Tuyển tập các bài văn hay lớp 9

Tuyển tập các bài văn hay lớp 9

Đề 1: Phân tích và nêu cảm nghĩ của em sau khi học bài “Phong cỏch Hồ Chớ Minh”

của Lê Anh Trà.

“Phong cách Hồ Chí Minh” rút trong bài “Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái giản dị” của Lê Anh Trà in trong cuốn sách “Hồ Chí Minh và văn hoá Việt Nam” – năm 1990.

Luận điểm thứ nhất mà người viết nêu lên là tầm sâu rộng vốn tri thức văn hóa của

Hồ Chí Minh. Do đâu mà có vốn tri thức văn hóa ấy ? Hồ Chí Minh có một cuộc sống phong phú, sôi nổi. Người “đ tiếp xúc” với văn hoá nhiều nước ở phương Đong và

phương Tây. Người “đ ghé lại” nhiều hải cảng, “đ thăm” các nước châu Phi, châu á, châu mĩ. Người “đ sống dài ngày” ở Anh, ở Pháp. Lúc làm bồi, lúc cuốc tuyết, lúc làm nghề rửa ảnh.Chế Lan Viên cũng đG có lần viết:

“Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể,

Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mĩ, châu Phi

Những đất tự do, những trời nô lệ Những con đường cách mạng đang tìm đi”. ( “Người đi tìm hình của nước” )

 

doc 89 trang Người đăng duyphuonghn Ngày đăng 21/08/2021 Lượt xem 633Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tuyển tập các bài văn hay lớp 9", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tuyển tập một số bài văn hay lớp 9
Đề 1: Phân tích và nêu cảm nghĩ của em sau khi học bài “Phong cỏch Hồ Chớ Minh”
của Lê Anh Trà.
“Phong cách Hồ Chí Minh” rút trong bài “Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái giản dị” của Lê Anh Trà in trong cuốn sách “Hồ Chí Minh và văn hoá Việt Nam” – năm 1990.
Luận điểm thứ nhất mà ng−ời viết nêu lên là tầm sâu rộng vốn tri thức văn hóa của
Hồ Chí Minh. Do đâu mà có vốn tri thức văn hóa ấy ? Hồ Chí Minh có một cuộc sống phong phú, sôi nổi. Ng−ời “đ tiếp xúc” với văn hoá nhiều n−ớc ở ph−ơng Đong và
ph−ơng Tây. Ng−ời “đ ghé lại” nhiều hải cảng, “đ thăm” các n−ớc châu Phi, châu á, châu mĩ. Ng−ời “đ sống dài ngày” ở Anh, ở Pháp. Lúc làm bồi, lúc cuốc tuyết, lúc làm nghề rửa ảnh.....Chế Lan Viên cũng đG có lần viết:
“Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể,
Ng−ời đi hỏi khắp bóng cờ châu Mĩ, châu Phi
Những đất tự do, những trời nô lệ Những con đ−ờng cách mạng đang tìm đi”. ( “Ng−ời đi tìm hình của n−ớc” )
Ng−ời “nói và viết thạo ” nhiều ngoại ngữ nh− Pháp, Anh, Hoa, Nga....Cuộc đời Ng−ời “đầy truân chuyên ”. Ng−ời “đ làm nhiều nghề”, và đặc biệt là “đến đâu Ng−ời cũng học hỏi, tìm hiểu văn hóa, nghệ thuật đến một mức khá uyên thâm”. Hồ Chí Minh “đ tiếp thu” mọi cái hay cái đẹp của các nền văn hóa, và “đ nhào nặn” với cái gốc văn hóa dân tộc đẫ thấm sâu vào hồn mình, máu thịt mình, nên đG trở thành “một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất ph−ơng Đông, nh−ng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại:. Cách lập luận chặt chẽ, cách nêu luận cứ xác đáng, lối diễn
đạt tinh tế của Lê Anh Trà đG tạo nên sức thuyết phục lớn.
Luận điểm thứ hai mà tác giả đ−a ra là lối sống rất bình dị, rất ph−ơng Đông, rất
Việt Nam của Hồ Chí Minh. Lê Anh Trà đG sử dụng ba luận cứ (nơi ở, trang phục, cách
ăn mặc) để giải thích và chứng minh cho luận điểm này. Cái “cung điện” của vị Chủ tịch
n−ớc là một chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh chiếc ao. Chỉ vẻn vẹn có vài phòng “tiếp khách, họp Bộ chính trị, làm việc và ngủ”, đồ đạc “rất mộc mạc, đơn sơ”. Trang phục của Ng−ời “hết sức giản dị” với bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp “ thô sơ nh− của các chiến sĩ tr−ờng Sơn”. Cách ăn uống của Hồ Chí Minh “rất đạm bạc”: cá kho, rau luộc, d− ghém, cà muối, cháo hoa..., đó là “những món ăn dân tộc không chút cầu kì”. Những luận cứ mà ng−ời viết nêu ra không có gì mới. Nhiều ng−ời
đG nói, đG viết, nhiều hồi kí đG để lại mà ta đG biết. Nh−ng Lê Anh Trà đG viết một cách giản dị, thân mật, trân trọng và ca ngợi.
Phần còn lại, tác giả đG bình luận phong cách Hồ Chí Minh. So sánh với cuộc sống của một vị lGnh tụ, một vị tổng thống, một vị vua hiền..., rồi ông ngạc nhiên khẳng định
Hồ Chí Minh đG “sống đến mức giản dị và tiết chế nh− vậy” :. Lê Anh Trà “bất giác nghĩ đến”, liên t−ởng đến Nguyễn TrGi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, trích dẫn hai câu thơ của Trạng Trình: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá - Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” để đi tới ca ngợi nếp sống giản dị và thanh đạm của Hồ Chí Minh, của các vị danh nho không phải là “tự thần thánh hóa, tự làm cho khác đời”, mà là “lối sống thanh cao, mnột cách di d−ỡng tinh thần, một quan niệm thẩm mĩ về cuộc sống, có khả năng đem lại hạnh phúc, thanh cao cho tâm hồn và thể xác”.
Tóm lại, Lê Anh Trà đG lập luận một cách chặt chẽ, nêu lên những luận cứ xác thực, chọn lọc, trình bày khúc chiết với tất cả tấm lòng ng−ỡng mộ, ngợi ca “Nhà văn hóa lớn, nhà đạo đức lớn, nhà cách mạng lớn, nhà chính trị lớn đ quyện chặt với nhau trong con ng−ời Hồ Chí Minh, một con ng−ời rất giản dị, một con ng−ời Việt Nam gần gũi với mọi ng−ời”.
Đọc bài viết của Lê Anh Trà, chúng ta học tập đ−ợc bao nhiêu điều tốt đẹp về
phong cách Hồ Chí Minh, vị lGnh tụ kính yêu của dân tộc.
--------------------------------------------
ðề 2. Em hóy Phõn tớch bài thơ “Viếng lăng Bỏc” của Viễn Phương
Chủ tịch Hồ Chớ Minh - vị cha già kớnh yờu của dõn tộc Việt Nam – ủó cống hiến trọn ủời mỡnh vỡ sự nghiệp giải phúng ủất nước. Người ra ủi năm 1969, ủể lại biết bao nỗi thương nhớ và xút xa cho Tổ quốc. Cú nhiều nhà thơ ủó viết bài thơ tưởng nhớ về Bỏc, và “Viếng lăng Bỏc” của Viễn Phương là một trong những bài thơ xuất sắc nhất. Chỳng ta hóy cựng ủến với bài thơ ủể cảm nhận ủược cảm xỳc ấy.
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bỏc
....
Muốn làm cõy tre trung hiếu chốn này”
Năm 1976, sau ngày ủất nước ta ủược hoàn toàn giải phúng, lăng Bỏc ủược khỏnh thành. Nhà thơ Viễn Phương từ miền Nam ủó ra thăm lăng Bỏc. Cảm xỳc dõng trào, nhà thơ ủó làm một bài thơ như một lời bộc bạch chõn tỡnh của hàng triệu người con miền Nam với Bỏc. ðõy là một bài thơ ủặc sắc, giàu ý nghĩa, làm cho người ủọc xỳc ủộng.
Hai khổ thơ ủầu là những dũng cảm xỳc ban ủầu của nhà thơ khi ủược lần ủầu ủến
thăm lăng Bỏc: một chỳt tự hào, xen lẫn vui sướng, lẫn xỳc ủộng khi sắp ủc kề cận bờn Ng` cha thõn yờu của dõn tộc.Bằng những hỡnh ảnh ẩn dụ giàu sức gợi, nhụn ngữ bỡnh dị mà hàm sỳc, tinh tế, ủoạn thơ ủó ủể lại trong lũng người ủọc những cảm xỳc vụ cựng sõu sắc.
Hai khổ cuối bài thơ như những nốt nhạc du dương, trầm bổng, rộo rắt như tấm lũng tha thiết yờu mến của nhà thơ với Bỏc. Bằng những ngụn từ ẩn dụ ủặc sắc,từ ngữ bỡnh dị mà giàu sức gợi, cõu thơ ủó khơi gợi trong lũng người ủọc những rung ủộng sõu
sắc và ủỏng quý.
Bài thơ ủược phõn chia theo bố cục thời gian, và khổ thơ ủầu tiờn núi về cảm xỳc của tỏc giả khi nhỡn thấy lăng Bỏc từ xa.
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bỏc”
Cõu thơ ủầu tiờn thật ngắn gọn nhưng nú lại là một lời tõm sự chõn tỡnh của nhà thơ cũng như hàng triệu người con miền Nam. Một tiếng “con” thật ấm ỏp, gần gũi, thể hiện lũng kớnh yờu to lớn ủối với Bỏc. Bỏc thật gần gũi với người dõn, như là một vị cha già của dõn tộc. “Con ở miền Nam” - mấy tiếng ấy bao hàm một nỗi ủau và một niềm tự hào. Miền Nam gian khổ và anh hựng, miền Nam ủi trước về sau, miền Nam thành ủồng Tổ quốc, miền Nam vừa chiến thắng kẻ thự hung bạo trở về trong ủại gia ủỡnh Việt Nam ủõy Bỏc ơi! Nhà thơ mong nhỡn thấy Bỏc một lần sau khi ủất nước ủó giải phúng nhưng thật ủau xút, Bỏc ủó khụng cũn. Vỡ vậy, từ “viếng” ủó ủược nhà thơ thay bằng từ “thăm” ủể giảm nhẹ nỗi ủau cũng như bày tỏ niềm tin rằng Bỏc vẫn sống mói.
“ðó thấy trong sương hàng tre bỏt ngỏt
ễi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bóo tỏp mưa sa ủứng thẳng hàng”
ðập vào mắt nhà thơ là hỡnh ảnh hàng tre xanh ngắt trước lăng Bỏc. Cõy tre - biểu tượng cho sự bất khuất, kiờn cường nhưng giản dị, thanh cao của người dõn Việt Nam – ủó ủể lại một dấu ấn ủậm nột trong lũng tỏc giả trước khi bước vào lăng Bỏc. Hàng tre bỏt ngỏt – Hàng tre xanh xanh – Hàng tre Việt Nam: hàng tre bao ủời như một dấu hịờu ủặc biệt của dõn tộc. Hàng tre trựm búng mỏt rượi lờn bao thế hệ cuộc ủời, hàng tre mang bao phẩm chất của con người Tổ quốc ta: dẻo dai, ủoàn kết, bất khuất, kiờn cường. Ở Bỏc cú tất cả những gỡ mà những con người Việt Nam từng cú, cũng cỏi dấu hiệu xanh tươi sự sống ấy, cũng cỏi kiờn cường “ủứng thẳng hàng” trong “bóo tỏp mưa sa” ấy. Dõn tộc ta thật sự cú sức sống mónh liệt, cho dự những thử thỏch của thiờn nhiờn, của lịch sử cú khắc nghiệt cỏch mấy thỡ vẫn kiờn cường chống chọi, và vẫn cố gắng ủứng thẳng chứ nhất quyết khụng chịu bị bẻ cong. Hàng tre ủứng ủú, bờn lăng Bỏc như ru giấc ngủ ngàn thu của Bỏc, gắn bú mói mói với Bỏc như dõn tộc Việt Nam vẫn kớnh trọng Bỏc mói mói.
ðến gần lăng Bỏc, xếp hàng vào viếng thỡ tỏc giả cú thờm nhiều cảm xỳc mới.
“Ngày ngày mặt trời ủi qua trờn lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất ủỏ”
Hai cõu thơ sinh ủộng với nhiều hỡnh ảnh gợi cảm ủược tạo nờn từ những hỡnh ảnh thực và hỡnh ảnh ẩn dụ súng ủụi với nhau. Một mặt trời thực ủi qua trờn lăng, là mặt trời của tự nhiờn, của muụn loài, soi sỏng cho muụn loài, ủem lại sức sống cho thế giới. Từ mặt trời thật ấy, một mặt trời ẩn dụ khỏc hiện ra trong lăng, rất ủỏ. Bỏc nằm trong lăng
với ỏnh sỏng ủỏ xung quanh như một mặt trời. Bỏc tồn tại vĩnh cửu trong lũng mỗi người dõn Việt Nam như sự tồn tại của một mặt trời thật. Bỏc soi sỏng ủường cho dõn tộc ta ủi, cống hiến cả cuộc ủời cho sự nghiệp giành ủộc lập của Tổ quốc. Bỏc giỳp nhõn dõn ta thoỏt khỏi kiếp sống nụ lệ, trở thành một con người tự do ủể bõy giờ ủược hạnh phỳc. Cụng lao của Bỏc ủối với dõn tộc ta cũng như mặt trời, to lớn khụng kể xiết. Bỏc là một mặt trời. Cỏi ẩn dụ mặt trời ở ủõy khụng biết ủó ủủ núi về Bỏc chưa ?. Khụng,
nếu núi Bỏc là mặt trời thỡ phải nhấn mạnh thờm cho rừ cỏi ủặc tớnh của vầng mặt trời ấy: rất ủỏ. Cỏi mặt trời ủang tỏa sỏng trờn cao kia, cỏi mặt trời của thiờn nhiờn, tượng trưng của nguồn núng, nguồn sỏng, nguồn sự sống ấy, khụng phải bao giờ cũng nguyờn
vẹn thế ủõu, khụng phải lỳc nào cũng ấm núng thế ủõu! Vầng mặt trời ấy cú thể bị búng ủờm lấn ỏt. Nhưng vầng mặt trời Bỏc Hồ của ta thỡ mói mói ủỏ thắm, mói mói là nguồn sưởi ấm, nguồn sỏng soi ủường cho con người Việt Nam. Hụm nay cú hai mặt trời chiếu rọi trờn ủường ủời: một mặt trời tỏa sỏng trước mặt, một mặt trời tỏa sỏng tõm hồnNhư mặt trời kia, Bỏc thuộc về vĩnh cửu. Bỏc sẽ sống mói trong lũng mỗi con người Việt Nam.
“Ngày ngày dũng người ủi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dõng bảy mươi chớn mựa xuõn”
Cựng với mặt trời ủi qua trờn lăng, ngày ngày dũng người vẫn ủi qua lăng trong thương nhớ. ðiệp ngữ “ngày ngày” ý núi rằng nhõn dõn ta mói luụn ghi nhớ cụng lao to lớn của Bỏc, mói mói là như vậy. Nhịp thơ của ủoạn chậm, diễn tả ủỳng tõm trạng khi ủứng xếp hàng trước lăng chờ ủến lượt vào, ngậm ngựi tưởng nhớ ủến Bỏc ủó khuất. Tuy vậy, nhịp thơ chầm chậm như bước chõn người ủi trong cuộc tưởng niệm mà sao
cõu thơ vẫn khụng buồn ? Phải rồi. Chỳng ta khụng làm cỏi việc tưởng niệm bỡnh thường với Bỏc như một người ủó khuất. Dũng người ủang ủi ủõy là ủang ủi trong cuộc hành trỡnh ngợi ca vinh quang của Bỏc. Và tràng hoa vinh quang này khụng phải ñược kết bằng những bụng hoa bỡnh thường như mọi tràng hoa vinh hiển khỏc trờn ủời ủõu. Tràng hoa ủõy là một hỡnh ảnh ẩn dụ của tỏc giả, ủú chớnh là những ủoỏ hoa thật sự của ủời, là ủàn con mà Bỏc ủó cố cụng tạo nờn suốt bảy mươi chớn mựa xuõn Bỏc sống trờn ủời. Những bụng hoa trong vườn Bỏc nay ủó lớn lờn, nở rộ ngỏt hương kớnh dõng lờn
Bỏc.
Vào bờn trong lăng Bỏc, thấy Bỏc ủang nằm ủú, nhà thơ lại một lần nữa cố giấu tiếng nấc nghẹn ngào:
“Bỏc nằm trong giấc ngủ bỡnh yờn
Giữa một vầng trăng sỏng dịu hiền”
Khung cảnh bờn trong lăng thật ờm dịu, thanh bỡnh. Lỳc này, trước mặt mọi người chỉ cú hỡnh ảnh Bỏc. Bỏc nằm ủú trong giấc ngủ vĩnh hằng. Bỏc mất thật rồi sao? Khụng
ủõu. Bỏc chỉ nằm ủú ngủ thụi, Bỏc chỉ ngủ thụi mà! Suốt bảy mươi chớn năm cống hiến
cho ủất nước, bõy giờ ủất nước ủó bỡnh yờn, Bỏc phải ủược nghỉ ngơi chứ. Bao quanh giấc ngủ của Bỏc là một “vầng trăng sỏng dịu hiền”. ðú là hỡnh ảnh ẩn dụ cho những năm thỏng làm việc của Bỏc, lỳc nào cũng cú vầng trăng bờn cạnh bầu bạn. Từ giữa chốn tự ủày, ủến “cảnh khuya” nỳi rừng Việt Bắc, rồi “nguyờn tiờu”Tuy  ...  ham mê và không nhận ra đ−ợc giá trị của cáI bình dị, nhỏ bé nh−ng đích thực nh− anh
đG từng không nhận ra.
Nguyễn Minh Châu đG xây dựng nhiều chi tiết, hình ảnh mang ý nghĩa biểu t−ợng. ậ phần đầu truyện là hình ảnh những bông hoa bằng lăng còn sót lại, là màu vàng thau xen lẫn màu xanh non của bGI bồi bên kia sông Hồng, là “những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ”, Khi đứa con trai ra đI để thực hiện hành trình tới bến quê, song hành, Nhĩ cũng thực hiện một hành trình nhọc nhằn, “đau nhức”. Chàng trai trẻ, ng−ời có thể thực hiện chuyến sang sông một cách dễ dàng thì đang “chùng chình” bởi những thế cuộc t−ớng sĩ và không thấy đ−ợc ý nghĩa của hành trình. Ng−ời không còn thời gian nữa thì tự mình chỉ thực hiện đ−ợc một nửa của hành trình dài một mét từ nệm nằm tới cửa sổ! Những khoảng không gian trong mối liên hệ thời gian nh− là biểu t−ợng của nghịch lí bừng ngộ, ở những chặng khác nhau của sự thám hiểm cuộc đời:
“Vừa nghe Tuấn nện lộp bộp đôI dép sa bô xuống thang, Nhĩ đG thu hết tàn lực lết dần trên chiếc phản gỗ. Nhấc mình ra đ−ợc bên ngoài chiếc nệm nằm, anh t−ởng mình vừa bay đ−ợc một nửa vòng tráI đất – trong một chuyến đI công tác ở một n−ớc bên Mĩ La-tinh hai năm tr−ớc đây. Anh mệt lử. Và đau nhức. Ngồi lại nghỉ một chặng và chỉ muốn có ai đỡ cho để nằm xuống...
Lũ trẻ tiếp sức cho anh, giúp anh đI nốt “nửa vòng tráI đất” còn lại:
“Cả bọn trẻ xúm vào, và rất n−ơng nhẹ, giúp anh đI nốt nửa vòng tráI đất – từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản, khoảng cách −ớc chừng năm chục phân”.
Đó là ân huệ mà cuộc đời dung dị, hồn nhiên đem lại cho Nhĩ. Anh h−ớng tới khoảng không gian mơ −ớc bên ngoài cánh cửa sổ nhờ những bàn tay “chua lòm mùi d−a”. Lại là sự cứu cánh của cáI bình dị. “Ngay lúc ấy”, bắt đầu từ lúc Nhĩ đ−ợc ngồi sát ngay sau khuôn cửa sổ, khi hình ảnh của “cáI miền đất mơ −ớc” hiện ra ngay tr−ớc mắt anh, trong con ng−ời chất chứa nghịch lí ấy diễn ra dòng suy t−ởng sâu sắc. Với ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Minh Châu đG khắc hoạ thành công tâm trạng của nhân vật này.
Hình ảnh con đò ngang với cánh buồm nâu bạc trắng hiện ra qua cáI nhìn của con ng−ời đang khao khát bến bờ cũng mang ý nghĩa biểu t−ợng. Đó là “nhịp cầu” nối tới bến quê mơ −ớc:... “cáI vật mà Nhĩ nhìn thấy tr−ớc tiên khi đ−ợc ngồi sát ngay sau khuôn cửa sổ là một cánh buồm vừa bắt gió căng phồng lên. Con đò ngang mỗi ngày chỉ qua lại một chuyến giữa hai bên bờ ở khúc sông Hồng này vừa mời bắt đầu chống sào ra khỏi chân bGI bồi bên kia, cánh buồm nâu bạc trắng vẫn còn che lấp gần hết cáI miền đất mơ
−ớc”.
Biết đâu Nhĩ không còn đủ sức để chờ chuyến đò của ngày hôm sau thì sao! Ng−ời con trai mang theo “sứ mệnh” thực hiện niềm mơ −ớc cuối cùng của anh “đang sà vào một đám ng−ời chơI phá cờ thế trên hè phố. Suốt đời Nhĩ cũng đG từng chơI phá cờ thế trên nhiều hè phố, thật là không dứt ra đ−ợc”. Nó có thể bị nhỡ chuyến đò sang sông. Cả
đời Nhĩ đG nhỡ chuyến đò ấy. Trong sự lo lắng, khắc khoảI vốn th−ờng trực của một
ng−ời đang sống những giờ phút cuối cùng, Nhĩ đG ngẫm ra: “con ng−ời ta trên đ−ờng
đời thật khó tránh đ−ợc những cáI điều vòng vèo hoặc chùng chình, vả lại nó đG thấy có cáI gì hấp dẫn ở bên kia sông đâu? Hoạ chăng chỉ có anh đG từng trảI, đG từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cáI bGI bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cáI điều riêng anh khám phá thấy giống nh− một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giờ giảI thích hết”. Ng−ời ta khó có thể làm lại đ−ợc những gì thuộc về quá khứ, không thể đI lại những chuyến đò đG nhỡ. CáI bến quê rất gần, và không khó khăn gì để
đến đó, nh−ng nếu cứ mắc vào cáI mớ “chùng chình” thế cuộc rất có thể ta sẽ không bao giờ đến đ−ợc.
Không phảI ngẫu nhiên mà tác giả để cho hình ảnh Liên – vợ Nhĩ xuất hiện trong dòng suy nghĩ của nhân vật này:... “cũng nh− cánh bGI bồi đang nằm phơI mình bên kia, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hi sinh từ bao đời x−a, và cũng chính nhờ có điều đó mà sau những ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm... Nhĩ đG tìm
thấy đ−ợc nơI n−ơng tựa là gia đình trong những ngày này”.
Liên nh− là hiện thân của cáI bến quê mà Nhĩ đG từng không nhận ra. Nhĩ nhìn thấy tấm áo vá của vợ khi anh đG nhận thức đ−ợc giá trị của cáI gần gũi, bình dị. Sự tần tảo, chịu đựng hi sinh ở Liên cũng là vẻ đẹp của ng−ời phụ nữ Việt Nam nói chung. Không phảI khi Nhĩ nhận ra những cáI đó mới có, nó là vẻ đẹp bền vững muôn đời nh−ng chỉ khi Nhĩ ý thức một cách sâu sắc về “bến quê” thì anh mới phát hiện ra nó, cảm nhận đ−ợc nó. Giống nh− hình ảnh “từng mảnh vá trên lá buồm cánh dơI in bật trên một vùng n−ớc
đỏ” chỉ có thể rõ ràng đến thế khi con đò ngang nối liền với bến quê lại gần bờ bên này, lại gần anh, để Nhĩ có đ−ợc cảm giác “chính mình trong tấm áo màu xanh trứng sáo và chiếc mũ nan rộng vành, nh− một nhà thám hiểm đang chậm rGI đặt từng b−ớc chân lên cáI mặt đất dấp dính phù sa”.
Truyện khép lại bằng hình ảnh “chuyến đò ngang mỗi ngày một chuyến... vừa chạm vào cáI bờ đất lở dốc đứng phía bên này”. Bên này là thị thành, bên kia là bến quê. Bên này chông chênh xói lở, bên kia vững vàng bồi đắp. Sự t−ơng phản này nh− một lời cảnh tỉnh về nhận thức, ý thức giữ gìn những giá trị bình dị, vẻ đẹp của cáI thân tình, gần gũi,
để ng−ời ta không phảI thảng thốt bởi “những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ”.
Giống hoa bằng lăng nhợt nhạt từ khi mới nở bỗng cháy thẫm lên những bông cuối cùng nh− xác nhận xót xa tr−ớc cáI mong manh chảy trôI của tạo hoá. Nhĩ muốn con trai mình không lặp lại con đ−ờng tới những giá trị đích thực nh− anh đG trảI qua. Day dứt, trăn trở nh− thế âu cũng còn lại đ−ợc gì đó khi nằm xuống để những tảng đất đổ ập xuống chốn không cùng.
--------------------------------------
ðề 14. Phõn tớch hỡnh ảnh con chú Bấc trong truyện ngắn “Tiếng gọi nơi hoang dó”
của nhà văn Giắc Lõn - ủơn.
Trong nghệ thuật văn ch−ơng, miêu tả tâm lí, tình cảm đG là khó (miêu tả tâm lí nhân vật là một b−ớc tiến lớn trong lịch sử văn học), miêu tả tình cảm của một con chó lại càng khó hơn, dẫu rằng trong số các loài vật nuôi, chó đ−ợc coi là loài gần gũi nhất, tình nghĩa nhất đối với con ng−ời.
Thế nh−ng khi Giắc Lân-đơn viết Tiếng gọi nơi hoang d , điều đó d−ờng nh− không gây ra bất cứ một trở ngại nào. Câu chuyện về chú chó Bấc, mọi tâm t−, tình cảm của nó
đ−ợc dựng lên hết sức sinh động, gần gũi đến mức nếu ch−a nắm bắt đ−ợc cốt truyện, bất
chợt đọc một đoạn nào đó, bạn đọc dễ lầm t−ởng nhân vật chính trong truyện là một con ng−ời. Mặc dù câu chuyện đ−ợc kể từ ngôi thứ ba nh−ng có thể coi đó là sự hoá thân toàn vẹn của nhà văn vào nhân vật.
Đoạn trích hầu nh− không có sự kiện nào đáng kể, chỉ là những tâm t−, tình cảm của Bấc đối với chủ, thế nh−ng đây lại là một trong nhiều đoạn văn thành công của tác phẩm. Một phần nguyên do là bởi trong đó, những tâm t−, tình cảm của Bấc đG đ−ợc miêu tả hết sức sâu sắc, thể hiện khả năng quan sát và cảm nhận nhạy bén, tinh tế của nhà văn.
Đoạn mở đầu chỉ có tính chất giới thiệu, nh−ng không vì thế mà kém sức hấp dẫn.
Đó là một thứ tình cảm hoàn toàn mới mẻ mà Bấc ch−a từng cảm thấy bao giờ. Đối chứng cụ thể là mối quan hệ của Bấc với các thành viên trong gia đình thẩm phán Mi-lơ:
− Với những cậu con trai của ông Thẩm, tình cảm ấy "chỉ là chuyện làm ăn cùng hội cùng ph−ờng".
− Với những đứa cháu nhỏ của ông Thẩm, là "trách nhiệm ra oai hộ vệ".
− Với ông Thẩm, đó là thứ "tình bạn trịnh trọng và đ−ờng hoàng".
Trong những mối quan hệ này, Bấc có vị thế hoàn toàn khác với một con chó thông th−ờng. Đó không phải là mối quan hệ của một con vật nuôi đối với chủ mà là mối quan hệ bình đẳng giữa một con ng−ời với một con ng−ời. Nh−ng điều quan trọng nhất là trong khoảng thời gian đó, Bấc ch−a bao giờ cảm thấy một "tình th−ơng yêu sôi nổi, nồng cháy, th−ơng yêu đến tôn thờ, th−ơng yêu đến cuồng nhiệt" nh− tình cảm đối với Thoóc-tơn. Đó là một cách mở đầu thực sự ấn t−ợng.
Trong mối quan hệ với Thoóc-tơn, vị thế của Bấc cũng không thay đổi. Nó tự coi mình là một ng−ời bạn trung thành. Có lẽ điểm mấu chốt tạo nên sự khác biệt trong tình cảm của Bấc chính là cách nghĩ của Thoóc-tơn. Đối với Thẩm phán Mi-lơ và những ng−ời chủ khác, Bấc chẳng qua cũng chỉ là một con vật nuôi mà thôi (nói nh− ngôn ngữ của Bấc thì đó là quan hệ thuần tuý vì công việc), dù nó có lập đ−ợc bao nhiêu chiến tích
đi chăng nữa. Nh−ng Thoóc-tơn thì khác. Anh thực sự coi Bấc nh− một ng−ời bạn và đối xử với nó cũng nh− với một ng−ời bạn.
Những sự việc hằng ngày diễn ra trong mối quan hệ giữa Thoóc-tơn và Bấc đ−ợc tác giả kể lại rất giản dị nh−ng có sức hấp dẫn thật đặc biệt. Những cử chỉ, hành động đ−ợc miêu tả xen kẽ với những chi tiết cụ thể, sinh động cho thấy tình cảm của Thoóc-tơn dành cho Bấc đG v−ợt qua mối quan hệ chủ tớ thông th−ờng. Anh chăm sóc những con chó "nh− thể chúng là con cái của anh vậy". Bấc vốn là một con chó thông minh, nó hiểu những cử chỉ của chủ có ý nghĩa nh− thế nào, bởi vậy, nó cũng đáp lại bằng một tình cảm chân thành nh−ng không kém phần nồng nhiệt. Bản thân nó quá đỗi vui s−ớng, đến độ "t−ởng chừng nh− quả tim mình nhảy tung ra khỏi cơ thể vì quá ngây ngất". Mỗi cử chỉ của Bấc cũng thể hiện quá nhiều ý nghĩa khiến cho Thoóc-tơn cũng nh− muốn kêu lên, t−ởng nh− con chó đang nói với anh bằng lời chứ không phải chỉ qua hành động.
Cách biểu lộ tình cảm của Bấc cũng rất khác th−ờng. Cái cách nó ép hai hàm răng vào tay chủ một lúc lâu cho thấy tình cảm của Bấc dành cho Thoóc-tơn mGnh liệt đến mức nào. Mặt khác, nó lại không hề vồ vập, săn đón nh− những con chó khác mà chỉ lặng lẽ tôn thờ, quan sát chủ theo một cách rất riêng mà chỉ nó mới có thể bộc lộ nh− vậy. Sự giao cảm bằng ánh mắt giữa nó và Thoóc-tơn đG nói lên tất cả sự ng−ỡng mộ, thành kính, tình th−ơng yêu của Bấc đối với ng−ời chủ mang trong mình những tình cảm mà tr−ớc đó nó ch−a từng cảm nhận đ−ợc bao giờ.
Sự gắn bó về tình cảm giữa Bấc và chủ đ−ợc thể hiện sâu hơn trong phần cuối của
đoạn trích. Càng yêu chủ bao nhiêu thì Bấc lại càng sợ mất bấy nhiêu. Bởi vậy, nó luôn bám theo Thoóc-tơn và không rời anh nửa b−ớc. Chi tiết Bấc không ngủ "tr−ờn qua giá
lạnh đến tận mép lều, đứng đấy, lắng nghe tiếng thở đều đều của chủ..." rất sống động, có sức diễn tả lớn hơn cả những lời giGi bày trực tiếp, nó biểu hiện khả năng quan sát và miêu tả rất tinh tế của tác giả.
Sức hấp dẫn của đoạn trích này nói riêng và cả truyện ngắn Tiếng gọi nơi hoang d nói chung đối với bạn đọc còn ở ý nghĩa xG hội sâu sắc mà nó đG gợi lên. Trong cuộc đua tranh khốc liệt để giành giật của cải, giành giật sự sống của con ng−ời, mọi quan hệ tình cảm đều bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Tình cảm, lòng yêu th−ơng sâu sắc giữa Bấc và Thoóc-tơn là lời ca ca ngợi những tình cảm nhân hậu, cao quý, kêu gọi con ng−ời hGy tạm gác lại những đam mê vật chất để h−ớng đến một cuộc sống tốt đẹp, có ý nghĩa hơn.

Tài liệu đính kèm:

  • doctuyen_tap_cac_bai_van_hay_lop_9.doc