Biện pháp thực hiện đổi mới các hình thức kiểm tra, đánh giá thường xuyên học sinh góp phần tạo hứng thú học tập môn ngữ văn ở trường THCS

docx 16 trang Người đăng Đào Hoa Ngày đăng 18/03/2026 Lượt xem 28Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Biện pháp thực hiện đổi mới các hình thức kiểm tra, đánh giá thường xuyên học sinh góp phần tạo hứng thú học tập môn ngữ văn ở trường THCS", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 1
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN DŨNG
 TRƯỜNG THCS TT NHAM BIỀN SỐ 2
 ******
 BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI
GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TỈNH CHU KỲ 2020-2024
 Tên biện pháp: “BIỆN PHÁP THỰC HIỆN ĐỔI MỚI CÁC HÌNH 
 THỨC KIỂM TRA,
ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN HỌC SINH GÓP PHẦN TẠO HỨNG THÚ 
 HỌC TẬP MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS”
 Họ và tên: Lê Thị Hương Giang
 Môn giảng dạy: Ngữ văn
 Trình độ chuyên môn: Đại học
 Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
 Đơn vị công tác: Trường THCS TT Nham Biền số 2
 Nham Biền , ngày 5 tháng 10 năm 2022 2
 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
 Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng của quá trình dạy học góp phần tạo 
đổi mới thành công cho giáo dục. Đổi mới kiểm tra đánh giá thường xuyên trong dạy 
học môn ngữ văn không có nghĩa là thay thế các hình thức đánh giá đang dùng bằng 
các hình thức hoàn toàn mới lạ mà sử dụng linh hoạt nhiều hình thức kiểm tra đánh 
giá khác nhau cho phù hợp với chương trình, sách giáo khoa và yêu cầu của đổi mới 
phương pháp dạy học trong thời kì đổi mới sách giáo khoa và thời kì chống dịch 
covid.
 Từ trước tới nay kiểm tra, đánh giá vẫn còn là độc quyền của giáo viên, học 
sinh là đối tượng của đánh giá. Việc kiểm tra đánh giá thường xuyên chủ yếu là kiểm 
tra miệng (hỏi - đáp) vào đầu giờ và kiểm tra viết 15 phút. 
 Việc kiểm tra thường tạo cho học sinh một áp lực. Tâm lý lo sợ mình bị kiểm 
tra khiến việc học tập trở nên bắt buộc chứ chưa phải là động lực cố gắng, học sinh 
không có hứng thú nhiều với môn học. Sáng kiến này giải quyết trong vấn đề giảng 
dạy và nâng cao ý thức tự học của học sinh, tạo hứng thú và đánh giá quá trình học 
tập của học sinh THCS.
 Sáng kiến này đã có người nghiên cứu nhưng chưa đầy đủ về các phương pháp 
đổi mới kiểm tra đánh giá trong thời kì học online vì dịch covid và thời đại 4.0 có 
nhiều phần mềm và cách đánh giá rất nhanh và hiệu quả. Sáng kiến này giải quyết 
vấn đề học vẹt, chán học của học sinh và phát huy được năng lực của học sinh.
 Theo quan điểm đánh giá được quy định trong thông tư 26/2020/BGDĐT thì 
đánh giá thường xuyên là cách theo dõi và khích lệ sự tiến bộ của học sinh trong quá 
trình học tập nên sẽ không hạn chế số lần kiểm tra đánh giá thường xuyên. Những 
học sinh được đánh giá nhưng chưa đạt điểm tốt có thể có cơ hội để đánh giá lại bằng 
hình thức khác nhau. 
 Qua thực tế khảo sát học sinh ngay đầu năm học, tôi nhận thấy một bộ phận 
không nhỏ học sinh chưa có hứng thú và sự yêu thích môn học, chưa có ý thức tự 
giác học tập, còn lười học bài, còn rụt rè, không tự tin khi trình bày một vấn đề. Vì 
vậy việc tăng cường kiểm tra đánh giá bằng nhiều hình thức khác nhau sẽ góp phần 
khơi dậy hứng thú học tập, phát huy được các năng lực, phẩm chất của học sinh. 
 Xuất phát từ thực tế nêu trên, tôi xây dựng, triển khai áp dụng biện pháp: “ 
thực hiện đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá thường xuyên học sinh góp phần nâng 
cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS”.
 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
 I-Thực trạng công tác dạy và học môn ngữ văn ở trường THCS TT 
Nham Biền số 2 3
 - Học sinh rất sợ việc kiểm tra đầu giờ và lười học bài cũ, nhàm chán với phương 
pháp gọi đáp hoặc làm ra vở bài tập. Đặc biệt khi học online nếu gọi học sinh đọc bài 
rất mất thời gian, nếu gửi bài qua zalo thì giáo viên phải đọc nhiều mỏi mắt.
 - Học sinh chưa phát huy được hết năng lực của mình, nhiều em rất nhanh và năng 
động tư duy tốt thích tham gia các trò chơi với hình thức vừa chơi vừa học.
 - Nguyên nhân của thực trạng trên: Giáo viên chưa thực sự đầu tư tìm tòi các 
phương pháp, cách thức tổ chức kiểm tra đánh giá sao cho học sinh thể hiện được hết 
năng lực của mình và các em hứng thú với việc học tập nhiều hơn. Hiện nay học sinh 
được tiếp cận nhiều với công nghệ thông tin nên các em thích ứng rất nhanh với các 
phương tiện hiện đại như máy tính, điện thoại. Nhiều giáo viên có tuổi nếu theo 
phương pháp cũ sẽ không thu hút được học sinh nhiều trong quá trình học và kiểm 
tra. 
 - Khảo sát thực tế: Trước khi thực hiện sáng kiến
 + Khảo sát sự yêu thích, hứng thú với môn Ngữ Văn:
 + Kết quả thu được như sau:
 Khối Rất hứng thú Hứng thú Bình thường Không hứng thú
 lớp 9 SL % SL % SL % SL %
 65 HS 20 30,8 15 23 17 26,2 13 20
 +Kết quả của học sinh về hứng thú học tập môn Ngữ Văn sau khi sử dụng 
 sáng kiến:
 Rất hứng thú Hứng thú Bình thường Không hứng thú
 Khối 
 SL % SL % SL % SL %
 lớp 9
 65 HS 37 57 20 30,7 7 10,8 1 1,5
 1. Ưu điểm :
- Học sinh hứng thú với nhiều hình thức kiểm tra, các em có nhiều cơ hội để lấy 
điểm,kích thích được tư duy của các em.
- Học sinh không bị áp lực học thuộc như con vẹt, các em có thể sáng tạo cách học 
bài để nhớ kiến thức lâu hơn.
 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế
 2.1. Giáo viên: Giáo viên chưa tích cực học hỏi công nghệ thông tin, tìm tòi 
những câu hỏi kích thích được tư duy của học sinh, động viên các em kịp thời.
 2.2. Học sinh: Những em lười tư duy sẽ chậm chạp, tham gia rụt rè khi hoạt 
động nhóm.Có em chỉ muốn học vẹt cho nhanh đỡ phải nghĩ. Có em lười học, ứng 
dụng công nghệ kém. 4
- Học sinh chưa đủ điều kiện máy tính, điện thoại để làm bài tập khi cô giao trên 
phần mềm hoặc trực tiếp trên mạng.
 II. Biện pháp
 Trong sáng kiến: “Biện pháp thực hiện đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá 
thường xuyên học sinh góp phần tạo hứng thú trong dạy học môn Ngữ văn ở trường 
THCS”, Tôi xin trình bày một số biện pháp cụ thể như sau:
 Biện pháp 1: Sử dụng hiệu quả hình thức kiểm tra hỏi đáp ở nhiều thời 
điểm khác nhau, kết hợp sử dụng điểm tích lũy “+” trong quá trình kiểm tra, 
đánh giá
 Trước đây, tôi chủ yếu sử dụng hình thức kiểm tra hỏi đáp ở đầu giờ học để 
kiểm tra kiến thức bài cũ và lấy điểm miệng cho học sinh. Tuy nhiên, tôi nhận thấy 
điều đó không còn phù hợp và tạo nên áp lực cho học sinh đầu giờ. Nắm bắt được 
tâm lí học sinh, kết hợp vận dụng quan điểm đánh giá mới, tôi đã sử dụng linh động 
hơn hình thức kiểm tra hỏi đáp trong giờ học hoặc cuối giờ học nhằm tăng khả năng 
vận dụng kiến thức, mở rộng liên hệ thực tế cuộc sống; đồng thời kết hợp nhận xét, 
ghi điểm khích lệ học sinh. 
 Ví dụ: 
 + Khi tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, 
quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em”, sau phần tìm hiểu thực trạng sống của 
trẻ em trên thế giới, tôi đưa ra câu hỏi để học sinh liên hệ thực tế, đồng thời có cái 
nhìn khách quan để tự bảo vệ bản thân trước các vấn nạn xã hội như bạo hành, xâm 
hại tình dục, bắt cóc Câu hỏi tôi đưa ra đó là: Hiện nay trẻ em ở Việt Nam nói 
riêng và thế giới nói chung còn phải chịu những thách thức nào ngoài những thách 
thức nêu trên? Bản thân em sẽ làm gì để tránh trở thành nạn nhân của những vấn nạn 
xấu đó? Học sinh đã phát hiện được những thách thức đối với trẻ em còn là nạn bắt 
cóc, buôn bán trẻ em qua biên giới, nạn bạo hành, xâm hại tình dục trẻ em Từ đó, 
học sinh đã biết đưa ra một số biện pháp để tự bảo vệ bản thân trước những vấn nạn 
xã hội. 
 Trong quá trình dạy học có rất nhiều trường hợp các em có những câu trả lời 
tốt, một nhiệm vụ cô giao mà không phải lúc nào cũng cho các em một điểm số cụ 
thể, hay chỉ dùng lời khen ngợi các em, những trường hợp này thì một điểm “+” trở 
nên phù hợp và có ý nghĩa động viên hơn với các em rất nhiều. 
 Sau một thời gian (tùy giáo viên quy định, có thể là ngày 15 hàng tháng) giáo 
viên sẽ cho các em quy đổi từ các điểm tích mình tích lũy được sang một điểm miệng 
cụ thể (2 điểm “+” = 1 điểm). Với cách thực hiện này thì sẽ kích cầu các em cố gắng 
mà lại không hề gây áp lực về việc bị kiểm tra cho các em.
 Biện pháp 2: Kiểm tra, đánh giá thông qua trò chơi 5
 Giáo viên có thể kiểm tra đánh giá thông qua các trò chơi ngắn ở cuối giờ học 
để khơi dậy được hứng thú học tập, ôn tập kiến thức cũ. 
 Giáo viên có thể kiểm tra, đánh giá qua việc tổ chức các trò chơi nhanh như: 
Hái lộc đầu xuân, vượt chướng ngại vật, giải ô chữ.
 Trước khi chơi, cần chuẩn bị đồ dùng, phương tiện cần thiết, tạo hiệu ứng, hệ 
thống câu hỏi liên quan đến bài học. Để có những trò chơi hấp dẫn, giáo viên phải 
sáng tạo không ngừng đồng thời khuyến khích các em tham gia nhiệt tình. 
 Ví dụ1: 6
 - Trò chơi : chiếc nón kì diệu
 Mỗi ô chữ là 1 câu hỏi, học sinh quay được bao nhiêu điểm mà trả lời đúng
câu hỏi sẽ được số điểm tương ứng và quy ra điểm số theo thang điểm 10. Ví dụ khi 
học xong truyện cổ tích “ Thạch Sanh” giáo viên có thể kiểm tra củng cố và lấy điểm 
với hệ thống câu hỏi và trò chơi chiếc nón kì diệu như sau: 
Câu 1: Truyện cổ tích thường phản ánh cuộc đấu tranh nào trong xã hội? 
A. Cuộc đấu tranh giữa con người và thiên nhiên
B. Cuộc đấu tranh giữa thế giới phàm tục và thế giới thần tiên
C. Cuộc đấu tranh giữa khu vực văn minh và khu vực lạc hậu
D. Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác
Câu 2: Truyện cổ tích thường có yếu tố nào sau đây? 
A. Yếu tố hoang đường, kì ảo
B. Yếu tố khoa học
C. Yếu tố hiện thực
D. Yếu tố gây cười
Câu 3: Kiểu kết thúc có hậu trong truyện cổ tích có ý nghĩa là:
A. Kết hé mở nhiều diễn biến tiếp theo chưa kể hết
B. Kết thúc bất ngờ, khó dự đoán trước
C. Cái thiện thắng cái ác, ở hiền gặp lành, ác giả ác báo
D. Kết không giống trong đời sống thực tế
 Câu 4: Chi tiết mẹ con Lí Thông dù đã được Thạch Sanh tha mạng nhưng vẫn 
 bị sét đánh chết có ý nghĩa gì ? 
A. Cho thấy sức mạnh siêu nhân bí ẩn, không thể lường trước được 
B. Phản ánh quan niệm cái ác sẽ bị trừng trị, kẻ gieo gió phải gặt bão 
C. Giải thích cho sự ra đời của bọ hung 
D. Cảnh báo tai nạn có thể ập tới bất cứ lúc nào 
Câu 5:Thạch Sanh thuộc kiểu nhân vật nào trong truyện cổ tích?
A.Nhân vật ngốc nghếch
B. Nhân vật dũng sĩ có tài năng kì lạ
C.Nhân vật thông minh
D. Nhân vật là động vật
 7
 - Trò chơi giải ô chữ 
 2- Ô chữ gồm 6 chữ cái.
 • Nhân vật Thạch Sanh thuộc kiểu nhân vật nào 
 trong truyện cổ tích?
 •-
 109 786 453210
 DŨNGSĨ
 Biện pháp 3: Sử dụng phiếu đánh giá chi tiết bài nói, thuyết trình, huy 
động học sinh cùng tham gia đánh giá
 Trước đây, khi đánh giá, nhận xét bài nói, thuyết trình của học sinh, học sinh 
và giáo viên chủ yếu chỉ đánh giá bằng miệng, đưa ra những nhận xét sơ lược về hình 
thức và nội dung trình bày. Vì vậy, việc đánh giá đôi khi còn cảm tính, chủ quan. Bởi 
vậy khi sử dụng phiếu đánh giá với các tiêu chí cụ thể, học sinh sẽ tự đánh giá lẫn 
nhau hiệu quả, từ đó tự rút kinh nghiệm cho mình để trình bày bài nói, thuyết trình 
đạt kết quả cao hơn. Đồng thời, giáo viên có thể dựa vào phiếu đánh giá của học sinh, 
kết hợp với phiếu đánh giá của mình để làm căn cứ khách quan đánh giá bài thuyết 
trình của học sinh được hiệu quả hơn. 
 PHIẾU ĐÁNH GIÁ BÀI NÓI, THUYẾT TRÌNH
 Tên chủ đề: ..
Nhóm/cá nhân trình bày: Lớp .
 Nội Điểm Điểm 
 dung Tiêu chí đánh giá tối đa đánh Nhận xét
 đánh giá giá
 Có đầy đủ các phần mở 1
 Hình đầu, giới thiệu, nội dung và 
 thức, kết thúc 
 nội Phần nội dung trình bày 5
 dung chính xác, hấp dẫn
 trình 
 bày
 Trình bày rõ ràng, lưu loát, 1
 Phong trôi chảy 8
 cách Phong thái tự tin, sử dụng 1
 trình kết hợp ngôn ngữ cơ thể (tư 
 bày thế, ánh mắt, nét mặt, cử 
 chỉ).
 Công cụ Sử dụng công cụ hỗ trợ phù 1
 thuyết hợp, sáng tạo (diễn kịch, 
 trình tranh ảnh, sơ đồ )
 Đảm Thời gian tối đa phút 1
 bảo thời (Quá thời gian trừ điểm)
 gian
 Tổng điểm 10
 Tôi đã sử dụng phiếu đánh giá trên để đánh giá:
 + Bài nói của học sinh trong các tiết luyện nói ở lớp 6
 + Phần nói của học sinh trong Tiết Luyện nói ở lớp 9: Tự sự kết hợp với nghị 
luận và miêu tả nội tâm với đề bài: Đóng vai Trương sinh kể lại truyện và bày tỏ 
niềm ân hận. 
 Học sinh rất hào hứng vì được tập làm Ban giám khảo, đánh giá bài nói của 
bạn, từ đó tự rút kinh nghiệm cho mình để lần trình bày sau được tốt hơn. 
 Biện pháp 4: Kiểm tra, đánh giá thường xuyên thông qua sản phẩm học 
sinh làm được khi áp dụng kiến thức vào thực tiễn (Sơ đồ tư duy, tranh minh 
họa cho tác phẩm )
 Theo quan điểm dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của 
người học, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện 
kiến thức đã học làm trọng tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả học tập theo 
phẩm chất năng lực là chú trọng vào khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những 
tình huống ứng dụng khác nhau. Bởi vậy, giáo viên có thể đánh giá những sản phẩm 
học tập của học sinh như sơ đồ tư duy, tranh minh họa cho tác phẩm, từ đó nuôi 
dưỡng hứng thú cho học sinh và quan trọng hơn là tăng cường sự tự giác trong học 
tập. Điều này vô cùng quan trọng đóng góp vào sự thành công của học sinh trong 
tương lai.
 Sau mỗi bài học hay chủ đề, giáo viên có thể yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy 
khái quát bài học. Giáo viên đưa ra một từ khóa trung tâm thể hiện chủ đề của đơn vị 
kiến thức các em đã học, yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy thông qua câu hỏi gợi ý. 
Trên cơ sở từ khóa ấy kết hợp với câu hỏi định hướng của giáo viên, học sinh sẽ vẽ 
sơ đồ tư duy theo yêu cầu. Giáo viên lưu ý học sinh khi vẽ sơ đồ cần chú ý triển khai 9
đầy đủ ý chính, không dùng các câu, đoạn quá dài, nên thể hiện các ý bằng cụm từ 
ngắn gọn.
 Ví dụ: Cho từ khóa “Truyện Kiều”, em hãy vẽ sơ đồ tư duy giới thiệu nguồn 
gốc, thể loại và giá trị của Truyện Kiều; Cho từ khóa “Đồng chí” em hãy vẽ sơ đồ về 
hệ thống kiến thức về bài thơ. Giáo viên nhận xét cách vẽ sơ đồ tư duy của học sinh, 
ghi điểm.
 Ngoài ra, giáo viên có thể khuyến khích học sinh vẽ tranh minh họa cho tác 
phẩm để khơi dậy sự sáng tạo cho các em. Học sinh có thể dựa vào các bức tranh 
minh họa ở sách giáo khoa để phóng thành bức vẽ khổ giấy lớn hơn, hoặc tự sáng tạo 
theo cảm nhận của bản thân. Học sinh có thể vẽ các poster minh họa cho các tác 
phẩm. 10
 Ví dụ ở khối 8 : Sau khi học xong văn bản” Tức nước vỡ bờ” và các tác phẩm 
văn học Việt Nam trước 1945 học sinh có thể vẽ tranh, poster về các nhân vật văn 
học hoặc làm hồ sơ về các nhân vật văn học cho dễ nhớ và tạo hứng thú cho các em 
có năng khiếu và tư duy tốt. 11 12 13 14
 Biện pháp 5: Sử dụng hiệu quả sổ cá nhân theo dõi, đánh giá học sinh 
 Giáo viên trực tiếp ghi vào sổ các thông tin cần thiết theo quy định. Ở cột nhận 
xét sự tiến bộ, ưu điểm nổi bật, hạn chế của học sinh giáo viên lựa chọn ghi cho đủ 
thông tin cần thiết để theo dõi học sinh trong cả học kì có tiến bộ hay ưu, khuyết 
điểm gì nổi bật để kịp thời điều chỉnh.
 PHẦN C: MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP
 + Tổng hợp các công việc đã làm
 - Bước 1: Thiết kế, trình bày ý tưởng
 + Các nội dung thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá được áp dụng thực tế 
đối với học sinh khối lớp 9. 
 + Tham vấn đóng góp của đồng nghiệp.
 - Bước 2: Áp dụng thử nghiệm, điều chỉnh
 + Căn cứ kết quả khảo sát, tiến hành điều chỉnh.
 + Bổ sung, làm mới nội dung cho phù hợp đối tượng.
 - Bước 3: Đánh giá, hoàn thiện
 + Qua kết quả khảo sát, tiến hành đánh giá và hoàn thiện, bổ sung.
 * Kết quả khi thực hiện giải pháp 
 - Đối với học sinh: 
 + Việc kiểm tra, đánh giá được tiến hành thường xuyên, kết hợp với quá trình 
dạy học vì vậy thái độ học tập của các em mang tính tự giác, hứng thú, không còn tư 
tưởng học chỉ để đối phó. 
 + Năng lực học sinh được phát hiện kịp thời, được khuyến khích bộc lộ và 
phát triển, nhất là năng lực vận dụng và giải quyết các vấn đề thực tiễn và năng lực tư 
duy sáng tạo.
 + Học sinh được tham gia trực tiếp vào quá trình kiểm tra đánh giá nên bước 
đầu có khả năng đánh giá, tự đánh giá.
 + Kết quả kiểm tra, đánh giá có tính chất phân loại được học sinh, từ đó có thể 
giúp giáo viên và học sinh điều chỉnh quá trình dạy- học.
 Ý kiến của học sinh về hứng thú học tập môn Ngữ Văn sau khi sử dụng biện 
 pháp:
 Rất hứng thú Hứng thú Bình thường Không hứng thú
Khối 
 SL % SL % SL % SL %
lớp 9
65 HS 37 57 20 30,7 7 10,8 1 1,5
 Như vậy, qua bảng thống kê có thể thấy hứng thú của học sinh đối với môn 
Ngữ Văn sau khi thực hiện biện pháp đổi mới kiểm tra đánh giá đã có sự tăng lên. Tỉ 15
lệ học sinh không hứng thú với bộ môn giảm từ 20 % xuống còn 7,6 %. Đây là một 
dấu hiệu đáng mừng vì khi học sinh có hứng thú, có sự cố gắng sẽ tạo động lực góp 
phần cải thiện dần chất lượng học tập. 
 Thống kê điểm kiểm tra đánh giá thường xuyên của học sinh:
 Điểm Điểm
 Lớp Sĩ số Điểm Giỏi Điểm Khá Trung bình Yếu, kém 
 9A 33 2 18 11 2
 9B 32 15 17 0 0
 Tổng 65 17 35 11 2
 - Đối với giáo viên: Giáo viên nhanh chóng nắm bắt được tình hình học tập 
của lớp, chủ động sáng tạo, tìm ra các biện pháp để nâng cao chất lượng.
 PHẦN D: CAM KẾT
 Sáng kiến được áp dụng trước tiên tại trường THCS TT Nham Biền số 2 trong 
quá trình giảng dạy tại trường và mong muốn chia sẻ với các đồng nghiệp địa bàn 
huyện Yên Dũng. Đặc biệt trong tình hình hiện nay vừa kết hợp học trực tiếp với trực 
tuyến hình thức kiểm tra miệng rất phong phú qua các phần mềm trò chơi tạo cho 
học sinh nhiều hứng thú khi các em học trực tuyến và giáo viên vẫn có thể kiểm tra 
được học sinh.
 Tôi xin cam kết không sao chép và vi phạm bản quyền của ai, các số liệu về sự 
tiến bộ của học sinh là thật. Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
 Nham Biền, ngày 5 tháng 10 năm 2022
 GIÁO VIÊN
 (ký và ghi rõ họ tên)
 Lê Thị Hương Giang
PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG
1. Đánh giá, nhận xét của tổ/ nhóm chuyên môn
 . 16
 TỔ/NHÓM TRƯỞNG CHUYÊN MÔN
 (ký và ghi rõ họ tên)
2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng
 . 
 .. 
 THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
 (ký và đóng dấu)

Tài liệu đính kèm:

  • docxbien_phap_thuc_hien_doi_moi_cac_hinh_thuc_kiem_tra_danh_gia.docx