Đề cương ôn thi kiểm tra học kỳ I môn Ngữ văn năm học 2010 – 2011

Đề cương ôn thi kiểm tra học kỳ I môn Ngữ văn năm học 2010 – 2011

 Phần văn bản:

1. Phong cách Hồ Chí Minh – Lê Anh Trà

 Tác phẩm:

• Hoàn cảnh sáng tác: Văn bản được trích trong Hồ Chí Minh và văn hóa Việt Nam của tác giả Lê Anh Trà.

• Chủ đề: Bản sắc văn hóa dân tộc kết tinh những giá trị tinh thần mang tính truyền thống của dân tộc. Trong thời kì hội nhập hiện nay, vấn đề giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc càng trở nên có ý nghĩa.

 Nội dung:

 - Sự hiểu biết sâu, rộng về các dân tộc và văn hóa thế giới nhào nặn nên cốt cách văn hóa dân tộc Hồ Chí Minh.

 - Phong cách Hồ Chí Minh là sự giản dị trong lối sống, sinh hoạt hằng ngày, là cách di dưỡng tinh thần, thể hiện một quan niệm thẩm mĩ cao đẹp.

 Nghệ thuật

 - Sử dụng ngôn ngữ trang trọng.

 - Vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt tự sự, biểu cảm, lập luận.

 - Vận dụng các hình thức so sánh, các biện pháp nghệ thuật đối lập.

 Ý nghĩa văn bản: Bằng lập luận chặt chẽ, chứng cứ xác thực, tác giả Lê Anh Trà đã cho thấy cốt cách văn hóa Hồ Chí Minh trong nhận thức và trong hành động. Từ đó đặt ra một vấn đề của thời kì hội nhập: tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời phải giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

2. Đấu tranh cho một thế giới hòa bình – Mác-két

 Tác giả: Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két là nhà văn có nhiều đóng góp cho nền hòa bình nhân loại thông qua các hoạt động xã hội và sáng tác văn học. Ông được nhận Giải thưởng Nô-ben về văn học 1982.

 Tác phẩm: Văn bản được trích trong bài tham luận Thanh gươm Đa-mô-clét của nhà văn đọc tại cuộc họp sáu nước Ấn Độ, Mê-hi-cô, Thụy Điển, Ác-hen-ti-na, Hi-lạp, Tan-da-ni-a tại Mê-hi-cô vào tháng 8 năm 1986.

 Tóm tắt VB: Nhà văn Mác-két đã nêu lên nguy cơ của chiến tranh hạt nhân, chỉ rõ sự tốn kém một cách vô lí để chạy đua vũ trang, trong khi trẻ em bị thất học, bị bệnh tật và thiếu đói. Nhà văn kêu gọi mọi người hãy đấu tranh vì một thế giới hoà bình không có vũ khí hạt nhân.

 Nội dung:

 - Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa toàn nhân loại và sự phi lý của cuộc chạy đua vũ trang.

 - Lời kêu gọi đấu tranh vì một thế giới hòa bình, không có chiến tranh.

 

doc 21 trang Người đăng honghoa45 Ngày đăng 09/05/2020 Lượt xem 152Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương ôn thi kiểm tra học kỳ I môn Ngữ văn năm học 2010 – 2011", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐỀ CƯƠNG ÔN THI KIỂM TRA HỌC KỲ I
MÔN NGỮ VĂN NĂM HỌC 2010 – 2011
Phần văn bản:
1. Phong cách Hồ Chí Minh – Lê Anh Trà
Tác phẩm:
Hoàn cảnh sáng tác: Văn bản được trích trong Hồ Chí Minh và văn hóa Việt Nam của tác giả Lê Anh Trà. 
Chủ đề: Bản sắc văn hóa dân tộc kết tinh những giá trị tinh thần mang tính truyền thống của dân tộc. Trong thời kì hội nhập hiện nay, vấn đề giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc càng trở nên có ý nghĩa.
Nội dung:
	- Sự hiểu biết sâu, rộng về các dân tộc và văn hóa thế giới nhào nặn nên cốt cách văn hóa dân tộc Hồ Chí Minh.
	- Phong cách Hồ Chí Minh là sự giản dị trong lối sống, sinh hoạt hằng ngày, là cách di dưỡng tinh thần, thể hiện một quan niệm thẩm mĩ cao đẹp.
Nghệ thuật
	- Sử dụng ngôn ngữ trang trọng.
	- Vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt tự sự, biểu cảm, lập luận.
	- Vận dụng các hình thức so sánh, các biện pháp nghệ thuật đối lập.
Ý nghĩa văn bản: Bằng lập luận chặt chẽ, chứng cứ xác thực, tác giả Lê Anh Trà đã cho thấy cốt cách văn hóa Hồ Chí Minh trong nhận thức và trong hành động. Từ đó đặt ra một vấn đề của thời kì hội nhập: tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời phải giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. 
2. Đấu tranh cho một thế giới hòa bình – Mác-két
Tác giả: Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két là nhà văn có nhiều đóng góp cho nền hòa bình nhân loại thông qua các hoạt động xã hội và sáng tác văn học. Ông được nhận Giải thưởng Nô-ben về văn học 1982.
Tác phẩm: Văn bản được trích trong bài tham luận Thanh gươm Đa-mô-clét của nhà văn đọc tại cuộc họp sáu nước Ấn Độ, Mê-hi-cô, Thụy Điển, Ác-hen-ti-na, Hi-lạp, Tan-da-ni-a tại Mê-hi-cô vào tháng 8 năm 1986.
Tóm tắt VB: Nhà văn Mác-két đã nêu lên nguy cơ của chiến tranh hạt nhân, chỉ rõ sự tốn kém một cách vô lí để chạy đua vũ trang, trong khi trẻ em bị thất học, bị bệnh tật và thiếu đói. Nhà văn kêu gọi mọi người hãy đấu tranh vì một thế giới hoà bình không có vũ khí hạt nhân.
Nội dung: 
	- Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa toàn nhân loại và sự phi lý của cuộc chạy đua vũ trang.
	- Lời kêu gọi đấu tranh vì một thế giới hòa bình, không có chiến tranh.
Nghệ thuật:
	- Có lập luận chặt chẽ.
	- Có chứng cứ cụ thể, xác thực.
	- Sử dụng nghệ thuật so sánh sắc sảo, giàu sức thuyết phục.
Ý nghĩa VB: Văn bản thể hiện những suy nghĩ nghiêm túc, đầy trách nhiệm của G.G Mác-két đối với hòa bình nhân loại.
3. Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em.
Tác phẩm:
- Quyền sống, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em ngày càng được các quốc gia, các tổ chức quốc tế quan tâm đầy đủ và sâu sắc hơn.
- Văn bản được trích trong Tuyên bố cuả Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em họp ngày 30 tháng 9 năm 1990 tại trụ sở Liên hiệp quốc ở Niu Oóc.
- Văn bản được trình bày theo các mục, các phần.
Nội dung
	- Quyền sống, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em trên toàn thế giới là vấn đề mang tính nhân bản.
	- Những thảm họa, bất hạnh đối với trẻ em trên toàn thế giới là thách thức đối với các chính phủ, các tổ chức quốc tế và mỗi cá nhân.
	- Những thuận lợi lớn để cải thiện tình hình, bảo đảm quyền của trẻ em.
	- Những đề xuất nhằm đảm bảo cho trẻ em được chăm sóc, được bảo vệ và phát triển.
Nghệ thuật:
- Gồm có 17 mục, được chia thành 4 phần, cách trình bày rõ ràng, hợp lý. Mối liên kết lô-gíc giữa các phần làm cho văn bản có kết cấu chặt chẽ.
- Sử dụng phương pháp nêu số liệu, phân tích khoa học.
Ý nghĩa văn bản: Văn bản nêu lên nhận thức đúng đắn và hành động phải làm vì quyền sống, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em
4. Chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ.
Tác giả:
- Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ XVI, người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. 
- Tuy học rộng, tài cao nhưng Nguyễn Dữ tránh vòng danh lợi, chỉ làm quan một năm rồi về sống ở ẩn dật ở quê nhà. 
- Sáng tác của Nguyễn Dữ thể hiện cái nhìn tích cực của ông đối với văn học dân gian.
Tác phẩm:
- Truyền kì mạn lục viết bằng chữ Hán, khai thác các truyện cổ dân gian dã sử, truyền thuyết của Việt Nam. Tất cả gồm 20 truyện.
- Nhân vật mà Nguyễn Dữ lựa chọn để kể ( những người phụ nữ trí thức).
- Hình thức nghệ thuật ( viết bằng chữ Hán, sáng tạo lại câu chuyện dân gian)
Tóm tắt VB: 
Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) là người thuỳ mị, nết na, tư dung tốt đẹp. Nàng lấy chồng là Trương Sinh, một người không có học, tính đa nghi. Trương Sinh đi lính, Vũ nương ở nhà chăm sóc mẹ chồng, nuôi con. Bà cụ qua đời, giặc tan, Trương Sinh trở về. Khi ngồi với con, bé Đản nói rằng có một người cha đêm nào cũng đến “mẹ Đản đi cũng đi, ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Trương ghen, nghi ngờ vợ, mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi. Vũ Nương ra bến Hoàng Giang than thở và tự vẫn. Một đêm bé Đản lại trỏ cái bóng mà bảo là cha mình đến. Trương Sinh lúc ấy mới biết mình ngờ oan cho vợ.
Có một người cùng làng là Phan Lang bị chết đuối nhưng vốn là ân nhân của Linh Phi nên được cứu vào cung nước của rùa thần. Tại đây đã gặp được Vũ Nương. Nàng gửi một chiếc hoa vàng và dặn nếu Trương Sinh nhớ tình cũ thì lập đàn giải oan, nàng sẽ trở về. Phan Lang về gặp Trương Sinh, đưa chiếc hoa vàng. Trương Sinh lập đàn giải oan. Vũ Nương có trở về thấp thoáng trên sông nhưng không thể trở về nhân gian được nữa.
Nội dung
	- Vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương:
	 + Hết lòng vì gia đình, hiếu thảo với mẹ chồng, thủy chung với chồng, chu đáo, tận tình và rất mực yêu thương con.
	 + Bao dung, vị tha, nặng lòng với gia đình.
	- Thái độ của tác giả : phê phán sự ghen tuông mù quáng, ngợi ca người phụ nữ tiết hạnh.
Nghệ thuật:
- Khai thác vốn văn học dân gian.
- Sáng tạo về nhân vật, sáng tạo trong cách kể chuyện, sử dụng yếu tố truyền kì 
- Sáng tạo nên một kết thúc tác phẩm không mòn sáo.
Ý nghĩa văn bản: Với quan niệm cho rằng hạnh phúc khi đã tan vỡ không thể hàn gắn được, truyện phê phán thói ghen tuông mù quáng và ngợi ca vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.
5. Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh – Phạm Đình Hổ.
Tác phẩm:
- Ở thế kỉ XVIII, XIX, sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến Việt Nam đã tác động không nhỏ đến tầng lớp nho sĩ. Trong đó Phạm Đình Hổ là một nho sĩ mang tâm sự bất đắc chí vì không gặp thời.
- Vũ trung tùy bút là tập tùy bút đặc sắc của Phạm Đình Hổ, được viết khoảng đầu đời Nguyễn. Tác phẩm đề cập đến nhiều vấn đề của đời sống như nghi lễ, phong tục, tập quán, những sự việc xảy ra trong đời sống, những nghiên cứu về địa lí, lịch sử, xã hội, 
- Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh là một trong những áng văn xuôi giàu chất hiện thực trong Vũ trung tùy bút.
Tóm tắt VB: 
Năm giáp ngọ, ất mùi (1774-1775) chúa Thịnh Sâm thích ngăm cảnh quanh Tây Hồ. Một tháng ba bốn lần chúa cho binh lính, dân hầu và các nội thần giả đàn bà ngồi bán hàng quanh Hồ Tây. Bọn nhạc công ngồi gần đó chốc chốc lại hòa vài khúc nhạc. Việc xây dựng đình đài chúa cho liên tục. Thuở ấy, bao nhiêu chim quý, đá lạ, chậu hoa cây cảnh đẹp đều phải thu về cho chúa, kể cả cây đa to, cành lá rườm rà chở qua sông huy động biết bao nhiêu người lại còn đánh thanh la rộn ràng đốc thúc. Bọn hoạn quan, cung giám nhờ gió bẻ măng ra ngoài dọa dẫm dân lành, nhà nào có của tốt, đồ đep, xí phần đêm lại mò lấy trộm rồi vu vạ cho nhà đó dấu của tốt không chịu nộp, bắt vạ. Nhà của chính tác giả đã phải chặt đi một cây lê, hai cây lựu đang nở hoa rất đẹp để tránh tai vạ.
Nội dung:
	- Cuộc sống hưởng thụ của Trịnh Sâm:
	 + Thú chơi đèn đuốc, bày đặt nghi lễ, xây dựng đền đài,  Ý nghĩa khách quan của sự việc cho thấy cuộc sống của vua chúa thật xa hoa.
	 + Thú chơi trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh,  Để thỏa mãn thú chơi, chúa cho thu lấy sản vật quý từ khắp kinh thành đưa vào trong phủ.
	- Thói nhũng nhiễu của bọn quan lại:
	 + Thủ đoạn : nhờ gió bẻ măng, vu khống, 
	 + Hành động : dọa dẫm, cướp, tống tiền ,
-Thái độ của tác giả: thể hiện qua giọng điệu, qua một số từ ngữ lột tả bản chất của bọn quan lại.
Nghệ thuật:
- Lựa chọn ngôi kể phù hợp.
- Lựa chọn sự việc tiêu biểu, có ý nghĩa phản ánh bản chất sự việc, con người.
- Miêu tả sinh động : từ nghi lễ mà chúa bày đặt ra đến kỳ công đưa cây quý về trong phủ, từ những âm thanh khác lạ trong đêm đến hành động trắng trợn của bọn quan lại, 
- Sử dụng ngôn ngữ khách quan nhưng vẫn thể hiện rõ thái độ bất bình của tác giả trước hiện thực.
Ý nghĩa văn bản: Hiện thực lịch sử và thái độ của “ kẻ thức giả” trước những vấn đề của đời sống xã hội.
6. Hoàng Lê nhất thống chí (hồi thứ 14) – Ngô gia văn phái.
Bối cảnh lịch sử: Nửa cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, xã hội Việt Nam có nhiều biến động lịch sử: sự khủng hoảng của chế độ phong kiến, mưu đồ của kẻ thù xâm lược.
Tác giả: Ngô gia văn phái gồm những tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì – dòng họ nổi tiếng về văn học bấy giờ - ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai ( nay thuộc Hà Nội ).
Tác phẩm:
- Thể loại : tiểu thuyết chương hồi.
- Là cuốn tiểu thuyết lịch sử có quy mô lớn, phản ánh những biến động lịch sử nước nhà từ cuối thế kỉ XVIII đến những năm đầu thế kỉ XIX.
- Đoạn trích nằm ở hồi thứ mười bốn.
Tóm tắt VB: Được tin báo quân Thanh vàoThăng Long, Bắc Bình Vương rất giận, liền họp các tướng sĩ rồi tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, hạ lệnh xuất quân ra Bắc, thân hành cầm quân vừa đi vừa tuyển quân lính. Ngày ba mươi tháng chạp, đến núi Tam Điệp, vua mở tiệc khao quân, hẹn mùng bảy năm mới vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Bằng tài chỉ huy thao lược của Quang Trung, đạo quân của Tây Sơn tiến lên như vũ bão, quân giặc thua chạy tán loạn. Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, chuồn thẳng về biên giới phía Bắc, khiến tên vua bù nhìn Lê Chiêu Thống cũng phải chạy tháo thân.
Nội dung:
	- Hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ và sức mạnh dân tộc trong cuộc chiến đấu chống xâm lược Thanh qua các sự kiện lịch sử:
	 + Ngày 20, 22,24 tháng 11, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế và xuất quân ra Bắc ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788).
	 + Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc, gặp “người cống sĩ ở huyện La Sơn”(Nguyễn Thiếp), tuyển mộ quân lính, duyệt binh, phủ dụ tướng sĩ ở Tam Điệp.
	 + Diễn biến trận chiến năm Kỉ Dậu (1789) đại phá 20 vạn quân Thanh.
	- Hình ảnh bọn giặc xâm lược kiêu căng, tự mãn, tự chủ, khinh địch và sự thảm bại của quân tướng Tôn Sĩ Nghị khi tháo chạy về nước.
	- Hình ảnh vua quan Lê Chiêu Thống đê hèn, nhục nhã, số phận gắn chặt với bọn giặc xâm lược.
Về nghệ thuật:
- Lựa chọn trình tự kể theo diễn biến các sự kiện lịch sử.
- Khắc họa nhân vật lịch sử (người anh hùng Nguyễn Huệ, hình ảnh bọn giặc xâm lược, hình ảnh vua tôi Lê Chiêu Thống) với ngôn ngữ kể, tả chân thực, sinh động.
- Có giọng điệu trần thuật thể hiện rõ thái độ của tác giả với vương triều nhà Lê, với chiến thắng của dân tộc và với bọn giặc cướp nước.
Ý nghĩa văn bản: Văn bản ghi lại hiện thực lịch sử hào hùng của dân tộc ta và hình ảnh người a ... có món ăn ngon.
- Ý nghĩa văn hoá: 
+ Món ăn đặc sản của người Quảng Nam.
+ Không chỉ xuất hiện trong các lễ hội truyền thống mà đã trở thành món ăn hằng ngày của Người Quảng Nam.
KB: Ý thức giữ gìn nét văn hoá ẩm thực truyền thống. Người đi xa mỗi khi nhớ về món ăn quê nhà không thể không nhớ đến món bánh tráng cuốn thịt heo.
Thuyết minh về văn học: Gồm 2 dạng:
Thuyết minh về thể loại văn học.
Gợi ý làm bài
Ví dụ
MB: Giới thiệu khái quát về thể loại.
TB: 
- Trình bày các yếu tố hình thức của thể loại.
+ Thơ: vần, nhịp, thanh điệu,
+ Truyện: cốt truyện, tình huống, nhân vật,
+ Chính luận: bố cục, luận điểm, phương pháp lập luận.
KB: Tác dụng của hình thức thể loại đối với việc thực hiện chủ đề.
Đề: Thuyết minh về thơ lục bát.
MB: Thể lục bát là thể thơ truyền thống của người Việt.
TB: 
- Số câu, số tiếng: một câu sáu tiếng (lục) đến một câu tám tiếng (bát), tạo thành một cặp lục bát; không hạn định về số câu trong toàn bài.
- Cách gieo vần:
+ Tiếng thứ sáu của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát.
+ Tiếng thứ tám của câu bát vần với tiếng thứ sáu của câu lục tiếp theo và cứ thế lần lượt cho đến hết bài.
- Cách ngắt nhịp: thường là nhịp chẵn: 2/2/2 hoặc 4/4.
- Về luật bằng trắc: tiếng thứ hai thanh bằng, tiếng thứ tư thanh trắc, tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám thanh bằng, còn các tiếng ở vị trí lẻ tự do theo luật “nhất, tam, ngũ bất luận”. Nếu có tiểu đối ở câu lục thì có thể thay đổi thanh.
KB: Thể lục bát sẽ mãi tồn tại mặc cho sự phát triển của những hình thức thơ mới
Thuyết minh về tác phẩm văn học.
Gợi ý làm bài
Ví dụ
MB: Giới thiệu tác giả và hoàn cảnh sáng tác tác phẩm.
TB: 
- Tóm tắt nội dung tác phẩm.
- Giới thiệu đặc điểm nổi bật của tác phẩm:
+ Đặc điểm nội dung.
+ Đặc điểm hình thức nghệ thuật.
KB: Tác dụng của tác phẩm đối với cuộc sống.
Đề 1: Giới thiệu truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao.
MB: Giới thiệu Nam Cao và truyện ngắn “Lão Hạc”
TB: 
- Tóm tắt cốt truyện.
- Đặc điểm nội dung:
+ Bức tranh thu nhỏ về nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
+ Thân phận và vẻ đẹp nhân cách của người nông dân.
- Đặc điểm nghệ thuật:
+ Ngòi bút vừa hiện thực vừa trữ tình: đoạn hiện thực thì kể, tả vừa chọn lọc, vừa tỉ mỉ; đoạn trữ tình thì sâu sắc thấm thía.
+ Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc.
+ Xây dựng tình huống đặc sắc, chi tiết bất ngờ, tăng sức hấp dẫn.
KB: Lão Hạc là truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
Đề 2: Giới thiệu truyện ngắn “Làng” của Kim Lân.
MB: Giới thiệu Kim Lân và truyện ngắn “Làng”
TB: 
- Tóm tắt cốt truyện.
- Đặc điểm nội dung: Truyện kể về diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai:
Tâm trạng nhân vật ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc thực chất là tâm trạng và suy nghĩ về danh dự, lòng tự trọng của người dân làng Chợ Dầu, của người dân Việt Nam. Nhà văn đã khắc hoạ hình tượng nhân vật qua các chi tiết miêu tả:
 + Nỗi đau đớn, bẽ bàng :”cổ họng ông nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân”, nước mắt ông lão giàn ra”.
 + Dáng vẻ, cử chỉ,điệu bộ (cúi gằm mặt, chột dạ, nơm nớp, trống ngực ông lão đập thình thịch...)
 + Nỗi băn khoăn khi ông kiểm điểm từng người trụ lại làng, ông trằn trọc không ngủ được, ông trò chguyện với đứa con út... 
- Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính, tâm trạng ông Hai khác hẳn:
 + Ông hai tươi vui rạng rỡ hẳn lên , chia quà cho các con.
 + Ông Hai đi khoe nhà ông bị giặc đốt cháy.
 - Tình yêu làng của ông Hai như vậy đồng thời là biểu hiện của tình yêu đối với đất nước, với kháng chiến, với cụ Hồ.
- Đặc điểm nghệ thuật:
+ Tạo tình huống truyện gây cấn: tin thất thiệt được chính những người đang đi tản cư từ phía làng Chợ Dầu lên nói ra.
+ Miêu tả tâm lý nhân vật chân thật và sinh động qua suy nghĩ, hành động, qua lời nói đối thoại và độc thoại. 
KB: “Làng” là truyện ngắn tiêu biểu của Kim Lân thể hiện tình cảm yêu làng, tinh thần yêu nước của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp .
Thuyết minh về thiên nhiên:
Gợi ý làm bài
Ví dụ
- Giới thiệu danh lam thắng cảnh (chú ý ấn tượng về sự độc đáo)
- Vị trí địa lí.
- Đặc điểm địa hình.
- Quá trình phát triển (ý nghĩa lịch sử)
- Cảnh quan hiện nay (từng bộ phận, từng khu vực)
- Ý nghĩa văn hoá.
- Giá trị của thắng cảnh đối với quê hương, đất nước, với đời sống tinh thần, tình cảm của con người.
Đề: Giới thiệu về trường em.
MB: Giới thiệu chung về trường.
TB: 
- Tên trường, ngày thành lập, vị trí, diện tích của trường.
- Lịch sử phát triển của ngôi trường.
- Các khu vực của trường.
- Số lượng học sinh, các khối lớp.
- Số lượng giáo viên.
- Các thành tích của trường qua các năm học.
KB: Sự phát triển của trường trong tương lai.
II. Văn tự sự:
Kể chuyện qua hình thức bức thư.
Gợi ý làm bài
Ví dụ
Đề 1: Kể về một việc làm đáng phê phán mà em gặp.
Dạng đề yêu cầu người viết phải hồi tưởng về những thực tế của bản thân đã lùi vào quá khứ và trở thành kỉ niệm. Có nghĩa là vấn đề mình kể đã mang một dấu ấn khó phai trong tâm trí của người kể chuyện. Vì vậy, bóng dáng của quá khứ là một nét đẹp tạo nên tính hấp dẫn của câu chuyện. Khi có dịp viết thư thì kể lại chuyện này. Như vậy, bức thư này có mục đích kể chuyện.
- Lời đầu thư. Lí do kể chuyện.
- Giới thiệu không gian, thời gian xảy ra câu chuyện.
- Diễn biến câu chuyện.
- Ý nghĩa của câu chuyện kể.
Đề 2: Tưởng tượng 20 năm sau, vào một ngày hè, em về thăm lại trường cũ. Hãy viết thư cho một người bạn học hồi ấy kể lại buổi thăm trường đầy xúc động đó.
MB: 
- Một buổi chiều mưa to, em trên đường đi học về.
TB: 
- Cảnh phố phường trong cơn mưa dữ dội.
- Một cụ già đạp xe cọc cạch chới với giữ chiếc mũ sắp tuột khỏi đầu, nhưng chiếc mũ vẫn bay đi.
- Số phận chiếc mũ rơi:
+ Bị dòng xe cộ đè lên bẹp dúm.
+ Mọi người ai cũng thấy chiếc mũ, nhưng ai cũng hối hả với những việc riêng của mình.
+ Ông lão nhiều lần muốn lần ra giữa lòng đường để nhặt chiếc mũ nhưng đều bị dòng xe cộ đánh bật trở lại.
+ Mưa tạnh, ông lão cũng tìm cách đến chỗ chiếc mũ rơi, ông nhặt nó lên, nó không còn là chiếc mũ nữa.
- Hình ảnh ông lão bên chiếc mũ méo mó.
Ngoài phương thức chính là kể, nên kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm và một số thao tác nghị luận như giải thích, bình luận.
KB: 
- Lời chào, lời chúc dành cho bạn và gia đình.
- Họ tên và chữ kí.
======================
MB: 
 - Lí do trở lại thăm trường;
 - Vào lúc nào? 
 - Đi với ai? Đến trường gặp ai?
TB: 
 - Thấy quang cảnh trường như thế nào? Nhớ lại cảnh trường ngày xưa mình học ra sao? 
- Ngôi trường ngày nay có gì khác, những gì vẫn còn như xưa? Những gì gợi lại cho mình những kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò? 
- Trong giờ phút đó, bạn bè hiện lên như thế nào? 
- Cảm xúc khi đến và ra về.
Ngoài phương thức chính là kể, nên kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm và một số thao tác nghị luận như giải thích, bình luận.
KB: 
- Lời chào, lời chúc dành cho bạn và gia đình.
- Họ tên và chữ kí.
Kể chuyện qua hình thức giấc mơ.
Gợi ý làm bài
Ví dụ
Dạng đề yêu cầu người viết phải dùng hình thức giấc mơ để chuyển tải một câu chuyện. Có nghĩa là vấn đề mình kể đã mang một dấu ấn giấc mơ. Vì vậy, bóng dáng giấc mơ là một nét đẹp tạo nên tính hấp dẫn của câu chuyện. Như vậy giấc mơ này có mục đích kể chuyện.
- Có thể giới thiệu giấc mơ trước khi kể, cũng có khi kể xong câu chuyện rồi yếu tố giấc mơ mới được thể hiện.
- Không gian, thời gian xảy ra câu chuyện hợp lí.
- Diễn biến câu chuyện li kì, hấp dẫn.
- Ý nghĩa của câu chuyện kể mang tính nhân văn.
Đề: Giấc mơ gặp lại người thân xa cách lâu ngày.
MB: 
- Một giấc ngủ say,
TB: 
- Cảnh tượng gặp lại người thân xa cách đã lâu.
- Diễn biến cuộc gặp gỡ.
KB:
- Những ấn tượng đọng lại sau khi tỉnh giấc.
Ngoài phương thức chính là kể, nên kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm và một số thao tác nghị luận như giải thích, bình luận.
Kể chuyện với hình thức chuyện kể thông thường.
Gợi ý làm bài
Ví dụ
Dạng đề yêu cầu người viết kể chuyện theo hình thức sáng tạo một câu chuyện thông thường. Nét đẹp tạo nên tính hấp dẫn của câu chuyện phụ thuộc vào khả năng sáng tạo nên một tình huống phát sinh câu chuyện hợp lí, cách kết thúc chuyện bất ngờ, lí thú và ngôn ngữ người kể chuyện sinh động, hấp dẫn.
- Lí do kể chuyện.
- Giới thiệu không gian, thời gian, tình huống xảy ra câu chuyện.
- Diễn biến câu chuyện.
- Ý nghĩa của câu chuyện kể.
Đề: Một lần trót xem trộm nhật kí của bạn.
MB: 
- Tình huống nhìn thấy cuốn nhật kí của bạn và đọc nó.
TB:
- Diễn biến tâm lí tò mò diễn ra với mức độ mạnh hơn so với những nguyên tắc sống đúng đắn mà mình đã từng hiểu. Hai dòng tâm lí này đấu tranh với nhau
- Diễn biến của hành động xem trộm nhật kí
KB:
- Hậu quả của hành vi sai trái và rút ra bài học tự răn mình.
Ngoài phương thức chính là kể, nên kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm và một số thao tác nghị luận như giải thích, bình luận.
Kể chuyện từ một tác phẩm văn học.
Gợi ý làm bài
Ví dụ
Dạng đề yêu cầu người viết phải nhập hồn vào diễn biến câu chuyện đã được nhà văn viết ra trong tác phẩm văn học mà mình đã đọc. Sau đó xác định một “góc nhìn nghệ thuật” để kể lại câu chuyện đã biết đó và xác lập cách thức kể lại sao cho không thay đổi nội dung câu chuyện, nhưng vẫn gợi cho người đọc nó những hứng thú. Vì vậy, nét đẹp tạo nên tính hấp dẫn của câu chuyện chính là sự sáng tạo về việc chọn góc nhìn nghệ thuật mà người viết đã chọn có linh hoạt và thú vị hay không.
- Cụ thể hoá câu chuyện đã đọc dưới hình thức hiện thực như mới.
- Không gian, thời gian diễn ra câu chuyện.
- Diễn biến câu chuyện.
- Ý nghĩa của câu chuyện kể và những liên tưởng đi kèm.
Đề: Trò chuyện với người lính láy xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.
MB: 
- Giới thiệu về tình huống gặp lại ngời chiến sĩ lái xe năm xa (lí do của buổi gặp gỡ).
- Cảm xúc chung. 
TB:
- Kể lại diễn biến cuộc gặp gỡ ấy. Chú ý kết hợp yếu tố nghị luận và miêu tả nội tâm theo dòng tự sự một cách hợp lý. Cần làm nổi bật 2 ý chính:
- Tính chất gian khổ, khốc liệt mà những người lính lái xe Trường Sơn phải chịu đựng trong những ngày kháng chiến chống Mỹ.
- Những phẩm chất cao đẹp của người lính: dũng cảm, hiên ngang, đầy lạc quan, có chút ngang tàng, trẻ trung, sống có lý tưởng, mục đích, có trách nhiệm với Tổ quốc, nhân dân.
Miêu tả người lái xe sau nhiều năm khi chiến tranh đã kết thúc: giọng nói, nụ cười, khuôn mặt, trang phục,
Các yếu tố miêu tả nội tâm và nghị luận được kết hợp: miêu tả những suy nghĩ, tình cảm của bản thân khi gặp gỡ người chiến sĩ lái xe.
KB:
- Những suy nghĩ của em về chiến tranh và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với quá khứ lịch sử của cha anh cũng như đối với hiện tại (làm thế nào để không có chiến tranh? Làm thế nào để giữ gìn hoà bình?).
- Tình huống gặp người chiến sĩ.

Tài liệu đính kèm:

  • docON TAP NGU VAN 9 HOC KI 1.doc