ, bộ binh ta lên trước. Địch bắn ráo riết, tuy bị thương vong nhiều nhưng các chiến sĩ bộc phá vẫn tiến và phá được 4 hàng rào, 1 mảng lô cốt số 1. Anh Giót đã bị thương. Lô cốt 3 vẫn phụt lửa như mưa, ngăn bước tiến của đồng đội. Anh quyết định bò lên dưới làn mưa đạn, đến tận chân tường lô cốt 3, rồi nhoài người lên áp chặt lòng vào lỗ châu mai. Hỏa lực của địch tắt hẳn, xung kích của ta ào ạt xông lên. Nửa giờ sau lá cờ chiến thắng của ta phất cao trên cứ điểm Him Lam. 2. Tích hợp với môn Địa Lí Đối với giáo viên dạy môn Lịch sử thì trong quá trình giảng dạy có thể tích hợp môn Địa lí, giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau bởi các sự kiện lịch sử bao giờ cũng diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định với các điều kiện cụ thể, trong đó có các điều kiện địa lí đều gắn với những điều kiện tự nhiên mà con người sinh sống, cho nên khi học tập lịch sử xã hội phải phân tích đến các yếu tố của môi trường tự nhiên và thông qua nội dung lịch sử để hiểu rõ hơn môi trường tự nhiên và thực hiện giáo dục môi trường. Trong quá trình giảng dạy khi nói đến một khu vực, một quốc gia hay một trận đánh, một chiến dịch diễn ra ở địa danh nào thì người giáo viên cần phải cho học sinh biết rõ nơi đó là ở đâu, có địa hình như thế nào: Ở bài 11 (Lịch Sử 7). “Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075 – 1077)”. Khi nói đến cuộc chiến đấu trên phòng tuyến Như Nguyệt thì 10 giáo viên phải nói cho học sinh nắm được phòng tuyến chủ yếu được xây dựng trên bờ Nam sông Như Nguyệt. Đây là con sông chặn ngang tất cả các ngả đường bộ từ Quảng Tây (Trung Quốc) vào Thăng Long. Sông Như Nguyệt như một chiến hào tự nhiên rất khó có thể vượt qua. Phòng tuyến được đắp bằng đất cao, vững chắc, có nhiều lớp giậu tre dày đặc, dọc theo khúc sông từ Đa Phúc đến Phả Lại, dài khoảng 100 km. Khi nói đến khu vực Đông Nam Á (Lịch sử 8) bài 11. “Các nước Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX”. Giáo viên có thể nói đến tầm quan trọng về vị trí địa lí và đặc điểm tự nhiên của khu vực Đông Nam Á: Đông Nam Á nằm giữa hai đại dương lớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, có một vị trí quan trọng trên đường giao lưu quốc tế. Nó như một chiếc cầu nối Đông – Tây, trong đó có eo biển Ma-lác-ca là nút giao thông cực kì quan trọng. Còn đặc điểm tự nhiên khu vực Đông Nam Á có địa hình gồm hai phần đất liền và hải đảo, đồng bằng phù sa tập trung ở ven biển và hạ lưu các con sông lớn, khí hậu nhiệt đới giáo mùa, tài nguyên thiên nhiên phong phú... Hoặc khi dạy bài 25. “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp 1946 - 1950”, với chiến thắng ở đèo Bông Lau, giáo viên có thể giới thiệu về đèo Bông Lau là một con đèo thuộc vòng cung Đông Bắc ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, nằm trên quốc lộ 4A đoạn giữa hai huyện Tràng Định (Lạng Sơn) và Thạch An (Cao Bằng) ... Ban chỉ huy tiểu đoàn đã nghiên cứu kỹ địa hình, chọn trận địa phục kích ở đoạn Bản Sao – đèo Bông Lau (dài khoảng 2km), địa hình hiểm trở, đường độc đạo. Với chiến thắng ở sông Lô, giáo viên giới thiệu về sông Lô là phụ lưu tả ngạn (bên trái) của sông Hồng, bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), chảy vào Việt Nam tại xã Thanh Thuỷ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Điểm cuối là ngã ba Việt Trì, còn gọi là ngã ba Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, nơi sông Lô đổ vào sông Hồng. Phần đầu nguồn tại Trung Quốc có tên là Bàn Long Giang còn phần chảy tại Việt Nam có tên là sông Lô.... 3. Tích hợp môn Giáo dục công dân Ngoài ra khi dạy bộ môn Lịch sử giáo viên có thể tích hợp nội dung kiến 11 thức môn Giáo dục công dân thông qua đó có thể giáo dục đạo đức cho học sinh, rèn luyện cho các em có được những đức tính cần học tập của Bác để có thể tích cực học tập ngày càng tiến bộ hơn cụ thể khi dạy bài 23 (Lịch sử 9): “Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và sự thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”. Phần III. Giành chính quyền trong cả nước: Nhân sự kiện Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập giáo viên liên hệ đến bài: “Sống giản dị” đã được học ở lớp 7, các em được tìm hiểu truyện đọc: “Bác Hồ trong ngày Tuyên ngôn độc lập”. Truyện nói về cách ăn mặc, tác phong và lời nói của Bác: Là một vị lãnh tụ, Bác mặc bộ quần áo Kaki, đội mũ vải đã ngã màu, đi đôi dép cao su, Bác cười đôn hậu, thái độ thân mật như người cha đối với con, lời nói đơn giản, gần gũi với dân qua đó, giáo dục các em học tập đức tính giản dị của Bác. 4. Tích hợp môn Âm Nhạc Đối với những bài Lịch sử khi dạy có liên quan đến những bài hát gắn liền với các sự kiện lịch sử giáo viên có thể cho học sinh nghe bài hát tạo cho học sinh có thái độ tích cực hơn trong học tập và yêu thích bộ môn Lịch sử nhiều hơn đặc biệt khi dạy bài 27: “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc 1953 - 1954” (phần II) nói về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ giáo viên cho học sinh nghe bài hát “Hò kéo pháo” của nhạc sĩ Hoàng Vân, ông là chiến sĩ trực tiếp tham gia chiến dịch Điên Biên Phủ (1954) được chứng kiến mọi diễn biến của chiến dịch, thấy được những gian nan vất vả của bộ đội ngày đêm phải đưa những cổ pháo nặng hàng tấn vượt qua dốc núi chiếm lĩnh trận địa. Bài hát như là lời động viên, khích lệ tinh thần chiến đấu đối với các chiến sĩ pháo binh vượt qua mọi khó khăn gian khổ để dành được thắng lợi vẻ vang trong chiến dịch Điện Biên Phủ làm “chấn động địa cầu”. 5. Tích hợp môn Mĩ Thuật Không những môn Lịch sử có liên quan đến nội dung kiến thức với môn Ngữ văn, Địa lí, Giáo dục công dân mà còn có nhiều nội dung liên quan đến kiến thức môn Mĩ thuật. Đây là một trong những phương pháp dạy học hiện đại trong dạy học Lịch sử, giúp học sinh phát triển toàn diện về mọi mặt áp dụng vào giảng các bài tìm hiểu về văn hóa xã hội các thời kỳ lịch sử. Ví dụ như bài 3 12 (Lịch sử 7). “Cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống phong kiến thời hậu kì trung đại ở Châu Âu”. Mục 1. “Phong trào văn hóa phục hưng”. Giáo viên có thể đưa ra những tranh, ảnh thể hiện về nội dung của phong trào văn hóa Phục Hưng, sau đó sẽ giải thích về những nội dung được thể hiện trong tranh. Khi dạy bài 25: “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp 1946 - 1950”, giáo viên giới thiệu Diệp Minh Châu (10 tháng 2 năm 1919 - 12 tháng 7 năm 2002), là một họa sĩ và nhà điêu khắc, các em được tìm hiểu ở chương trình lớp 7. Năm 1947, là năm diễn ra chiến dịch Việt Bắc, ông đã vẽ chân dung Bác Hồ và 3 thiếu nhi Trung – Nam - Bắc trên tấm lụa chiến lợi phẩm của bộ đội ta, ông vẽ bằng chính máu của mình để tặng Bác Hồ. Bức huyết họa đã được gửi ra Việt Bắc, dâng lên Bác Hồ kèm bức thư của tác giả trẻ “Kính gửi Cha già Hồ Chí Minh” bày tỏ lòng kính yêu với Người, khát vọng hoà bình và giải phóng dân tộc. Qua việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử để minh họa, làm rõ các sự kiện lịch sử như thế làm cho tiết học càng sinh động thêm, học sinh tích cực và có hứng thú học tập, giảm bớt tính chất khô khan, căng thẳng của giờ học Lịch sử làm cho các em khắc sâu được nội dung kiến thức của bài, yêu thích học môn Lịch sử nhiều hơn và tìm hiểu, nghiên cứu liên hệ với nhiều môn học khác để học môn Lịch sử tốt hơn. III. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm Trong năm học 2017 - 2018 tôi đã áp dụng nhiều biện pháp tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử cấp trung học cơ sở đặc biệt là các khối lớp 6, 7B, 8, 9 nhờ vào những biện pháp tích cực đó mà kết quả giảng dạy cuối năm đạt được tương đối cao: Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém Lớp Sỉ số SL % SL % SL % SL % SL % 6 74 10 13,5 22 29,7 40 54,1 2 2,7 0 0 7B 33 6 18,2 22 66,7 5 15,1 0 0 0 0 8 75 31 41,4 27 36 16 21,3 1 1,3 0 0 9 50 25 50 22 44 3 6 0 0 0 0 13 Việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học môn Lịch sử góp phần tạo ra cho học sinh sự yêu thích, sinh động giúp các em dễ dàng nắm bắt kiến thức, hiểu sâu kiến thức, xoá bỏ cảm giác khô khan trong các giờ học Lịch sử để môn học này trở nên gần gũi với các em hơn. Qua kết quả thực tế cho thấy đa số các em học sinh đều tỏ ra hứng thú, chủ động, tích cực học tập với phương pháp này, tạo ra sự tập trung chú ý cao độ, từ đó giúp các em khắc sâu biểu tượng về sự kiện hiện tượng lịch sử, từ đó các em có thể thuộc bài ngay tại lớp. IV. Khả năng ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm Qua thực tế cho thấy sáng kiến kinh nghiệm này có thể áp dụng được nhiều bài dạy khác nhau ở các khối lớp và đem lại hiệu quả cao như tạo ra được tính tích cực, chủ động, tính trực quan, sinh động giúp học sinh có thể dễ dàng nắm được nội dung kiến thức, hiểu sâu kiến thức, hạn chế được tính khô khan trong giờ dạy học Lịch sử. Trong thực tế giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường THCS B xã Hưng Phú khi tôi áp dụng các biện pháp tích hợp kiến thức liên môn trong giảng dạy cho thấy đa số các em học sinh đều tỏ ra hứng thú với phương pháp này, các em tập trung chú ý học nhiều hơn, từ đó giúp các em khắc sâu được trọng tâm của bài. Đối với những em khá giỏi thì có thể nắm vững, vận dụng tốt kiến thức kỹ năng, học bài và làm bài rất tốt, học sinh trung bình thì có thể nắm được nội dung kiến thức cơ bản. Từ thực tế học tập của học sinh trước và sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này cho thấy hiệu quả của giờ học có áp dụng phương pháp này thì sẽ cao hơn hẳn và có nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với các phương pháp truyền thống mà trước đây nhiều giáo viên giảng dạy môn Lịch sử vẫn sử dụng trong giờ dạy của mình. 14 C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. Kết luận Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử là một nguyên tắc quan trọng trong dạy học nói chung và trong dạy học Lịch sử nói riêng. Tuy nhiên để thực hiện tốt và có hiệu quả phương pháp này đòi hỏi phải sự nỗ lực ở cả thầy và trò và việc thực hiện nó không phải bài nào, không phải phần nào cũng thực hiện được. Vì vậy khi nói đến giáo dục “Là quốc sách hàng đầu” thì mỗi giáo viên không ngừng sáng tạo, tự tìm cho mình một cách dạy học hợp lí nhất. Đối với mỗi giáo viên ngoài việc nắm bắt những kiến thức chuyên môn để vận dụng vào tiết dạy còn phải tìm hiểu nghiên cứu những môn học khác có liên quan đến nội dung bài dạy Lịch sử để tích hợp lồng ghép vào sao cho phù hợp với từng nội dung. Tích hợp hiệu quả kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử sẽ mang lại nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của học sinh và phương pháp giảng dạy của giáo viên. Học sinh sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng và quan trọng nhất sẽ giúp học sinh nắm được kiến thức thông qua một vị trí địa lí hay một tác phẩm văn học thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức. Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử là việc thực hiện tính kế thừa trong nhận thức lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới từ cổ đến hiện đại, làm cho học sinh hiểu rõ sự phát triển của xã hội một cách liên tục, thống nhất, thấy được mối liên hệ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, khắc phục tình trạng nắm kiến thức lịch sử một cách lẻ tẻ, rời rạc trong kiến thức của học sinh, giúp học sinh học bài với sự hứng thú, say mê học tập hiểu bài và tiếp thu bài tốt hơn. Thực hiện theo chủ trương đổi mới phương pháp dạy học nên việc tích hợp kiến thức liên môn vào dạy học là một yêu cầu cần thiết. Trước đây ta thường quan niệm truyền đạt hết nội dung kiến thức trong bài dạy 15 Lịch sử là đủ đáp ứng yêu cầu. Ngày nay ngoài chức năng, tác dụng đó, người ta còn đặc biệt nhấn mạnh việc vận dụng kiến thức liên môn vào dạy Lịch sử đó là một trong những nguồn nhận thức quan trọng của việc truyền bá và nhận thức lịch sử. Khai thác triệt để chức năng, tác dụng này sẽ tạo điều kiện để giáo viên thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp soạn giảng. Học sinh có điều kiện chủ động tích cực trong học tập tham gia vào quá trình tự nhận thức lịch sử một cách tốt nhất và có hứng thú học tập tốt hơn. II. Kiến nghị Ban giám hiệu nhà trường cần phối hợp với lãnh đạo cấp trên tạo điều kiện trang bị đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giảng dạy theo phương pháp đổi mới như sách giáo khoa, tài liệu tham khảo phù hợp với từng bộ môn trong dạy học một cách thường xuyên và phục vụ cho công tác dạy học bộ môn Lịch sử ngày càng tốt hơn Đối với giáo viên cần phải có tâm huyết với nghề, đầu tư nghiên cứu bộ môn mình giảng dạy, thường xuyên trau dồi kiến thức, đề ra nhiều phương pháp mới phù hợp đặc thù với bộ môn, luôn luôn cập nhật thông tin hàng ngày để cung cấp kiến thức thực tế phù hợp, thường xuyên nghiên cứu các nội dung ở các bộ môn khác như môn Ngữ Văn, Địa Lí, Giáo dục công dân đảm bảo việc vận dụng kiến thức liên môn để phục vụ cho môn học. Với khuôn khổ bài viết có giới hạn tôi không thể nêu lên hết từng trường hợp, từng bài cụ thể trong dạy học Lịch sử theo hướng đổi mới phương pháp dạy học mà bản thân tôi rút ra được trong những năm qua rất mong sự trao đổi, đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để tìm ra nhiều biện pháp tốt hơn trong việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học môn Lịch sử ở trường trung học cơ sở. Hưng Phú, ngày 10 tháng 01 năm 2019 Người viết Nguyễn Hồng Linh 16 MỤC LỤC TT NỘI DUNG TRANG A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm 1 - 2 1 II. Mục đích nghiên cứu 2 III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2 IV. Cơ sở lí luận 2 - 3 B. NỘI DUNG I. Thực trạng của vấn đề 4 2 II. Các biện pháp thực hiện 5 - 13 III. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 13 - 14 IV. Khả năng ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm 14 C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 3 I. Kết luận 15 - 16 II. Kiến nghị 16 17
Tài liệu đính kèm: