Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá cấp tỉnh môn Giáo dục công dân 9 ở huyện Yên Dũng (Thành phố Bắc Giang)

docx 16 trang Người đăng Đào Hoa Ngày đăng 18/03/2026 Lượt xem 24Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá cấp tỉnh môn Giáo dục công dân 9 ở huyện Yên Dũng (Thành phố Bắc Giang)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 1
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 ––––––––––––––––––––
 THUYẾT MINH 
 MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh 
giỏi văn hoá cấp tỉnh môn Giáo dục công dân 9 ở huyện Yên Dũng (Thành phố 
Bắc Giang).
2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Tháng 9 năm 2023
3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không
4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm 
4.1. Thực trạng chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá cấp tỉnh môn GDCD 
ở huyện Yên Dũng.
 Dựa vào tình hình thực tế của học sinh và bản thân trong quá trình giảng dạy và 
học tập trên lớp tại trường THCS tôi nhận thấy: Với môn GDCD, nhiệm vụ bồi dưỡng 
học sinh giỏi là công việc rất khó khăn, đòi hỏi nhiều công sức của giáo viên và học sinh, 
nhiệm vụ đó được thực hiện thông qua việc dạy học những kiến thức trên lớp cũng như 
sự liên thông có cơ sở nền tảng là đối tượng học sinh phải có năng lực học tốt các môn 
khoa học xã hội. Hơn thế, học sinh phải có sự yêu thích, say mê học bộ môn.
4.1.1. Ưu điểm:
 Đây là bộ môn kiến thức rất phong phú, gắn với thực tế tạo sự hứng thú để học 
sinh đi tìm hiểu. 
 Học sinh trong đội tuyển có sự say mê, yêu thích bộ môn. Học sinh có chữ viết 
sạch sẽ, dễ nhìn, lực học từ khá trở lên. Bản thân các em trong đội tuyển có nền tảng 
tốt về các môn xã hội đặc biệt là môn Văn. Học sinh chăm chỉ, biết nghe lời, biết chủ 
động học tập mọi lúc mọi nơi. 2
 Ban giám hiệu các nhà trường rất tạo điều kiện cho chuyên môn, đầu tư về cơ sở 
vật chất và thời gian cho việc bồi dưỡng.
 Bản thân tôi là một giáo viên được phân công giảng dạy theo đúng chuyên ngành 
được đào tạo, được học hỏi kinh nghiệm, các phương pháp ôn luyện và được sự trợ 
giúp về tài liệu từ các đồng nghiệp của tổ bộ môn GDCD THCS của huyện. 
4.1.2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế: 
4.2.1. Về phía giáo viên:
 Từ năm học 2021 – 2022 tôi nhận nhiệm vụ công tác, giảng dạy tại trường THCS 
thị trấn Nham Biền số 1 và đảm nhận việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn 
GDCD của huyện Yên Dũng tham dự kì thi chọn học sinh giỏi văn hoá cấp tỉnh. Do 
thời gian công tác giảng dạy tại trường THCS thị trấn Nham Biền số 1 chưa nhiều, 
kinh nghiệm giảng dạy ở cấp THCS còn hạn chế nên việc bồi dưỡng cũng gặp nhiều 
khó khăn.
 Môn GDCD không có nhiều nguồn tài liệu phục vụ cho công tác ôn thi học sinh 
giỏi. Do vậy, mỗi giáo viên phải tự tìm tòi, nghiên cứu, sưu tầm tư liệu để phục vụ 
công tác này. 
 Chính những lí do trên làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thi học sinh giỏi 
qua các năm. Kết quả thi học sinh giỏi môn GDCD tuy đã đạt được một số kết quả nhất 
định nhưng chưa cao. 
4.2.2. Về phía học sinh:
 Ở nhiều trường trung học cơ sở, học sinh có quan niệm môn GDCD là môn học 
phụ, môn học thuộc lòng, không phải tư duy, không cần đọc thêm tài liệu tham khảo. 
Vì vậy học sinh chỉ học một cách hời hợt theo nội dung vở ghi, ít và thiếu phần mở 
rộng, liên hệ. Kết quả là các em không nắm chắc các kiến thức trọng tâm, câu hỏi mở 
rộng, nâng cao không giải quyết được.
 Học sinh đội Dự tuyển học sinh giỏi GDCD (ở giai đoạn 1) và đội tuyển học sinh 
giỏi chính thức (ở giai đoạn 2) là các em đến từ nhiều trường THCS trong huyện. Trong 3
đó có không ít các em nhà xa so với trường THCS thị trấn Nham Biền số 1 (nơi UBND 
huyện và PGD huyện đặt địa điểm bồi dưỡng) nên việc đi lại tham gia học tập của các 
em gặp không ít khó khăn.
 Là năm học cuối cùng của bậc THCS các em với nhiệm vụ và mục tiêu là thi đỗ 
vào lớp 10 THPT nên thời gian ôn luyện và tập trung cho đội tuyển hạn chế. Theo định 
hướng của gia đình, học sinh càng chú trọng hơn tới các môn học liên quan tới các kì 
thi tuyển sinh vào lớp 10 - THPT, vì thế môn GDCD lại càng không được quan tâm 
đến. Một số ít em có học lực tốt chỉ muốn tham gia ôn thi học sinh giỏi các môn chính 
như Toán, Văn, Anh, ... Các em không muốn tham gia bồi dưỡng môn GDCD. Thực 
tế có một số em muốn tham gia đội tuyển học sinh giỏi môn GDCD nhưng bố mẹ không 
đồng ý vì họ cho rằng mất thời gian cho môn học này là không cần thiết. Bên cạnh đó, 
nó còn làm ảnh hưởng đến tâm lý, sự tự tin của những học sinh muốn tham gia đội 
tuyển bởi các em sợ bị coi thường, thậm chí là ngại vì thi môn GDCD. Chính vì vậy 
chất lượng đội tuyển chưa cao.
 Cụ thể, kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn GDCD 9 của đội tuyển học sinh giỏi 
môn GDCD của huyện Yên Dũng năm học 2021 – 2022 và 2022 - 2023 khi chưa đưa 
biện pháp vào áp dụng như sau:
 Năm học Số học sinh dự thi Kết quả đạt được Tỉ lệ (%)
 2021 – 2022 08 01 giải Khuyến khích 12,5%
 2022 - 2023 08 02 giải Ba và 01 giải 37.5%
 Khuyến khích
4.2.3. Nguyên nhân khách quan
 Qua trao đổi với các đồng nghiệp trong huyện và các huyện khác trong tỉnh cũng 
như qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy có một số nguyên nhân sau:
 Một là, chương trình chính khóa quá nhiều môn, thêm vào đó các em lại tham gia 
bồi dưỡng học sinh giỏi nên rất hạn chế về thời gian tự học, tự nghiên cứu. 4
 Hai là, xã hội phát triển, có quá nhiều trò chơi giải trí như games, chát qua mạng, 
tin nhắn điện thoại đã ảnh hưởng rất lớn đến việc học của các em.
 Ba là, tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi không có nhiều. Tuy nhiên các tài liệu đó 
đơn thuần chỉ chứa đựng nội dung kiến thức thuần tuý, chưa có tài liệu đề cập đến kinh 
nghiệm, cách thức, phương pháp, các kĩ năng làm bài GDCD một cách cụ thể để giúp 
giáo viên dễ dàng tiếp cận. Do đó công tác bồi dưỡng học sinh giỏi thường gặp khó 
khăn, kết quả còn thấp, chưa ổn định.
 Bốn là, thực tế hiện nay môn GDCD ít được học sinh, phụ huynh chú trọng đầu 
tư và cho rằng đây là môn học phụ khó xác định nghề nghiệp trong tương lai. Do đó 
việc hình thành đội tuyển học sinh có năng khiếu học tập bộ môn rất khó khăn. Đa số 
học sinh lựa chọn, tham gia bồi dưỡng các môn học khác, đội tuyển GDCD phải chọn 
sau điều đó ảnh hưởng không nhỏ công tác bồi dưỡng và chất lượng của đội tuyển.
 Mặt khác, học sinh chưa bắt kịp với sự đổi mới phương pháp dạy học theo hướng 
phát triển năng lực, chưa chủ động và linh hoạt trong bồi dưỡng.
5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến.
 Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi các môn văn hóa cấp tỉnh hàng năm là một 
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các đơn vị huyện, thành phố trong việc tạo nguồn 
lực, bồi dưỡng nhân tài
 Bồi dưỡng học sinh giỏi có tác dụng thiết thực trong việc nâng cao trình độ 
chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ các thầy cô giáo, nâng cao thành tích của các nhà 
trường, các đơn vị huyện, thành phố tạo ra động lực trong học tập cho học sinh.
6. Mục đích của giải pháp sáng kiến. 
 Việc áp dụng giải pháp, sáng kiến sẽ góp phần khắc phục cách thức giảng dạy, 
bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi thụ động “thầy đọc, trò chép”, học thuộc thụ động, 
máy móc mà thiếu sự sáng tạo ở học sinh.
 Giải pháp, sáng kiến khi được áp dụng sẽ dần định hình các phương pháp giảng 
dạy, bồi dưỡng có hệ thống, hiệu quả cũng như hình thành cách học tập tích cực, chủ 5
động, sáng tạo ở học sinh. Qua đó góp phần nâng cao thành tích, mang lại hiệu quả rõ 
rệt trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh môn GDCD 9 của huyện Yên Dũng. 
7. Nội dung:
7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến. 
7.1.1. Biện pháp 1: Phát hiện và tuyển chọn nhân tố cho đội tuyển học sinh giỏi.
 Có thể nói công tác phát hiện và tuyển chọn nhân tố cho đội tuyển học sinh giỏi 
cấp tỉnh có vai trò quan trọng được ví như việc chọn giống để gieo trồng của người 
nông dân. Nếu người giáo viên bồi dưỡng lựa chọn được nhiều học sinh có năng lực, 
khả năng tư duy tốt sẽ gó phần không nhỏ trong việc quyết định thành công của cả quá 
trình bồi dưỡng và kết quả dự thi của học sinh sau này. Theo tôi, để chọn được đúng 
đối tượng học sinh phù hợp với bộ môn mình phụ trách bồi dưỡng cần phải có một số 
sự chuẩn bị như sau:
7.1.1.1. Nghiên cứu hồ sơ lý lịch của học sinh. 
 Tìm hiểu kết quả học tập, ý thức học tập, mức độ say mê tìm tòi muốn khám phá 
sự yêu thích bộ môn, ý thức sưu tầm tài liệu tham khảo, khả năng phát hiện kiến thức, 
tư duy ở học sinh (ở đây cần sự tham khảo ý kiến của đồng nghiệp là các thầy cô phụ 
trách học sinh các nhà trường THCS trong huyện).
7.1.1.2. Sau quá trình nghiên cứu hồ sơ lý lịch của học sinh đội dự tuyển kết hợp 
với sự phát hiện học sinh có khả năng tư duy tốt, tôi chọn đội dự tuyển.
 + Tôi gặp gỡ, trao đổi, chuyện trò với các em học sinh đội dự tuyển để kiểm tra 
bước đầu về mặt ý thức học tập của các em, tôi thường phải sử dụng biện pháp “ dân 
vận “ trao đổi với phụ huynh học sinh, bạn bè của đối tượng, giáo viên chủ nhiệm, giáo 
viên phụ trách bộ môn của các em ở các nhà trường để hiểu và kịp thời giải quyết 
những vấn đề các em gặp phải (nếu có)
7.1.1.3. Kiểm tra chất lượng học sinh trong đội dự tuyển
 + Sau khi hoàn thiện các bước trên, tôi tiến hành kiểm tra chất lượng học sinh 
trong đội dự tuyển để phân loại trình độ của học sinh trong đội tuyển (Đối tượng cần 6
uốn nắn về cách trình bày hay các diễn đạt hoặc kiến thức, ) để có kế hoạch bồi 
dưỡng phù hợp.
7.2. Biện pháp 2: Lựa chọn, sưu tầm tài liệu và hệ thống nội dung kiến thức.
 Việc lựa chọn, sưu tầm tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi là khâu rất quan trọng, 
bởi vậy giáo viên phải chịu khó tìm tòi sưu tầm, đa dạng hóa các dạng bài tập từ cơ 
bản đến nâng cao thuộc khối THCS của các nhà xuất bản, các nguồn tài liệu trên mạng 
internet, các nguồn đề thi của các đơn vị huyện, tỉnh khác phù hợp với trình độ học 
sinh và yêu cầu phạm vi kiến thức của Sở Giáo dục và đào tạo. Nói chung để chuẩn bị 
tốt cho bài giảng của mình, tôi phải luôn phải chủ động tự trau dồi kiến thức và tự bồi 
dưỡng đúc rút kinh nghiệm cho bản thân.
 Sau khi có nguồn tài liệu việc quan trọng tiếp theo đó chính là khâu hệ thống 
kiến thức theo từng nhóm chuyên đề, theo từng mức độ kiến thức để giúp truyền tải 
đến học sinh sao cho logíc, dễ hiểu và man lại hiệu quả trong quá trình ôn tập sau này 
của học sinh.
7.3. Biện pháp 3: Lập kế hoạch bồi dưỡng
 Trước khi lập kế hoạch bồi dưỡng, tôi thường trao đổi với Ban giám hiệu nhà 
trường, đại diện PGD và UBND huyện để lên thời khóa biểu hợp lý cho công tác bồi 
dưỡng. Việc lập kế hoạch khoa học sẽ tạo điều kiện cho các em và giáo viên sắp xếp 
thời gian hợp lí dành cho bộ môn ôn thi và các công việc khác, tạo điều kiện cho các 
em có thể theo học. 
 Kế hoạch bồi dưỡng phải thể hiện rõ các khoảng thời gian dự kiến dạy học cũng 
như kiểm tra, khảo sát đối với từng chuyên đề bồi dưỡng.
 Ngoài ra, trong kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi tôi cũng chú trọng đến từng 
nhóm học sinh trong đội để giúp các em có lực học tốt phát huy được khả năng của 
mình cũng như giúp các em có lực học yếu hơn khắc phục những hạn chế của bản thân 
để hoàn thiện hơn. Qua đó góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các nhóm học sinh trong 
đội tuyển đồng thời tạo ra sự đồng đều giữa các học sinh trong đội tuyển. 7
 Hình ảnh: Lãnh đạo PGD TP. Bắc Giang và BGH trường THCS Nham Biền số 1 đến động 
 viên và trao học bổng cho học sinh đội tuyển HSG GDCD.
7.4. Biện pháp 4: Xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi.
 Xây dựng chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những yếu tố quan 
trọng để người giáo viên xác định được nhiệm vụ của mình dạy cho học sinh nội dung 
gì và dạy như thế nào?
Để thực hiện nhiệm vụ này, tôi đã căn cứ vào:
 + Kế hoạch, nội dung giới hạn kiến thức thi học sinh giỏi môn GDCD lớp 9 của 
Sở GD-ĐT Bắc Giang.
 + Cấu trúc đề thi các năm học trước mà Sở giáo dục đào tạo đã tổ chức.
Với kinh nghiệm của nhiều năm qua, tôi đã xây dựng hệ thống chủ đề bồi dưỡng học 
sinh giỏi như sau:
 + Các chuyên đề giáo dục đạo đức.
 + Các chuyên đề giáo dục kĩ năng sống.
 + Các chuyên đề giáo dục kinh tế.
 + Các chuyên đề giáo dục pháp luật.
 + Các vấn đề nghị luận xã hội.
Ở mỗi chuyên đề giảng dạy tôi cung cấp kiến thức cơ bản và kiến thức nâng cao.
Cụ thể: 8
* Về kiến thức cơ bản:
+ Các chuyên đề giáo dục đạo đức: Hình thành ở học sinh các kiến thức cơ bản theo 
hệ thống từ khái niệm, biểu hiện, ý nghĩa, cách rèn luyện các phẩm chất đạo đức.
+ Các chuyên đề giáo dục kĩ năng sống: Giúp học sinh năm được khái niệm, biểu hiện, 
cách phòng tránh, thực hiện cũng như trách nhiệm của học sinh. 
+ Các chuyên đề giáo dục kinh tế: Giúp học sinh nắm được khái niệm, biểu hiện, ý nghĩa, 
cách thức thực hiện tham gia các hoạt động kinh tế phù hợp với lứa tuổi của các em.
+ Các chuyên đề giáo dục pháp luật: Hệ thống cho học sinh các khái niệm, các quy 
định của pháp luật, trách nhiệm của công dân- học sinh trong việc thực hiện quy định 
pháp luật.
+ Các vấn đề nghị luận xã hội: Giúp các em nắm bắt được các vấn đề xã hội mang tính 
thời sự xảy ra trong cuộc sống hàng ngày và qua đó bày tỏ, thể hiện được ý kiến, quan 
điểm của bản thân đối với những vấn đề cần nghị luận.
* Soạn hệ thống câu hỏi và bài tập nâng cao để luyện đề cho mỗi phần dạy. 
Sau khi dạy xong một chủ đề, một bài GDCD, tôi thường soạn hệ thống câu hỏi và bài 
tập liên quan tới chủ đề đó, yêu cầu học sinh phải dành thời gian để phân tích vấn đề.
Ví dụ: Sau khi dạy xong các chuyên đề giáo dục đạo đức, tôi đưa ra bài tập:
 Nhà văn Victor Hugo đã từng nói: “Hòa bình là đức hạnh của nhân loại. Chiến 
tranh là tội ác”. 
 Hỏi: Quan điểm của em về nhận định trên như thế nào?
Ví dụ: Sau khi dạy xong các chuyên đề giáo dục pháp luật, tôi đã đưa ra tình huống: 
 Tình huống: Nam năm nay 17 tuổi. Sau khi nghỉ học, Nam được một ông chủ 
nhận vào làm việc tại một cơ sở chuyên tái chế các loại ắc quy hỏng. 
Hỏi: a. Em có nhận xét gì về việc sử dụng lao động của ông chủ nơi Nam làm việc?
 b. Tại sao nói: Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân?
+ Cung cấp những kiến thức về pháp luật và hiểu biết xã hội: 9
* Kiến thức về pháp luật.
 Qua một số năm giảng dạy, tôi nhận thấy, ở lớp 9 học sinh được học những kiến 
thức về pháp luật và trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh thì kiến thức về pháp luật 
cũng chiếm số điểm khá nhiều trong mỗi đề thi. Nếu học sinh chỉ nắm kiến thức trong 
sách giáo khoa thì chưa đủ. Giáo viên cần cung cấp, mở rộng cho học sinh các quy 
định của pháp luật liên quan đến nội dung các chủ đề bài học như Hiến pháp, Bộ luật 
Hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Bộ luật Lao động 2019, Luật Phòng cháy 
chữa cháy, và những Điều luật mới được bổ sung. 
 * Những hiểu biết xã hội.
 Những vấn đề xã hội cũng không thể thiếu trong quá trình giảng dạy GDCD và 
đối với việc bồi dưỡng học sinh giỏi. Đây chính là sự mở rộng kiến thức từ bài học và 
sự liên hệ ngoài xã hội của học sinh. Vấn đề xã hội thì nhiều nhưng giáo viên phải biết 
chọn lựa những vấn đề mang tính thời sự mà cả xã hội đang quan tâm như: Vấn đề an 
toàn giao thông, bảo vệ môi trường, văn hóa, tệ nạn xã hội, phòng chống cháy nổ và 
các chất độc hại Năm học nào cũng vậy, các đề thi đều có một phần kiến thức về hiểu 
biết xã hội. Cụ thể: Năm học 2022-2023 đề thi hỏi về suy nghĩ của em về thực trạng 
yêu sớm của học sinh hiện nay. Năm học 2023- 2024 đề thi hỏi về suy nghĩ của em về 
thực trạng bạo lực học đường của học sinh hiện nay. Tôi thấy những vấn đề được hỏi 
trong đề thi đều mang tính thời sự. Chính vì vậy giáo viên dạy cần thường xuyên cập 
nhật những thông tin, kiến thức xã hội để bổ sung cho bài dạy của mình. Việc làm này 
không chỉ phục vụ cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi mà nó còn là việc làm cần 
thiết cho mỗi giờ học GDCD.
7. 5. Biện pháp 5: Xây dựng nhóm chuyên gia để kiểm tra, củng cố kiến thức
 Đây là biện pháp cũng rất quan trọng trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, 
bởi lẽ nếu ta chỉ dạy mà không kiểm tra thì ta sẽ không thể biết được sự tiếp thu kiến 
thức của học sinh đạt đến mức độ nào. Kiểm tra giúp các em rèn kĩ năng làm bài, không 
chỉ vậy nó còn tăng sự cạnh tranh, thúc đẩy ý chí phấn đấu của các em. Việc rút kinh 
nghiệm sau mỗi bài kiểm tra thật sự rất cần thiết, từ những lần rút kinh nghiệm học 10
sinh có thể nhận ra mình còn yếu ở phần nào để có thể khắc phục. 
 Để thực hiện khâu này tôi đã thực hiện xây dựng nhóm chuyên gia là một số em 
có năng lực nổi trội hơn so với các bạn trong đội mục đích để nhận xét, đánh giá các 
sản phẩm, bài tập, cách trình bày của các bạn nhóm khác trong đội. Qua đó góp phần 
củng cố, khắc phục những hạn chế mà học sinh trong đội gặp phải đồng thời tạo ra sự 
đồng đều giữa các học sinh trong đội. Nhóm chuyên gia có thể không cố định ở một 
vài em mà có thể xoay vòng giữa các học sinh trong đội vì mỗi em sẽ có những thế 
mạnh riêng mà bạn khác cũng cần học tập để hoàn thiện cho mình. Để kiểm tra có thể 
chuẩn bị nội dung kiến thức phù hợp, có quy định thời gian làm bài, có chấm điểm, có 
khen thưởng nếu các em làm bài tốt, nhưng nếu các em làm bài chưa tốt thì nên động 
viên các em cố gắng hơn lần sau. Giáo viên nên đem đến cho học sinh sự hứng thú đối 
với môn học.
 Trong quá trình kiểm tra và chữa bài tôi không chỉ đơn thuần đưa ra đáp án mà 
để học sinh phân tích, lựa chọn cách làm bài thể hiện sự sáng tạo của bản thân rồi sau 
đó tôi mới góp ý hoàn thiện bài làm. Theo tôi, việc để học sinh trình bày ý kiến của 
mình sau đó các em tranh luận như vậy học sinh sẽ nhớ kiến thức lâu hơn. Nếu bài tập 
khó giáo viên mới giải thích kĩ, việc giáo viên thường xuyên chấm và sửa bài cho học 
sinh để biết các em còn thiếu và yếu ở điểm nào, từ đó có phương án bồi dưỡng, bổ 
sung thêm cho các em.
7.6. Biện pháp 6: Rèn kĩ năng làm bài theo từng dạng bài và chuyên đề.
 Việc giáo viên hướng dẫn học sinh cách làm bài cũng ảnh hưởng không nhỏ đến 
kết quả thi của các em. Tôi thường hướng dẫn học sinh khi nhận được đề thi nên dành 
từ hai đến ba phút để đọc đề. Sau đó đối với cả phần nội dung các câu hỏi trắc nghiệm 
và phần câu hỏi tự luận các em cần gạch chân, đánh dấu lại những từ khoá là trọng tâm 
của câu hỏi nhằm trả lời đúng trọng tâm câu hỏi, câu nào dễ làm trước, câu nào khó 
làm sau, tỉnh táo, tập trung làm bài.
 Một số học sinh vẫn nhầm tưởng việc trình bày giống như môn Ngữ văn. Bài 
viết của các em có bố cục: mở bài, thân bài, kết bài diễn đạt bằng những lời văn hoa 11
mĩ mà quên đi việc trình bày ý. Chính vì thế mà nhiều em học sinh có khả năng viết 
tốt nhưng không có kỹ năng làm bài thi theo đặc trưng bộ môn nên bài làm mất nhiều 
thời gian. Do vậy, việc rèn kĩ năng trình bày bài cũng góp phần giúp các em nhận thức 
được đặc trưng của bộ môn GDCD để trình bày ngắn gọn, đảm bảo đúng, đủ nội dung 
yêu cầu của đề bài tránh lan man, mất thời gian.
 Một điều nữa tôi cũng thường lưu ý cho học sinh khi làm bài là phải phân bố 
thời gian cho từng câu, từng ý hỏi trong đề bài sao cho hợp lý.
 Đặc biệt tôi thường hướng dẫn học sinh cách thức để xác định đúng dạng bài 
để làm:
Ví dụ: Dạng bài kiểm tra kiến thức cơ bản: với hai hình thức hỏi trực tiếp hoặc gián 
tiếp (qua các câu ca dao, tục ngữ, danh ngôn để hỏi về một phẩm chất đạo đức)
Ví dụ 1: Sinh thời, Bác Hồ từng dạy: "Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình 
trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau", "phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ".
 Câu hỏi: Tư tưởng trên của Người muốn nhắc đến phẩm chất đạo đức nào mà em đã 
được học trong chương trình môn GDCD lớp 9? Trình bày hiểu biết của em về phẩm 
chất đạo đức đó.
Ví dụ 2: Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh 
phú quý chút nào. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước 
biếc để câu cá trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, 
không dính líu gì tới vòng danh lợi.” 
 Câu nói trên đề cập đến phẩm chất nào em đã học ở lớp 9? Trình bày ngắn gọn 
nội dung phẩm chất đó.
Ví dụ: Dạng bài tập tình huống:
 Vợ chồng ông Q có hai người con sinh đôi đã 14 tuổi, con trai tên K và con gái 
tên H cùng chuẩn bị bước vào lớp 9. Ông Q yêu quý, chiều chuộng, thường xuyên đáp 
ứng những yêu cầu của K. Đối với H, ông ghét bỏ ra mặt, ít khi mua quà cho và luôn 
yêu cầu H phải chăm sóc, nhường nhịn K. Một hôm, K muốn ông Q mua cho xe đạp 12
điện mới để đi học, ông Q liền đồng ý. Mẹ của H cảm thấy rất buồn và thương con gái 
nhưng nếu ý kiến với ông Q thì ông lại mắng mỏ, thậm chí đánh đập. H biết vậy cũng 
không dám nói gì, chấp nhận đi chiếc xe đạp cũ mà vốn hai anh em vẫn dùng để đi học 
trước đây.
 a. Em có suy nghĩ gì về cách ứng xử của các nhân vật trong tình huống trên?
 b. Em sẽ góp ý như thế nào với mỗi nhân vật?
 c. Pháp luật nước ta quy định người bị bạo lực gia đình có những quyền nào? 
Ví dụ: Dạng bài phân tích, chứng minh:
 Ví dụ 1: Tại sao hiện nay hợp tác quốc tế là nhu cầu tất yếu đối với các nước 
trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng? Để có khả năng hợp tác hiệu quả, học 
sinh cần rèn luyện như thế nào?
 Ví dụ 2: Ngạn ngữ có câu: Ước mơ giống như bánh lái, còn cuộc đời là lộ 
 trình của một con tàu. Bánh lái có thể nhỏ và không nhìn thấy, nhưng nó điều khiển 
 hướng đi của con tàu ấy.
 a. Em hiểu như thế nào về câu ngạn ngữ trên?
 b. Thế nào là người có lý tưởng sống cao đẹp? Em có suy nghĩ gì về lý tưởng sống 
 của thanh niên học sinh hiện nay?
* Kết quả của sáng kiến 
 Từ khi áp dụng “Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh 
giỏi văn hoá cấp tỉnh môn Giáo dục công dân 9 ở huyện Yên Dũng (Thành phố Bắc 
Giang)” vào quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi nhận thấy học sinh có hứng thú với 
môn GDCD hơn trước nhiều, học sinh tự tin làm bài khi gặp các dạng đề khác nhau. 
Kết quả thực hiện của tôi đã được phản ánh một cách tích cực khi tôi tiến hành khảo 
sát, đánh giá kết quả thực hiện biện pháp. Tôi đã tiến hành công tác bồi dưỡng học sinh 
giỏi khi chưa đưa biện pháp vào áp dụng và kết quả học sinh giỏi cấp tỉnh đạt được 
như sau: 13
 Số học sinh dự 
 Năm học Kết quả đạt được Tỉ lệ (%)
 thi
 2021 – 2022 08 01 giải Khuyến khích 12,5%
 02 giải Ba và 01 giải 
 2022 - 2023 08 37.5%
 Khuyến khích
 - Sau khi tôi áp dụng biện pháp vào bồi dưỡng học sinh giỏi tôi thu được kết quả:
 Số học sinh dự 
 Năm học Kết quả đạt được Tỉ lệ (%)
 thi
 Đạt 08 giải cấp tỉnh:
 04 giải Nhì
 2023 – 2024 08 100%
 02 giải Ba
 02 giải Khuyến khích
 Đạt 11 giải cấp tỉnh:
 02 giải Nhì
 2024 - 2025 12 91.7%
 04 giải Ba 
 05 giải Khuyến khích
 Như vậy, năm học 2023 – 2024 với 08 học sinh tham gia dự thi học sinh giỏi cấp 
tỉnh và cả 08 học sinh đều đạt giải (đạt tỉ lệ 100%). Năm học 2024 - 2025 với 12 học 
sinh tham gia dự thi học sinh giỏi cấp tỉnh và có 11/12 học sinh đạt giải (đạt tỉ lệ 91.7%). 
Đội tuyển học sinh giỏi văn hoá bộ môn GDCD huyện Yên Dũng do tôi bồi dưỡng đã 
tăng cả về số lượng và chất lượng giải so với các năm học trước. Điều đó một lần nữa 
khẳng định biện pháp của tôi đưa ra là khả thi và có thể áp dụng trong việc bồi dưỡng 
học sinh giỏi môn GDCD lớp 9 ở các trường THCS, các đơn vị huyện, thành phố.
* Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp 14
UBND Thành phố Bắc Giang tổ chức gặp mặt, động viên các đội tuyển học sinh giỏi văn 
 hoá trước kì thi chọn học sinh giỏi văn hoá cấp tỉnh năm học 2024- 2025
 Kết quả đội tuyển học sinh giỏi môn GDCD của huyện Yên Dũng đạt được năm học 2023- 2024 15
Kết quả đội tuyển học sinh giỏi GDCD của Thành phố Bắc Giang đạt được (sau khi huyện Yên Dũng 
sáp nhập về Thành phố Bắc Giang từ ngày 1/1/2025) năm học 2023- 2024- Trong danh sách là các 
em học sinh thuộc các trường THCS thuộc địa bàn huyện Yên Dũng trước đây 16
1.1.Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến. 
 Giải pháp sáng kiến của tôi được thực hiện trong hai năm học 2023- 2024 và 
2024- 2025 tại huyện Yên Dũng và mang lại kết quả tích cực khi áp dụng đã khẳng 
định hướng đi đúng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá cấp tỉnh bộ môn 
GDCD. Thiết nghĩ với giải pháp sáng kiến này còn có thể áp dụng không chỉ với công 
tác bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá cấp tỉnh bộ môn GDCD mà còn có thể áp dụng đối 
với một số môn KHXH khác như Lịch sử và Địa lí (phân môn Lịch sử) và Lịch sử và 
Địa lí (phân môn Địa lí).
1.2.Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến.
 Giải pháp sáng kiến của tôi khi được áp dụng đã mang lại những lợi ích sau:
 Thứ nhất, giải pháp sáng kiến đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất 
lượng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá cấp tỉnh bộ môn GDCD của huyện 
Yên Dũng trong năm học 2023- 2024 và của thành phố Bắc Giang năm học 2024- 2025 
(khi huyện Yên Dũng thực hiện sáp nhập về thành phố Bắc Giang từ ngày 1/1/2025).
 Thứ hai, việc áp dụng thành công giải pháp sáng kiến đã góp phần định hình 
phương pháp giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá một cách có hệ thống, tích 
cực, chủ động ở giáo viên và phương pháp tiếp nhận, khám phá kiến thức chủ động, 
tích cực và sáng tạo ở học sinh qua đó mang lại hiệu quả rõ rệt cho việc dạy và học.
 Thứ ba, sáng kiến được áp dụng thành công cũng góp phần không nhỏ trong việc 
tạo ra sự hứng thú, say mê của học sinh đối với bộ môn GDCD vốn dĩ là môn học khó 
thu hút học sinh tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi trong những năm học trước đây.
* Cam kết: Chúng tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không sao 
chép hoặc vi phạm bản quyền.
 Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến
 (Chữ ký, dấu) (Chữ ký và họ tên)
 Trần Đức Quý

Tài liệu đính kèm:

  • docxmot_so_bien_phap_nham_nang_cao_hieu_qua_boi_duong_hoc_sinh_g.docx